Dưới ánh sao thu – Under the autumn star (Chương XXIV, XXV, XXVI)

Knut Hamsun

XXIV

Sáng hôm sau tôi hài lòng hơn với mọi thứ. Tôi đã bình thản lại và trở nên biết điều – tôi cam chịu. Giá mà nhìn thấy trước được điều gì tốt nhất cho tôi, hẳn tôi đã làm việc ở nhà ông mục sư, và là người đứng đầu trong số tất cả những người giúp việc. Phải, định cư và bén rễ với một cuộc sống thôn quê lặng lẽ. Fru Falkenberg đang đứng ngoài sân. Thân hình xinh đẹp của nàng trông như một cây cột, đứng đó tự do và thẳng tắp trong sân, và nàng để đầu trần. Tôi chào nàng buổi sáng. “Godmorgen!” nàng đáp lại, và sải bước về phía tôi. Rồi nàng hỏi rất lặng lẽ: “Đêm qua tôi muốn xem họ thu xếp cho anh thế nào, chỉ có điều tôi không thể ra ngoài. Nghĩa là, dĩ nhiên, tôi đã ra ngoài, nhưng… anh không ở trong kho thóc, phải không?” Những từ cuối tới với tôi như thể trong một giấc mơ, và tôi không trả lời. “Này, sao anh không trả lời?” “Vâng… trong kho thóc? Vâng.” “Thế ư? Và mọi thứ hoàn toàn ổn cả?” “Vâng.” “Ồ, tốt, vậy… vâng – vâng. Chúng ta sẽ quay về trong ngày hôm nay.” Nàng quay lưng và bước đi, mặt nàng đỏ bừng… *** Harald tới và yêu cầu tôi làm một con diều. “Một con diều?” Tôi lúng túng đáp. “Phải, tôi sẽ làm cho cậu một con diều thật to, nó sẽ bay tới tận những đám mây. Tôi sẽ làm.” Chúng tôi làm diều trong khoảng hai giờ, Harald và tôi. Cậu ta tốt và nhanh nhẹn, và rất ngây thơ trong sự nôn nóng của mình; về phần mình, tôi nghĩ tới bất cứ thứ gì ngoài những con diều. Chúng tôi làm một cái đuôi dài nhiều mét, và lúi húi dán, vỗ và cột; Frøken Elisabeth bước ra hai lần để xem. Có lẽ nàng vẫn rạng rỡ và ngọt ngào như trước, nhưng tôi không quan tâm tới việc nàng như thế nào và không hề nghĩ tới nàng. Sau đó có lệnh thắng ngựa để chuẩn bị lên đường. Lẽ ra tôi nên tuân lệnh ngay tức khắc, vì chúng tôi còn cả một chặng đường dài trước mặt, nhưng thay vì vậy, tôi cử Harald vào để hỏi xem chúng tôi có thể chờ thêm nửa giờ nữa không. Và chúng tôi làm tiếp cho tới khi hoàn thành con diều. Ngày hôm sau, khi giấy dán đã khô, Harald có thể thả diều và ngắm nó bay lên, và cảm nhận một cảm xúc chưa từng biết trong lòng, như tôi đang cảm thấy lúc này. Sẵn sàng xuất phát. Fruen bước ra; cả nhà đang ở đó để tiễn chân nàng. Cả ông mục sư lẫn bà vợ biết tôi lần nữa, đáp lại lời chào của tôi, và nói vài lời – nhưng lúc này tôi không nghe nói gì về việc phục vụ cho họ. Ông mục sư biết lại tôi – phải; và bà vợ mắt xanh của ông liếc trộm tôi như thể vừa biết lại tôi, dù bà đã biết tôi từ đêm trước. Frøken Elisabeth mang ra một ít thức ăn cho chuyến đi, và trùm thêm áo choàng cho bạn của mình. “Có chắc là chị đủ ấm chưa?” nàng hỏi lần cuối. “Hoàn toàn chắc chắn, cám ơn; với tất cả những thứ này thì quá ấm rồi. Farvel, Farvel.” “Hãy đánh xe tốt như anh đã làm hôm qua nhé, Frøken nói, và gật đầu với tôi. Chúng tôi lên đường. Ngày ẩm và lạnh buốt, và tôi thấy ngay rằng Fruen không đủ ấm với tấm chăn của nàng. Chúng tôi đi hết giờ này sang giờ khác; hai con ngựa biết chúng đang trên đường về nhà, và phi nước kiệu mà không đợi lệnh. Hai bàn tay trần của tôi cứng lại quanh những sợi dây cương. Khi chúng tôi tới gần một ngôi nhà cách con đường một quãng ngắn, Fruen gõ vào cửa sổ để báo hiệu đã tới giờ ăn trưa. Nàng bước ra, và mặt nàng tái xanh vì lạnh. “Chúng ta sẽ đi lên đó để ăn trưa,” nàng nói. “Hãy lên ngay khi anh đã sẵn sàng và mang theo cái giỏ.” Và nàng đi lên đồi. Hẳn là vì lạnh nên nàng chọn việc ăn trong nhà của một người xa lạ, tôi nghĩ bụng; không lý nào nàng lại e sợ tôi… Tôi cột hai con ngựa và cho chúng ăn cỏ khô. Có vẻ như trời mưa, vì thế tôi trùm vải dầu lên người chúng, vỗ về chúng, rồi đi lên ngôi nhà với cái giỏ. Chỉ có một bà cụ ở nhà. “Værsaagod!” bà ta nói và “Mời vào.” Rồi bà ta tiếp tục trông nồi cà phê. Fruen mở giỏ ra và nói mà không nhìn tôi: “Tôi cho là hôm nay tôi lại giúp cho anh?” “Cám ơn nếu cô sẵn lòng.” Chúng tôi ăn trong im lặng, tôi ngồi trên một cái ghế dài cạnh cửa, đĩa đặt trên ghế bên cạnh tôi, Fruen ngồi ở bàn, suốt buổi nhìn ra cửa sổ, và hầu như không ăn gì cả. Thỉnh thoảng nàng trao đổi một lời với bà cụ, hoặc liếc nhìn cái đĩa của tôi xem nó đã hết chưa. Căn nhà nhỏ này khá chật hẹp, từ cửa sổ tới chỗ tôi ngồi chỉ có hai bước chân; vì thế, nói cho cùng, cả bọn chúng tôi đều ngồi cạnh nhau. Khi cà phê đã sẵn sàng, tôi không còn chổ để đặt cốc của mình, nên ngồi cầm nó trên tay. Thế rồi Fruen quay thẳng về phía tôi một cách bình thản và nói với đôi mắt nhìn xuống: “Ở đây có chỗ.” Tôi có thể nghe thấy tiếng tim mình đập, và tôi lẩm bẩm: “Cám ơn, cũng ổn thôi. Tôi muốn…” Không còn ngờ gì rằng nàng thấy khó chịu; nàng sợ tôi sẽ nói điều gì đó. Nàng lại ngồi nhìn đi chỗ khác, nhưng tôi có thể thấy nàng đang thở một cách nặng nhọc. Chà, nàng không cần phải sợ, tôi sẽ không nói lời nào để quấy rầy nàng. Lúc này tôi phải mang cái đĩa và cốc trống đặt lại trên bàn, nhưng tôi sợ làm nàng giật mình khi tới gần, vì nàng vẫn đang ngồi, đầu ngoảnh sang bên. Tôi tạo ra một tiếng động khẽ với cốc đĩa để thu hút sự chú ý của nàng, đặt chúng xuống và cám ơn nàng. Nàng cố lấy giọng của một bà nội trợ: “Anh không ăn thêm chút nữa sao? Tôi chắc là anh không thể…” “Không, cám ơn nhiều… Tôi gói ghém lại các thứ nhé? Nhưng tôi ngờ là tôi không thể.” Tôi tình cờ liếc xuống hai bàn tay của mình; chúng đã sưng phồng một cách kinh khủng trong căn phòng ấm, và lúc này trở nên nặng nề, không hình dáng. Tôi không tài nào gói ghém các thứ với hai bàn tay như thế này. Nàng đoán ra ý nghĩ của tôi, đầu tiên nhìn vào tay tôi, rồi quanh căn phòng, và nói, với một nụ cười mỉm chi: “Anh không có găng tay à?” “Không, tôi chưa bao giờ đeo chúng.” Tôi đi trở lại chỗ của mình, chờ cho tới khi nàng gói ghém xong các thứ để tôi có thể mang cái giỏ xuống. Đột nhiên nàng quay đầu về phía tôi, vẫn không nhìn lên, và hỏi lại: “Anh từ đâu đến?” “Từ Nordland.” Im lặng. Tôi đánh bạo hỏi lại rằng Fruen có từng tới đó chưa. “Có, khi tôi còn bé.” Rồi nàng nhìn đồng hồ đeo tay, như thể để ngăn tôi hỏi thêm bất cứ câu nào, đồng thời ngụ ý rằng đã muộn rồi. Tôi đứng lên ngay lập tức và đi ra chỗ cặp ngựa. Trời đã sụp tối; bầu trời tối hơn, và một trận mưa tuyết nhỏ, ẩm ướt, bắt đầu rơi. Tôi ngấm ngầm lấy tấm chăn từ thùng xe xuống, và giấu nó bên dưới ghế trước bên trong xe; khi làm xong, tôi cho ngựa uống nước và thắng chúng vào xe. Một lúc sau, Fruen xuống đồi. Tôi đi lên để cầm cái giỏ, và gặp nàng ở giữa đường. “Anh đi đâu vậy?” “Để lấy cái giỏ.” “Anh không phải bận tâm, cám ơn; không có gì để mang về cả.” Chúng tôi đi xuống chỗ cỗ xe; nàng bước vào và tôi giúp nàng trùm tấm chăn nàng có lên người. Sau đó tôi lôi tấm của tôi từ bên dưới ghế trước, cẩn thận để viền chăn ngoài tầm mắt kẻo không nàng sẽ nhận ra nó. “Ồ, thật may quá! Fruen kêu lên. “Sao, nó từ đâu ra vậy?” “Dưới ghế ở đây.” “Chà… dĩ nhiên tôi có thể mượn vài tấm chăn ở nhà ông mục sư, nhưng những người đó sẽ không bao giờ nhận chúng lại… Cám ơn; tôi có thể lo liệu… không, cám ơn anh; tôi có thể tự xoay xở. Anh có thể đánh xe rồi.” Tôi đóng cửa xe lại và trèo lên chỗ ngồi của mình. “Bây giờ, nếu nàng lại gõ vào cửa sổ, đó là vì tấm chăn đó,” tôi thầm nghĩ. “Được, mình sẽ không dừng lại…” Nhiều giờ trôi qua; lúc này trời tối như mực, mưa và tuyết to hơn trước, và con đường ngày càng tệ hại. Thỉnh thoảng tôi phải nhảy xuống xe, chạy bên cạnh cặp ngựa để giữ ấm; nước chảy ra từ bộ quần áo của tôi. Lúc này chúng tôi đã tới gần nhà. Tôi hy vọng sẽ không có quá nhiều ánh sáng khi chúng tôi đi lên, kẻo nàng nhận ra tấm chăn. Thật không may, mọi cửa sổ đều sáng đèn, chờ nàng tới. Trong niềm tuyệt vọng, tôi ghìm cặp ngựa lại một quãng ngắn trước khi chúng tôi tới thềm, và nhảy xuống để mở cửa xe. “Nhưng vì sao… anh lại dừng xe ở đây?” “Tôi chỉ nghĩ có lẽ Fruen không ngại xuống xe ở đây. Ở phía trước toàn là bùn… Những cái bánh xe…” Hẳn nàng nghĩ tôi đang cố quyến rũ nàng làm gì đó, có Trời mới biết!… “Đánh xe tiếp đi, anh bạn, làm đi!” nàng nói. Cặp ngựa đi tới, và cỗ xe dừng lại đúng ngay chỗ đèn sáng nhất. Emma bước ra để đón bà chủ. Fruen trao cho cô ta bó chăn, vì nàng đã quấn chúng lại trước khi bước khỏi xe. “Cám ơn!” nàng nói với tôi, đưa mắt liếc quanh khi bước vào nhà. “Ôi Trời, anh ướt sũng cả người!”

XXV

Một tin tức lạ lùng đang chờ tôi: Falkenberg đã chấp nhận làm người giúp việc trong trại cho Đại úy. Điều này phá hỏng kế hoạch mà chúng tôi đã nhất trí, và một lần nữa tôi lại bị bỏ mặc một mình. Tôi không thể hiểu được một từ nào trong tất cả chuyện này. Dù sao, tôi có thể suy nghĩ cặn kẻ về nó vào ngay mai… Tới hai giờ sáng tôi vẫn còn nằm thao thức, rùng mình và suy nghĩ. Trong suốt mấy giờ đó tôi không thể nào ấm người lại; rồi cuối cùng nó chuyển sang nóng, và tôi nằm đó, sốt cao… Hôm qua nàng đã sợ hãi biết bao – không dám ngồi xuống ăn với tôi bên vệ đường, và không bao giờ mở mắt nhìn tôi một lần trong suốt chuyến đi… Tôi sực nghĩ ra trong một thoáng giây tỉnh táo rằng tôi có thể đánh thức Falkenberg với sự trăn trở của mình, và có lẽ sẽ nói gì đó trong cơn mê sảng. Điều này sẽ không bao giờ xảy ra. Tôi nghiến chặt răng, và nhảy lên, mặc lại quần áo, lò dò xuống thang, và chạy khắp những cánh động. Một lúc sau, quần áo bắt đầu giúp tôi ấm lại; tôi tiến vào rừng, tới chỗ mà chúng tôi từng làm việc; mồ hôi và nước mưa chảy xuống mặt tôi. Giá tôi có thể tìm thấy cái cưa và làm việc để xua cơn sốt ra khỏi người tôi – đây là một cách chữa bệnh cũ và đã thử nghiệm của tôi. Không thấy cái cưa đâu cả, nhưng tôi bắt gặp cái rìu mà tôi đã bỏ lại đó hôm chiều Thứ bảy, và bắt đầu làm việc với nó. Trời tối đến nỗi hầu như không nhìn thấy gì, nhưng thỉnh thoảng tôi dùng hai tay sờ soạng vết rìu và hạ gục nhiều cây. Lúc này mồ hôi ứa ra khắp người tôi. Sau đó, thấy khá kiệt sức, tôi giấu cái rìu vào chỗ cũ; lúc này trời rạng sáng, và tôi cất bước chạy về nhà. “Anh đã đi đâu vậy?” Falkenberg hỏi. Tôi không muốn gã biết việc tôi đã bị cảm hôm trước và có lẽ sẽ đi tán chuyện về nó trong nhà bếp; tôi chỉ lẩm bẩm đôi điều về việc không hoàn toàn biết rõ nơi tôi đã tới. “Anh đã đi tìm gặp Rønnaug, tôi đánh cược,” gã nói. Tôi trả lời: phải, tôi đã ở với Rønnaug, vì gã đã đoán như thế. “Chuyện đó không có gì khó đoán,” gã nói. “Dù sao, giờ anh sẽ không thấy tôi chạy theo bất kỳ người nào trong số họ.” “Vậy sẽ có Emma hả?” “Sao, có vẻ là thế. Thật tiếc khi anh không thể kiếm được ở đây. Vậy anh có thể kiếm một trong số các người khác, có lẽ.” Và gã tiếp tục nó về việc có lẽ tôi đã chọn các cô gái khác, nhưng Đại úy chẳng có ích gì cho tôi. Thậm chí ngày mai tôi sẽ không ra rừng… Những từ nghe thật xa xăm, tới tai tôi qua một biển cả của giấc ngủ mê đang cuộn về phía tôi. Sáng hôm sau cơn sốt hạ; tôi vẫn còn hơi yếu, nhưng cũng chuẩn bị đi ra rừng. “Anh không cần mặc đồ lao động vào nữa,” Falkenberg nói. “Tôi đã nói với anh điều đó từ trước.” Đúng! Dù sao đi nữa, tôi vẫn mặc bộ đồ lao động vào, vì những bộ khác đã ướt. Lúc này Falkenberg khá lúng túng với tôi, vì đã phá vỡ kế hoạch của chúng tôi; để viện cớ, gã nói gã tưởng tôi đã nhận công việc ở nhà ông mục sư. “Vậy ra anh sẽ không đi lên những ngọn đồi hả?” tôi hỏi. “Ừm! Không, tôi không nghĩ thế – không. Và chính anh cũng biết, tôi muốn bệnh với việc đi lang thang rồi. Tôi sẽ không kiếm được một cơ hội tốt hơn cơ hội này.” Tôi làm ra vẻ điều đó với tôi không có gì quan trọng, rồi đặt một sự chú ý bất ngờ vào Peter; anh ta thật xui xẻo, anh chàng tội nghiệp, bị từ chối và không có nơi nào để đi. “Không có chỗ nào để đi?” Falkenberg lặp lại. “Khi anh ta đã nằm ở đây suốt ba tuần anh ta được phép nghỉ bệnh theo luật, anh ta sẽ quay về nhà. Cha anh ta là một nông dân.” Sau đó Falkenberg tuyên bố việc để tôi đi là một mất mát về phần gã. Nếu không phải vì Emma, nói chung gã sẽ hủy lời hứa với Đại úy. “Đây,” gã nói, “tôi sẽ cho anh mấy thứ này.” “Đó là gì vậy?” “Đó là những giấy chứng nhận, giờ tôi không cần tới chúng, nhưng chúng có thể có ích cho anh lúc ngặt nghèo. Nếu anh muốn chỉnh một cây đàn dương cầm, chẳng hạn.” Và gã trao cho tôi những tờ giấy và cái chìa khóa. Nhưng, xét tới việc tôi không có lỗ tai âm nhạc, những thứ này chả có ích gì cho tôi, và tôi nói với gã như thế. Tôi có thể xử lý một hòn đá mài tốt hơn là một cây đàn dương cầm. Nghe thấy thế Falkenberg bật cười, nhẹ nhõm khi thấy tôi sẵn sàng nói đùa cho tới cùng… Falkenberg đi ra. Tôi có thì giờ để ở không một chút, và cứ để quần áo trên người, tôi nằm xuống giường, nghỉ ngơi và suy nghĩ. Phải, công việc của chúng tôi đã hết; dù sao chúng tôi phải ra đi. Tôi không thể tính tới việc ở lại đây mãi được. Điều duy nhất nằm ngoài mọi tính toán là việc Falkenberg ở lại. Giá mà họ đề nghị công việc đó với tôi, tôi sẽ làm việc đủ cho cả hai! Giờ có bất kỳ cơ may nào để mua chuộc gã không, tôi tự hỏi. Nói thật lòng, tôi tưởng tượng tôi đã lưu ý tới một điều gì trước đó; như thể Đại úy không hoàn toàn hài lòng khi có gã người làm mang tên của chính ông quanh quẩn ở nhà này. Chà, có lẽ tôi đã sai lầm. Tôi nghĩ tới nghĩ lui mãi. Nói cho cùng, tôi đã là một người làm công giỏi, trong chừng mực tôi biết, và tôi chưa hề ăn cắp một phút giây nào trong giờ của Đại úy cho phát minh của riêng tôi. Tôi lại ngủ thiếp đi, và thức giấc vì tiếng bước chân trên thang gác. Trước khi tôi có thì giờ đứng lên đàng hoàng, chính bản thân Đại úy đã xuất hiện ở lối đi. “Đừng ngồi dậy,” ông nói với vẻ tử tế, và quay đi như định sẽ tới sau. “Tuy nhiên, vì anh đã thức, chúng ta có thể thanh toán tiền. Anh nói sao?” Tôi nói cứ làm theo ý của ông, và cám ơn nhiều. “Tuy vậy, tôi phải nói với anh, cả bạn anh và tôi đều nghĩ anh sẽ làm việc ở nhà ông mục sư, và vì thế… Giờ thì thời tiết đang xấu, không còn việc gì để làm trong rừng nữa. Ngoài ra, chúng ta đã hạ tất cả những cây cần hạ. Ờ, bây giờ tôi đã thanh toán với người kia. Tôi không biết anh có…” Tôi bảo tôi sẽ hoàn toàn hài lòng với giá tiền tương tự. “Ừm! Bạn của anh và tôi đã đồng ý anh nên được trả thêm mỗi ngày.” Falkenberg không hề nói lời nào với tôi về việc này; nghe có vẻ như đây là ý tưởng riêng của Đại úy. “Tôi đã đồng ý với anh ta chúng tôi sẽ chia đều nhau.” “Nhưng anh là đốc công; tất nhiên anh nên có thêm năm mươi øre mỗi ngày.” Tôi thấy sự do dự của mình khiến ông không hài lòng, và để mặc cho ông tính toán theo ý thích. Khi ông đưa tiền cho tôi, tôi bảo nó nhiều hơn mức tôi đã tính. Đại úy trả lời: “Rất vui khi nghe thấy thế. Và tôi đã viết vài dòng ở đây, có thể nó sẽ hữu ích, rằng anh đã làm việc tốt trong thời gian ở đây.” Ông trao cho tôi tờ giấy. Một người công bằng và tử tế, ông Đại úy này. Ông không nói gì về ý tưởng dẫn nước vào nhà vào mùa xuân tới. Tôi cho là ông có những lý do riêng cho chuyện đó, và không muốn làm khó ông. Sau đó ông hỏi: “Vậy là anh sẽ lên đường bây giờ để làm việc ở tuyến đường ray?” Tôi đáp tôi không hoàn toàn chắc chắn về chuyện đó. “Ờ, ờ… dù sao, cám ơn về thời gian anh làm với chúng tôi.” Ông tiến về phía cửa. Và tôi, yếu ớt khốn khổ như thế, vẫn không thể kềm lòng mà phải hỏi: “Ông không có bất cứ công việc nào cho tôi sau này, có lẽ vào mùa xuân, hay sao?” “Tôi không biết; chúng tôi sẽ xem. Tôi… ờ, tất cả còn tùy. Nếu anh tình cờ ở bất kỳ nơi nào gần, sao… Còn về cái máy của anh thì sao?” Tôi đánh bạo hỏi xem tôi có thể để lại nó ở đây không. “Tất nhiên,” Đại úy đáp. Khi ông đã đi, tôi ngồi dậy trên giường. Vâng, giờ tất cả đã kết thúc. Vâng, như thế đấy – và Thượng đế thương xót tất cả chúng ta! Chín giờ; nàng đã thức – nàng ở đó trong ngôi nhà mà tôi có thể nhìn thấy từ ngay ô cửa sổ này. Vâng, tôi sẽ đi ra và kết thúc chuyện này. Tôi lấy cái ba lô ra và sắp xếp các thứ vào, mặc cái áo khoác ướt bên ngoài cái áo blu, và sẵn sàng lên đường. Nhưng tôi lại ngồi xuống. Emma đi vào: “Værsaagod”; có một thứ đã sẵn sàng cho anh trong bếp.” Tôi hoảng hồn khi thấy cô ta ôm trên tay tấm chăn của tôi. “Và Fruen bảo tôi hỏi đây có phải là chăn của anh không.” “Của tôi? Không; tôi đã có chăn của tôi ở đây cùng các thứ đồ khác.” Emma lại đi ra với tấm chăn. Chà, làm sao tôi có thể nói đó là của tôi? Quỷ sứ hãy lấy tấm chăn đó đi!… Tôi có nên đi xuống bếp không? Tôi có thể nói lời tạm biệt và cám ơn cùng một lúc – không có gì lạ thường trong việc đó. Emma lại đi vào với tấm chăn đã được xếp gọn ghẽ và đặt nó lên một cái ghế đẩu. “Nếu anh không vội lên, cà phê sẽ bị nguội,” cô ta nói. “Cô đặt tấm chăn ở đó chi vậy?” “Fruen bảo tôi làm thế.” “Ồ, tốt, có lẽ nó là của Falkenberg”, tôi lẩm bẩm. Emma hỏi: “Giờ anh sẽ đi xa hẳn sao?” “Phải, khi xét tới việc cô sẽ không dính dáng gì tới tôi.” “Anh!” Emma nói, với một cái hất đầu. Tôi cùng đi tới nhà bếp với Emma; khi đang ngồi ở bàn, tôi thấy Đại úy đi ra rừng. Thật tốt khi ông đi khỏi – có lẽ giờ đây Fruen có thể ra khỏi nhà. Tôi kết thúc bữa ăn và đứng lên. Tôi có nên xuất phát ngay bây giờ không? Tất nhiên, còn gì khác nữa? Tôi chào từ giã những người hầu, với một câu nói đùa lần lượt với từng người. “Tôi cũng muốn chào từ giã Fruen, nhưng…” “Fruen đang ở trong nhà, tôi sẽ…” Emma đi vào nhà, và quay lại trong giây lát. “Fruen đang nằm vì bị nhức đầu. Bà ấy gửi lời chúc tốt lành.” “Hãy quay lại nhé!” các cô gái nói khi tôi cất bước. Tôi đi ra khỏi nơi đó, với cái ba lô ôm dưới cánh tay. Rồi đột nhiên tôi nhớ tới cái rìu; có thể Falkenberg sẽ không tìm thấy nó ở nơi tôi đã cất. Tôi quay lại, gõ cửa nhà bếp, và để lại một tin nhắn cho gã về địa điểm của nó. Trong lúc xuôi xuống đường cái, tôi quay lại một hai lần và nhìn về phía những ô cửa sổ của ngôi nhà. Rồi tất cả khuất khỏi tầm mắt.

XXVI

Tôi đi lòng vòng cả ngày hôm đó, luôn giữ cho gần với Øvrebø; ghé vào một hai nông trại để tìm việc làm, và lại đi lang thang tiếp như một gã vô gia cư, một cách vô mục đích. Hôm đó là một ngày lạnh giá, xấu trời, và tôi cần phải đi để giữ ấm. Lúc xế chiều tôi quay lại chỗ làm việc cũ trong khu rừng của Đại úy. Tôi không nghe thấy tiếng rìu nào; Falkenberg đã về nhà. Tôi tìm thấy những thân cây mà tôi đã đốn đêm hôm trước, và bật cười với những gốc cây nham nhở mà tôi đã bỏ lại. Chắc chắn Falkenberg đã nhìn thấy sự tàn phá này, và tự hỏi ai là người đã thực hiện nó. Có lẽ gã đã gán nó cho một trò phù thủy, và chuồn về nhà sau đó, trước khi trời tối. Falkenberg!… Hahaha! Nhưng tôi ngờ rằng đây không phải là một niềm vui lành mạnh – một điều phát sinh từ cơn sốt và sự yếu đuối theo sau nó. Và chẳng bao lâu sau tôi lại trở nên buồn bã. Ở đây, tại chỗ này, hôm nọ nàng đã đứng với người bạn gái của nàng; họ đã đi ra và nói chuyện với chúng tôi trong rừng… Khi trời đủ tối, tôi bắt đầu đi về phía ngôi nhà. Có lẽ đêm nay tôi sẽ ngủ trong cái gác xép lần nữa; rồi ngày mai, khi cơn nhức đầu của nàng đã qua, nàng có thể ra ngoài. Tôi đi xuống đủ gần để nhìn thấy những ánh đèn của ngôi nhà, rồi quay lại. Không, có lẽ giờ còn quá sớm. Sau đó là một quãng thời gian – tôi cho là khoảng hai giờ – tôiđi lang thang một vòng và ngồi xuống một lát, rồi lại đi lang thang và ngồi xuống một lát; sau đó tôi lại đi về phía ngôi nhà. Lúc này tôi có thể đi lên chỗ căn gác xép và nằm xuống đó. Còn về phần Falkenberg – đồ sâu bọ khốn khổ! – để xem gã dám nói một lời nào! Giờ tôi biết tôi sẽ làm gì. Tôi sẽ giấu cái ba lô trong từng trước khi đi lên, để trông như thể tôi chỉ quay lại vì một thứ nhỏ nhặt đã để quên. Và tôi quay trở vào rừng. Ngay lúc giấu cái ba lô xong tôi nhận ra tôi không quan tâm chút nào tới Falkenberg và việc ngủ trong căn gác xép. Tôi là một tên ngốc, một kẻ điên khùng, vì điều tôi muốn không phải là chỗ trú ngụ trong đêm, mà là để nhìn một con người ở đó trước khi tôi rời khỏi chốn này. Và tôi tự nhủ: “Anh bạn tốt của tôi, không phải cậu đã định sống một cuộc đời lặng lẽ giữa những người dân lành mạnh, để có lại sự an bình tâm trí hay sao?” Tôi lôi cái ba lô khỏi nơi đã giấu nó, quẳng nó lên vai, và đi về phía ngôi nhà lần thứ ba, tránh xa khỏi khu nhà của những người giúp việc, và đi vòng qua phía nam của tòa nhà chính. Có ánh đèn trong phòng khách. Và lúc này, dù trời tối, tôi hạ cái ba lô trên vai xuống, để trông không giống như một gã ăn xin, và dúi nó vào dưới cánh tay như thể nó là một cái gói. Cứ thế tôi thận trọng rón rén đi về phía ngôi nhà. Khi đã tới đủ gần, tôi dừng lại, đứng ở đó, thẳng và mạnh mẽ trước những ô cửa sổ, tháo mũ ra và đứng yên ở đó. Không có ai ở bên trong, không một bóng người. Phòng khách hoàn toàn tối đen; họ đã dùng xong bữa tối. Hẳn là đã muộn rồi, tôi tự nhủ. Đột ngột cây đèn dầu trong phòng khách tắt phụt, và toàn bộ ngôi nhà dường như đã chết và bị bỏ hoang. Tôi chờ một lát, rồi có một ánh sáng lẻ loi tỏa ra từ tầng trên. Hẳn đó là phòng nàng. Ánh đèn sáng trong nửa giờ, có lẽ, rồi lại tắt phụt. nàng đã đi nghỉ. Giã từ! Giã từ mãi mãi! Và, dĩ nhiên, tôi sẽ không trở lại chốn này vào mùa xuân. Một ý nghĩ ngớ ngẩn! *** Khi trở xuống tới đường cái, tôi lại đeo cái ba lô lên vai và cất bước lãng du… Vào buổi sáng tôi lại tiếp tục đi, sau khi ngủ trong một kho thóc lạnh khủng khiếp, không có gì để quấn quanh người; ngoài ra, tôi phải cất bước ngay vào giờ lạnh nhất, ngay lúc rạng đông, để người ta không tìm thấy tôi ở đó. Tôi đi, đi mãi. Khu rừng thay đổi từ thông sang bạch dương rồi trở lại thứ tự cũ. Khi gặp một khoảnh rừng cây bách xù đẹp, nhánh thẳng, tôi cắt cho mình một nhánh để làm gậy, rồi ngồi bên bìa rừng để tỉa gọn nó. Đó đây giữa những cây cối, vẫn còn treo một hai chiếc lá vàng, nhưng trên những cây bạch dương mọc đầy hoa đuôi sóc với những chùm rũ xuống trông như những giọt ngọc trai. Thi thoảng, năm mười con chim nhỏ hạ cánh xuống một trong những cây bạch dương này để mổ hoa đuôi sóc, sau đó nhìn quanh để tìm một tảng đá hay một thân cây thô ráp để chà sạch chất nhựa dính khỏi mỏ của chúng. Mỗi con đều ganh nhau với những con còn lại; chúng quan sát, xua đuổi con khác đi, dù có tới hàng triệu bông hoa đuôi sóc để chúng ăn tùy thích. Và con chim đang bị săn đuổi không hề làm gì khác ngoài việc bay đi. Nếu một con chim nhỏ lao tới một con lớn hơn, con này sẽ bỏ đi; ngay cả một con chim hét to hết cỡ cũng không hề chống cự lại một con chim sẻ, mà chỉ cất cánh bay. Tôi tưởng tượng hẳn là tốc độ của cuộc tấn công đã làm được điều này. Cái lạnh và sự khó chịu của buổi sớm mai dần biến mất; tôi thấy vui vui khi quan sát những thứ đa dạng mà tôi bắt gặp trên đường, và suy nghĩ đôi chút, khá lười lĩnh, về mỗi thứ đó. Lũ chim là vui nhộn nhất; ngoài ra, cũng thật là vui khi nhớ rằng tôi có một túi đầy tiền. Sáng hôm đó Falkenberg có đề cập tới địa điểm nhà của Peter, và lúc này tôi tìm tới đó. Khó mà có công việc cho tôi ở một nơi nhỏ bé như thế; nhưng giờ tôi giàu có, công việc không phải là thứ tôi tìm kiếm đầu tiên. Peter sẽ sớm trở về nhà, không ngờ gì nữa, và có lẽ sẽ có vài tin tức để nói với tôi. Tôi cố xoay xở để tới nông trại vào chiều tối. Tôi bảo rằng tôi mang tin tức về con trai của họ, rằng giờ anh ta đã khá hơn nhiều, và sẽ sớm về nhà. Và họ có thể thu xếp cho tôi ngủ lại trong đêm không?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: