Phúc Lành Của Đất- Growth of the Soil ( Chương 7)

Knut Hamsun

Và ngày tháng trôi qua.

Một thời kỳ phúc lành cho đất đai, với mặt trời và những cơn mưa; vụ mùa trông rất khá. Việc phơi cỏ giờ đã sắp kết thúc, và họ đã thu được thật nhiều cỏ khô; gần như họ không còn chỗ để chứa chúng. Một số được cất giữ bên dưới những tảng đá nhô ra, trong chuồng ngựa, hoặc ngay trên nền nhà; cái kho bên chái được dọn trống mọi thứ để lấy chỗ cho cỏ khô. Bản thân Inger thức khuya dậy sớm làm lụng, một người trợ giúp đáng tin cậy. Isak tận dụng mọi cơn mưa để dành thời gian cho việc lợp mái cái kho mới, và ít ra cũng đã gần hoàn thành bức tường ở hướng nam; một khi cái nhà kho đã sẵn sàng, họ có thể tống cỏ khô vào tùy thích. Công việc đang tiến triển; họ sẽ xoay xở được, đừng lo!

Và, phải, nỗi buồn và tai họa lớn của họ còn đó, việc đó đã được thực hiện, và điều gì sẽ đến cứ đến. Hầu hết những việc tốt đều không để lại dấu vết gì, nhưng một điều xấu luôn luôn tìm đến. Ngay từ đầu Isak đã đón nhận sự việc một cách hợp lý. Anh không nói những lời nặng nề nào về nó, mà chỉ đơn giản hỏi vợ mình: “Tại sao em làm chuyện đó?” Inger không trả lời câu hỏi. Một lát sau, anh lại hỏi: “Bóp cổ nó, em đã làm như thế phải không?”

“Vâng,” Inger đáp.

“Lẽ ra em không nên làm điều đó.”

“Đúng vậy,” nàng đồng ý.

“Và tôi không thể hiểu được vì sao em có thể tự đẩy mình tới việc làm đó.”

“Nó giống hệt như tôi,” Inger nói.

“Ý của em là sao?”

“Miệng của nó.”

Isak suy nghĩ một hồi về điều đó. “Ờ, phải,” anh nói.

Và lúc ấy họ không nói thêm gì về chuyện đó nữa; ngày tháng thoi đưa, vẫn thanh bình như cũ; có cả một lượng lớn cỏ khô cần được đưa vào kho, và một vụ mùa bội thu cần thu hoạch, vì thế ở mức độ nào đó sự việc đã trôi tuột ra phía sau tâm trí họ. Nhưng dù sao thì nó vẫn còn treo lơ lửng bên trên họ, bên trên nông trại. Họ không thể hy vọng Oline giữ bí mật; điều đó vượt quá tầm mong đợi. Và thậm chí nếu Oline không nói lời nào thì những người khác cũng sẽ nói; những chứng nhân câm lặng sẽ tìm được một người nói hộ; những bức tường của ngôi nhà, những thân cây mọc quanh ngôi mộ nhỏ trong rừng. Os-Anders người Lapp sẽ tung ra những lời bóng gió; ngay chính bản thân Inger cũng sẽ làm lộ chuyện, khi đang ngủ hay đang thức. Họ đã chuẩn bị cho điều xấu nhất.

Isak đón nhận sự việc một cách hợp lý – còn có thể làm gì khác được? Giờ thì anh đã biết vì sao Inger luôn luôn quan tâm tới việc được ở một mình vào mỗi lần sinh nở; ở một mình với những nỗi lo sợ của nàng về việc đứa bé sẽ ra sao, và đối mặt với mối nguy mà không có ai bên cạnh. Cả ba lần nàng đều thực hiện một việc giống nhau. Isak lắc đầu, thấy thương xót cho số phận hẩm hiu của nàng – Inger tội nghiệp. Anh đã biết chuyện tay người Lapp tới đó với con thỏ, và đã tha thứ cho nàng. Điều này dẫn tới một tình yêu lớn lao giữa họ, một tình yêu hoang dại: họ nhích lại sát bên nhau trong cơn hoạn nạn chung. Inger dành cho anh trọn cả một tình cảm ngọt ngào tuyệt vọng, và người đàn ông cường tráng thô kệch này, kẻ chuyên khuân vác những gánh nặng này, cảm thấy trong mình một nỗi thèm muốn khát khao vô tận đối với nàng. Còn Inger, với tất cả những kiểu cách của nàng, chẳng hạn mang đôi giày thô kệch như một người Lapp, lại không hề là một tạo vật nhỏ bé nhăn nheo như những phụ nữ Lapp mà có vóc người to khỏe. Bấy giờ đã là mùa hè, và nàng đi lại chân trần, với đôi chân để trần gần tới gối – Isak không thể rời mắt khỏi đôi chân trần đó.

Suốt mùa hè nàng đi lại quanh quẩn, hát véo von những bài thánh ca và dạy cho Eleseus đọc kinh cầu nguyện; nhưng trong nàng dậy lên một niềm căm ghét phi đạo đức đối với mọi người Lapp. Và nàng nói với bất kỳ người Lapp nào đi qua một cách khá thẳng thắn về điều đó. Một người nào đó có thể lại mang chúng tới; rất có thể họ lại có một con thỏ rừng trong túi của mình như trước; cứ mặc họ đi theo con đường của họ, và chuyện cũ sẽ không còn tái diễn.

“Một con thỏ rừng? Thỏ rừng nào?”

“Chà, có lẽ anh không nghe nói Os-Anders đã làm gì lần đó hả?

“Không.”

“Ờ, tôi không quan tâm tới việc ai biết chuyện đó, anh ta lên đây với một con thỏ rừng, khi tôi đang có mang.”

“Ồ, thật là một điều đáng sợ! Thế đã xảy ra chuyện gì?”

“Đừng bận tâm chuyện gì đã xảy ra, anh chỉ việc cuốn xéo, thế thôi. Đây là ít thức ăn, và cuốn xéo đi.”

“Bà có mảnh da nào sót lại đâu đó không, để tôi vá lại giày của mình?”

“Không, nhưng tôi sẽ cho anh nếm vài gậy nếu anh không biến đi!”

Thời bấy giờ một người Lapp xin xỏ rất nhún nhường, nhưng cứ nói không với gã coi, gã sẽ trở mặt và đe dọa. Một cặp vợ chồng người Lapp và hai đứa bé đi ngang qua trại; lũ trẻ được cử tới nhà để xin, chúng trở lại và nói rằng không thấy ai ở đó cả. Bốn người bọn họ đứng đó một lúc và trò chuyện bằng ngôn ngữ của họ, rồi người đàn ông đi lên để xem sao. Gã đi vào trại và ở lại đó. Rồi vợ gã lên, sau đó là lũ trẻ; cả bọn đứng bên trong lối ra vào, trò chuyện bằng thổ ngữ Lapp. Người đàn ông đặt đầu mình lên cửa và nhìn qua khe vào trong phòng; trong đó cũng không có người nào. Chiếc đồng hồ báo giờ, và cả gia đình đứng nghe một cách ngạc nhiên.

Hẳn Inger phải có một linh cảm nào đó rằng có người lạ tới gần; nàng vội vã xuống đồi, và trông thấy bọn người Lapp, thêm nữa đó là những người Lapp xa lạ. Nàng hỏi thẳng họ đang làm gì ở đó. “Các người muốn gì ở trong này? Các người không thấy là không có ai ở nhà hay sao?”

“Ừm…” người đàn ông ậm ừ.

“Biến khỏi đây,” Inger lặp lại, “và đi theo đường của các người.”

Đám người Lapp chậm rãi đi ra, đầy miễn cưỡng. “Chúng tôi chỉ lắng nghe cái đồng hồ của bà,” người đàn ông nói; “nó nghe thật kỳ diệu, đúng là vậy.”

“Bà không có chút bánh mì thừa nào sao?” Vợ gã nói.

“Các người từ đâu tới?” Inger hỏi.

“Từ nguồn nước mé ngoài kia. Chúng tôi đã đi suốt đêm.”

“Và bây giờ các người định đi đâu?”

“Băng qua dãy đồi.”

Inger gói cho họ một ít thức ăn; khi nàng đi ra, người đàn bà lại bắt đầu xin xỏ: một chút vải để làm nón, một ít len, một mẩu pho mát – bất cứ món gì. Inger không có thời gian để lãng phí, Isak và bọn trẻ đang ở trên đồng cỏ. “Các người đi ngay đi,” nàng nói.

Người đàn bà cố nịnh nọt. “Chúng tôi nhìn thấy trại của bà trên này, và bầy gia súc, cả một bầy lớn, như những ngôi sao trên trời.”

“Phải, một sự kỳ diệu,” người đàn ông nói. “Bà không có một đôi giày cũ nào để tặng cho những người thiếu thốn à?”

Inger đóng cửa lại và quay trở lại công việc của mình trên sườn đồi. Người đàn ông gọi với theo nàng. Nàng giả vờ không nghe thấy, và đi tiếp. Nhưng nàng nghe thấy câu nói rất rõ ràng: “Có lẽ bà không muốn mua một con thỏ rừng nào?”

Không thể nhầm được về những gì gã đã nói. Có thể bản thân người Lapp đó chỉ nói một cách vô tình; ai đó đã kể cho gã nghe, có lẽ thế. Hoặc cũng có thể gã có hàm ý xấu. Dù sao đi nữa, Inger xem nó như một lời cảnh báo – một thông điệp về chuyện sắp xảy ra…

Ngày tháng tiếp tục trôi. Những cư dân này là những người mạnh mẽ; điều gì sẽ đến cứ đến; họ cứ làm công việc của mình và chờ đợi. Họ sống gắn bó với nhau như những con thú rừng xanh; họ ngủ và ăn; phần lớn năm đó đã trôi qua nên họ thử đào những dây khoai mới, và thấy rằng chúng rất to và nhiều bột. Ngọn roi sắp hạ xuống – vì sao nó còn chưa đến? Đã là cuối tháng Tám, chẳng bao lâu lại sang tháng Chín; họ có được để yên đến hết mùa đông hay không? Họ sống trong sự cảnh giác thường trực; đêm đêm họ bò sát lại gần nhau trong cái hang của mình, tạ ơn trời đất rằng ngày hôm đó đã trôi qua yên ổn. Thời gian cứ thế lướt trôi cho tới một ngày tháng Mười, rồi ngài Lensmand tìm đến cùng một người đàn ông và một cái túi xách. Luật pháp đã bước chân qua cửa nhà của họ.

Cuộc điều tra kéo dài một thời gian. Inger được gọi tới và thẩm tra riêng; nàng không chối bỏ điều gì cả. Ngôi mộ trong rừng được khai quật, thi hài được lấy lên để kiểm nghiệm. Cái thân hình bé bỏng – nó được quấn trong chiếc áo choàng rửa tội của Eleseus và đội một cái mũ có đính hạt cườm.

Dường như Isak đã tìm ra lời trở lại. “Phải,” anh nói, “giờ đây chúng ta có thể gặp đủ chuyện. Tôi đã nói trước rồi, em không bao giờ nên làm chuyện đó.”

“Đúng vậy,” Inger nói.

“Em đã làm thế nào?”

Inger không đáp.

“Em có thể tìm thấy nó trong tim mình…”

“Nó trông giống hệt tôi. Vì thế tôi nắm lấy và vặn cổ nó.”

Isak chậm rãi lắc đầu.

“Thế rồi nó chết,” Inger nói tiếp, bắt đầu khóc.

Isak im lặng một lúc. “Thôi được, thôi được, giờ thì đã quá muộn để khóc vì chuyện đó,” anh nói.

“Tóc nó màu nâu,” Inger nức nở, “ở phía sau đầu nó…”

Và nàng không nói thêm gì nữa.

Thời gian lướt trôi như trước. Inger không bị nhốt; luật pháp đầy lòng thương xót. Lensmand Heyerdahl chỉ hỏi nàng những câu hỏi mà ông có thể đặt ra cho bất kỳ người nào, và chỉ nói, “Thật đáng tiếc khi những chuyện như thế lại xảy ra.” Inger hỏi ai đã tố cáo nàng, nhưng vị Lensmand trả lời rằng không có một ai cụ thể; nhiều người đã nói về vụ đó, và ông đã nghe về nó từ nhiều nguồn. Không phải ngay chính nàng cũng đã nói gì đó về chuyện đó với vài người Lapp hay sao?

Inger – phải, nàng đã nói với vài người Lapp về Os-Anders, gã đã tới và mang theo một con thỏ rừng như thế nào vào mùa hè đó, mang tới cái môi sứt cho đứa con chưa ra đời của nàng. Và phải chăng Oline là người đã gửi con thỏ tới? Vị Lensmand không biết gì về chuyện đó. Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, ông cũng không thể nghĩ tới việc đặt bút viết một câu chuyện mê tín ngu muội như thế vào bản báo cáo của mình.

“Nhưng mẹ tôi đã trông thấy một con thỏ rừng trước khi sinh ra tôi,” Inger nói…

Cái kho thóc đã hoàn tất; nó là một nơi rộng rãi, có những kệ chất cỏ khô ở cả hai phía và một cái sân đập lúa ngay chính giữa. Cái chái để đồ và những chỗ chất đồ tạm thời khác giờ đây được dọn trống, toàn bộ cỏ khô được đưa vào kho thóc; lúa má đã chín, được phơi khô thành từng đống, và được chở về. Inger đào củ cải và củ cải trắng. Lúc này tất cả mùa màng của họ đã được đưa vào kho. Và mọi thứ có thể tốt lành với họ – họ đã có tất cả những gì họ cần. Isak đã khởi sự trên một mảnh đất mới, trước khi sương giá tới, để tạo một cánh đồng lúa lớn hơn; Isak là một nông dân. Nhưng một hôm nọ trong tháng Mười một, chợt Inger nói, “Giờ lẽ ra nó đã được sáu tháng tuổi và biết tất cả chúng ta.”

“Nói chuyện đó bây giờ không hay đâu,” Isak nói.

Khi mùa đông tới, Isak đập lúa trên sân đập mới, và Inger thường xuyên giúp đỡ anh, với đôi tay làm việc nhanh nhẹn không kém gì anh, trong khi lũ trẻ nô giỡn trong những đụn cỏ khô ở hai phía.

Thóc tròn mẩy hạt. Vào đầu năm mới những con đường đều tốt, và Isak bắt đầu chở gỗ xuống làng; giờ đây anh đã có những khách hàng thường xuyên, và thứ gỗ đã phơi khô trong mùa hè được mua với giá cao. Một hôm anh và Inger đồng ý rằng họ nên chở con bò đực non xinh đẹp xuống cho phu nhân Geissler, ngoài ra còn thêm vào một tảng pho mát. Bà rất vui, và hỏi giá tiền là bao nhiêu.

“Không bao nhiêu cả,” Isak nói. “Ngài Lensmand đã thanh toán trước rồi.”

“Cầu Trời phù hộ cho ông ấy, ông ấy đã trả tiền rồi sao?” phu nhân Geissler nói, cảm động với ý nghĩ đó. Để đáp lễ, bà gửi nhiều thứ lên cho Eleseus và Sivert – các thứ bánh trái, những cuốn truyện tranh và các món đồ chơi. Khi Isak trở về và Inger trông thấy các thứ đó, nàng quay mặt đi và khóc.

“Sao vậy?” Isak hỏi.

“Không có gì,” Inger đáp. “Chỉ là… giờ con bé giờ đã tròn năm, và có thể nhìn thấy tất cả những thứ này.”

“Phải, nhưng em biết nó ra sao rồi mà,” Isak nói, để an ủi. “Và nói cho cùng, có thể chúng ta thoát khỏi chuyện này dễ hơn là chúng ta đã nghĩ. Giờ tôi đã tìm ra Geissler ở đâu rồi.”

Inger ngẩng lên nhìn. “Nhưng việc đó giúp ích gì được cho chúng ta?”

“Tôi không biết.”

Sau đó Isak vác lúa tới cối xay và mang bột trở về. Thế rồi anh lại trở thành một gã tiều phu, đốn gỗ để chuẩn bị cho mùa đông kế tiếp. Cuộc đời anh trôi qua trong việc này việc nọ, theo mùa vụ; từ những cánh đồng ra những khu rừng, rồi lại quay về với những cánh đồng. Cho tới nay anh đã cần cù lao động ở chốn này được sáu năm, còn Inger thì năm năm; mọi việc có thể tốt lành, chỉ cần giá như nó được cho phép kéo dài. Nhưng không. Inger làm việc ở khung cửi của nàng và chăm sóc lũ súc vật; mọi người cũng thường nghe thấy nàng hát những bản thánh ca, nhưng đó là một tiếng hát đáng thương; nàng giống như một cái chuông không có hạt.

Ngay khi những con đường vừa đi lại được, nàng được cho gọi xuống làng để thẩm tra. Isak phải ở lại nhà. Và trong lúc một mình ở đó, anh chợt nghĩ tới việc đi sang Thụy Điển để tìm Geissler; vị cựu quan chức này đã rất tốt với họ; và có thể vẫn chìa tay ra giúp đỡ cho những người ở trại Sellanraa bằng một cách nào đó. Nhưng khi Inger trở về, tự nàng cũng đã hỏi về vụ việc. Nói một cách nghiêm túc, tội này phải bị tù chung thân, theo Đoạn I. Nhưng… Rốt cuộc, nàng đã đứng trong tòa án và thú tội một cách đơn giản. Hai nhân chứng của làng đã nhìn nàng một cách thương hại, và vị quan tòa đã đặt câu hỏi một cách tốt bụng; nhưng với tất cả những chuyện đó, nàng vẫn không thể đối đầu với những lập luận sáng tỏ của luật pháp. Các vị luật sư là những nhân vật vĩ đại đối với các thôn dân bình thường; họ có thể trích dẫn đoạn này phần nọ; họ đã học thuộc nằm lòng những điều như thế, sẵn sàng lôi chúng ra vào bất cứ lúc nào. Ồ, họ thật sự là những con người vĩ đại. Và ngoài những kiến thức đó ra, không phải họ luôn là người vô cảm, thậm chí có đôi khi không hoàn toàn là kẻ nhẫn tâm. Inger không có lý do gì để than phiền về tòa án; nàng không nhắc gì tới con thỏ rừng, nhưng khi nàng giải thích trong nước mắt rằng nàng không thể tàn ác đối với đứa con tật nguyền tội nghiệp của mình bằng cách để cho nó sống sót, vị quan tòa gật đầu, một cách lặng lẽ và nghiêm trang.

“Nhưng,” ông ta nói, “hãy nghĩ về chính bản thân bà; bà có một cái môi sứt, nhưng nó đâu có phá hỏng cuộc đời bà.”

“Không, nhờ Chúa.” Đó là tất cả những gì nàng nói. Nàng không thể kể cho họ nghe về tất cả những gì nàng từng âm thầm chịu đựng khi còn bé, khi là một thiếu nữ.

Nhưng vị quan tòa hẳn đã hiểu đôi điều về ý nghĩa của câu nói đó; bản thân ông ta cũng có một chân bị tật bẩm sinh và không thể khiêu vũ được. “Còn về hình phạt,” ông ta nói, “tôi khó mà biết được. Thật sự, nó có thể là tù chung thân, nhưng… tôi không thể nói, có lẽ chúng tôi có thể giảm tội, ở mức thứ hai hay thứ ba, từ mười hai đến mười lăm năm, hay từ chín đến mười hai năm. Có một ủy ban đang họp bàn để cải tiến hình luật, làm cho nó trở nên nhân đạo hơn, nhưng phán quyết cuối cùng chưa được đưa ra. Dù sao thì chúng ta cũng phải hy vọng cho điều tốt nhất.”

Inger trở về trong trạng thái thẫn thờ cam chịu; họ chưa thấy cần thiết phải giam nàng vào lúc này. Hai tháng trôi qua; rồi một chiều kia, khi Isak đi câu cá trở về, vị Lensmand và viên trợ lý mới của ông đã tới Sellanraa trước đó.

Inger rất vui vẻ, và chào đón chồng nàng một cách ân cần, khen ngợi mẻ cá của anh, dù anh chỉ mang về nhà được chút ít cá.

“Tôi định nói gì cà, có ai tới đây không?” anh hỏi.

“Có ai à? Sao chứ, ai có thể tới đây?”

“Có những dấu chân mới ở bên ngoài. Những người đàn ông mang ủng.”

“Sao chứ, không có ai ngoài ngài Lensmand và một người khác.”

“Họ muốn gì?”

“Anh biết điều đó mà không cần phải hỏi.”

“Có phải họ tới để đưa em đi không?”

“Đưa tôi đi? Không, chỉ là về hình phạt. Chúa rất nhân từ, nó không tệ như tôi từng lo sợ.”

“Phải,” Isak nôn nao nói. “Có lẽ là không lâu lắm hả?”

“Không, chỉ vài năm thôi.”

“Bao nhiêu năm?”

“Sao chứ, anh có thể nghĩ nó là nhiều, có lẽ. Nhưng tôi rất biết ơn Chúa về mọi sự.”

Inger không nói là bao lâu. Một lúc sau, cũng trong chiều hôm đó, Isak hỏi khi nào họ sẽ đến để đưa nàng đi, nhưng nàng không thể hoặc không muốn nói điều này. Nàng lại trở nên trầm ngâm, và nói về điều sắp sửa đến; nàng không biết họ làm thế nào để xoay xở, nhưng nàng cho rằng họ nên mời Oline đến. Và Isak không đưa ra được kế hoạch nào tốt hơn.

Nhân tiện, chuyện gì đã xảy ra với Oline? Năm đó bà không đến như thường lệ. Bà có đi xa mãi mãi hay chăng, khi giờ đây bà đã phiền lòng về mọi điều ở họ? Mùa làm việc đã qua, nhưng Oline vẫn không đến – phải chăng bà mong đợi họ tới đón bà? Không còn ngờ gì nữa, bà đang la cà nấn ná, cái tảng mỡ to đùng ấy, con quái vật ấy.

Rốt cuộc một hôm bà đã tới. Một con người thật khác thường – như thể chưa có chuyện gì xảy ra làm xấu đi cảm tình giữa họ; thậm chí bà còn đan một đôi tất mới cho Eleseus, bà bảo thế.

“Chỉ tới để xem mấy người đang làm ăn thế nào ở đây,” bà nói.

Và hóa ra bà đã mang theo quần áo và vật dụng của mình trong một cái bao tời, để lại nó trong khu rừng bên cạnh, sẵn sàng cho việc ở lại.

Chiều hôm đó Inger kéo chồng ra một bên và nói: “Anh có nói gì đó về việc đi tìm Geissler phải không? Bây giờ chính là thời gian rảnh rỗi.”

“Phải,” Isak nói. “Giờ thì Oline đã đến, tôi có thể lên đường sớm vào sáng mai.”

Inger tỏ ra biết ơn và cám ơn anh. “Và nhớ mang theo tiền,” nàng nói, “tất cả số tiền anh có ở đây.”

“Sao vậy, em không thể giữ tiền ở đây à?”

“Không.” nàng đáp.

Inger sửa soạn một gói to thức ăn ngay lập tức, và Isak thức giấc lúc trời vẫn còn tối, chuẩn bị để lên đường. Inger ra ngoài đứng trên bậc cửa để tiễn anh; nàng không khóc lóc hay thở than mà chỉ nói:

“Họ có thể đến đưa tôi đi vào bất kỳ ngày nào.”

“Em không biết là lúc nào sao?”

“Không, tôi không thể nói. Và tôi không cho là nó sẽ tới ngay, nhưng dù sao thì… Giá như anh có thể tìm thấy Geissler, có lẽ ông ấy có thể nói đôi điều gì đó.”

Giờ đây Geissler có thể làm gì để giúp họ? Không gì cả. Nhưng Isak vẫn lên đường.

Còn Inger? Ồ, nàng biết nhiều hơn là nàng muốn nói ra, không còn ngờ gì nữa,. Cũng có thể chính nàng là người đã cho mời Oline tới. Khi Isak trở về từ Thụy Điển, Inger đã ra đi và Oline ở đó với hai đứa bé.

Đó là một tin tức đen tối cho một kẻ mới trở về nhà. Giọng của Isak lớn hơn thường lệ khi anh hỏi: “Cô ấy đã đi rồi?”

“Phải,” Oline đáp.

“Vào hôm nào?”

“Sau ngày anh rời nhà.” Và giờ đây Isak biết rằng Inger đã đẩy anh ra ngoài cuộc một cách có dụng ý – đó là lý do vì sao nàng thuyết phục anh mang theo tiền. Ồ, nhưng lẽ ra nàng nên giữ một ít cho bản thân mình trong chuyến hành trình dài đó!

Nhưng lũ trẻ không thể nghĩ tới chuyện gì khác ngoài con heo nhỏ mà Isak đã mang về. Đó là tất cả những gì anh có để đổi lại sự vất vả của mình; cái địa chỉ mà anh có đã lỗi thời, và Geissler không còn ở Thụy Điển mà đã quay về Na Uy và hiện giờ đang ở Trondhjem. Còn về phần con heo, Isak đã bế nó trên tay suốt chặng đường, cho nó uống sữa từ một cái chai và nằm ngủ với nó trên ngực mình giữa những ngọn đồi. Anh đã mong chờ niềm vui của Inger khi nàng nhìn thấy nó; bây giờ, Eleseus cùng Sivert nô đùa với nó, và nó là một niềm vui đối với chúng. Và Isak, trong lúc quan sát chúng, đã quên hết nỗi vất vả của mình trong khoảnh khắc. Ngoài ra, Oline có một thông điệp từ vị Lensmand; cuối cùng Nhà nước đã ra quyết định về vụ đất đai ở Sellaraa. Isak chỉ cần đi xuống văn phòng và nộp khoản tiền. Đây là một tin lành, và đã ngăn anh khỏi rơi vào cơn tuyệt vọng tồi tệ nhất. Mệt nhoài và đuối sức như thế nhưng anh vẫn gói ít thức ăn vào một cái túi rồi lên đường đi xuống làng ngay. Có lẽ anh đã ôm ấp chút hy vọng nhỏ nhoi nào đó về việc gặp Inger một lần nữa trước khi nàng rời khỏi đó.

Nhưng anh thất vọng. Inger đã ra đi – trong tám năm. Isak cảm thấy như mình đang chìm trong một màn sương tối tăm và trống rỗng; chỉ nghe thấy loáng thoáng đoạn này đoạn khác trong tất cả những gì vị Lensmand nói – những điều đáng tiếc như thế lại xảy ra… hy vọng nó sẽ là một bài học cho cô ấy… cải tạo và trở thành một phụ nữ tốt hơn sau này, và không giết con của cô ấy nữa!

Lensmand Heyerdahl đã kết hôn vào năm trước. Vợ ông không có ý định trở thành một bà mẹ – cám ơn, với bà ta thì không con cái gì hết! Và bà ta chưa có đứa con nào.

“Và bây giờ,” vị Lensmand nói, “vấn đề về Sellanrra. Cuối cùng tôi đã có chức trách để giải quyết nó một cách dứt khoát. Ủy ban rất hài lòng chuẩn y việc bán miếng đất, ít nhiều thể theo những điều khoản mà tôi đã đề nghị.”

“Ừm,” Isak nói.

“Nó từng là một vụ việc kéo dài, nhưng tôi hài lòng biết rằng những nỗ lực của tôi đã không hoàn toàn vô ích. Những điều khoản mà tôi đề xuất đã được đồng ý hầu hết mà không có ngoại lệ.”

“Không có ngoại lệ?” Isak nói và gật đầu.

“Đây là chứng thư sở hữu. Anh có thể đăng ký chuyển nhượng ở phiên họp đầu tiên.”

“Vâng,” Isak nói. “Và tôi phải trả bao nhiêu?”

“Mười Daler một năm. Ủy ban đã có một thay đổi nhỏ ở đây – mười Daler thay vì năm. Anh không phản đối gì điều đó chứ, tôi đoán vậy?”

“Miễn là tôi có thể lo liệu để trả,” Isak nói.

“Và trong mười năm.”

Isak nhìn lên, hơi hoảng hồn.

“Đó là những điều khoản bắt buộc, Ủy ban đã nhất quyết. Ngay cả như thế, thật sự nó vẫn không phải là một giá cao cho cả miếng đất đã phát quang và trồng trọt như hiện nay.”

Isak có mười Daler cho năm đó – đó là số tiền mà anh có được nhờ những chuyến gỗ và nhờ những tảng pho mát mà Inger đã làm. Anh trả tiền và vẫn còn lại một ít.

“May cho anh là Ủy ban không nghe thấy gì về vợ của anh,” vị Lensmand nói. “Không thì họ có thể bán cho một người khác.”

“Phải,” Isak nói. Anh hỏi về Inger. “Có đúng là cô ấy sẽ đi xa trong tám năm?”

“Đúng đó. Và không thể thay đổi, luật pháp phải được thực thi. Thật ra thì hình phạt đó là rất nhẹ. Bây giờ có một điều mà anh phải làm, đó là dựng những ranh giới rõ ràng giữa đất của anh và đất của Nhà nước. Một đường thẳng, trực tiếp, theo những dấu mà tôi đã cắm trên miếng đất và đã ghi vào sổ đăng ký của tôi lúc đó. Gỗ phát quang khỏi đường ranh giới thuộc sở hữu của anh. Lúc nào đó tôi sẽ lên để nhìn xem anh đã làm được những gì.”

Isak lê gót trở về nhà.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: