Khung Cửa Hẹp – La Porte Étroite (Chương 5)

André Gide

Tôi không tìm ý nghĩa nào khác cho cuộc đời mình, ngoài tình yêu Alissa. Tôi bám vào đấy, không chờ mong gì nữa, và không muốn chờ mong gì hết, ngoài những gì do người yêu của tôi đem lại. 

Qua ngày hôm sau, tôi sửa soạn đến thăm nàng, thì dì tôi đưa cho tôi một bức thư dì vừa nhận được. 

Cơn ngất của Juliette chỉ bớt sáng nay, nhờ mấy vị thuốc của y sĩ. Cháu xin yêu cầu anh Jérôme đừng tới đây nữa trong vài hôm. Juliette có thể nhận ra tiếng chân đi, hoặc giọng chàng nói, mà em nó hiện cần được yên nghỉ, tĩnh dưỡng hoàn toàn. 

Cháu sợ phải ở tại đây lâu vì bịnh tình Juliette. Nếu cháu không gặp lại Jérôme trước khi anh ấy lên đường, thì cô ơi, hãy nói với anh rằng cháu sẽ có thư sau.

Thế là lệnh cấm chỉ nhắm riêng tôi. Còn dì tôi, còn mọi người thì cứ được tự do đi lại. Dì tôi định sáng nay sang ngay bên ấy. Nói rằng tiếng động của bước chân tôi? Giọng nói của tôi? Cái lý do mới, phi lý làm sao! Thôi mặc. 

– Vâng. Được rồi. Cháu sẽ không đến nữa. 

Không được gặp Alissa thật là đau đớn: nhưng nếu được gặp nàng, tôi càng thêm lo ngại; nàng sẽ đổ cho tôi chịu trách nhiệm bệnh tình của Juliette. Thà không gặp nhau còn hơn để nhìn nàng hờn giận. 

Dù sao, tôi cũng mong mỏi gặp lại Abel. Đến nhà anh, người làm đưa cho mảnh giấy: 

“Tôi để lại anh vài dòng này để anh đừng bận tâm lo ngại. Ở tại Havre này, tôi không thể chịu được nữa. Tôi đi Southampton chiều hôm qua ngay sau khi từ biệt anh. Tôi sẽ ở lại nhà Londres, ở nhà S…, ở cho đến hết những ngày lễ này. Chúng ta sẽ gặp lại nhau tại trường”.

Thế là luống công chạy cầu cứu khắp nơi. Tôi không muốn kéo dài thời hạn cuộc sống nơi đây chỉ dành cho tôi toàn những đau khổ. Tôi về Paris trước ngày nhập học. Tôi chỉ còn biết hướng về Thượng Đế… Tôi đem nỗi khổ này phụng dâng cho người. Tôi tin rằng Alissa cũng tìm nương náu trong lòng đấng Chí Tôn và ý nghĩ ấy làm cho lời cầu nguyện của tôi càng thêm thắm thiết. 

Thời gian dài trôi qua. Một thời gian suy tưởng, chiêm niệm và học hành, không có những biến cố nào xảy ra. Trước sau chỉ là những bức thư của Alissa, và những bức thư tôi viết lại cho nàng. Tôi còn giữ thư của nàng; những kỷ niệm của tôi nếu có lẫn lộn, từ giờ sẽ nhờ những bức thư ấy đánh dấu rõ hơn… 

Nhờ dì Félicie và nhờ nàng nên tôi còn được tin tức ở Havre, được biết bịnh tình nguy kịch của Juliette đã gây lo lắng như thế nào trong những ngày đầu. Mười hai ngày sau khi đi, tôi mới nhận được mảnh thư nhỏ bé này của Alissa: 

Anh Jérôme tha lỗi cho em, vì không viết thư cho anh được sớm hơn. Bịnh tình của Juliette không cho em đủ thì giờ. Từ ngày anh đi, không lúc nào em rời được Juliette. Em có nhờ dì Félicie cho anh hay tin tức nhà, và em chắc dì đã làm theo ý em. Thì hẳn anh đã biết từ ba hôm nay bịnh tình Juliette đã thuyên giảm. Em một lòng cảm tạ Thượng Đế nhưng chưa dám vội hân hoan.

Và Robert nữa, mà trước nay tôi ít nhắc đến, Robert đã tựu trường và cho tôi những tin tức hai chị. Tuy không hợp tính y, nhưng vì tình yêu đối với người chị, nên tôi để tâm chăm sóc Robert ít nhiều. 

Nhờ có Robert nên tôi được biết nhiều điều, không thể trực tiếp hỏi được Alissa: Édouard Teissières thường rất năng lui tới ân cần viếng thăm Juliette nhưng cho đến khi Robert từ giã Havre, chàng vẫn chưa được thấy lại nàng. Tôi cũng được biết rằng từ ngày tôi đi Juliette rất lặng lẽ với chị. 

Rồi sau nhờ dì Félicie, tôi được hay tin lễ đính hôn của Juliette, nhưng tôi linh cảm rằng Alissa bất bình cuộc hôn nhân này, nàng rất mong nó sẽ không thành tựu là hơn. Nhưng Juliette lại muốn sớm ngày nào hay ngày ấy. Sự quyết định đó không gì lay chuyển được; van xin khuyên nhủ, cản ngăn đều vô ích. Sự quyết định mạnh mẽ chắn ngang tim nàng, bịt mắt nàng, vây bọc nàng trong một sự lặng lẽ kéo dài mờ hoen ri rỉ. 

Thời gian trôi qua. Tôi nhận được toàn những mảnh thư gây tuyệt vọng của Alissa. Sương lạnh mùa đông vây ám suốt tâm tư; ngọn đèn thao thức học hành, tất cả những thắm thiết sôi nổi của tình yêu, và của lòng tin tưởng, không xóa nổi bóng tối lạnh lùng trong lòng tôi. Thời gian qua. Lá còn rớt. 

Rồi một buổi sáng mùa xuân đột ngột, một bức thư của Alissa gửi cho dì Plantier, dì vắng nhà buổi đó, bức thư sau này dì tôi gửi lại cho tôi, tôi xin trích ra đây một vài đoạn có thể soi sáng phần nào cho câu chuyện rắc rối kia. 

… Cô xem, cháu dễ bảo biết mấy. Nghe theo lời cô dặn, cháu có tiếp ông Teissières; cháu có nói chuyện nhiều với ông ta. Và cháu có nhận thấy rằng ông ta tỏ ra hoàn toàn về mọi phương diện, và cháu bắt đầu tin rằng cuộc hôn nhân này sẽ không đến nỗi gây đau khổ nhiều như ý con tưởng ban đầu. Thật thế, Juliette không yêu chàng, nhưng càng ngày cháu càng thấy rằng chàng rất đáng được yêu. Chàng bàn đến tình trạng này một cách sáng suốt và tỏ ra hiểu rõ tính khí em của cháu nhiều, nhưng chàng rất tin tưởng ở hiệu lực tình yêu mình, và cho rằng không có gì mà lòng thủy chung của chàng lại không thắng nổi. Nghĩa là cho cô thấy quả chàng đã rất thiết tha. 

Cháu rất cảm động thấy Jérôme chăm sóc đến Robert. Cháu nghĩ rằng chàng làm thế vì bổn phận thôi, chớ tính khí của Robert không tương hợp với chàng – và làm thế có lẽ Jérôme muốn cháu vui lòng thôi – nhưng chắc hẳn chàng cũng nhận thấy rằng trách nhiệm mình chịu gánh mà càng nặng thì tinh thần của mình càng được nung nấu và nâng cao. Xin cô đừng cười là đứa cháu nói chuyện “siêu việt” nhé. Đó là những tư tưởng đã nâng đỡ cháu và giúp đỡ cháu có thể gắng nhận ra được rằng cuộc hôn nhân của Juliette là một điều hay. 

Lòng ân cần thân ái của cô đối với cháu thật êm dịu và an ủi biết bao! Nhưng xin cô đừng tưởng rằng cháu đau khổ; cháu có thể quả quyết rằng; trái lại, vì chính sự thử thách vừa dày vò Jérôme đã có một phản ứng nơi cháu: “Bất hạnh cho kẻ nào đặt hết lòng tin cậy của mình vào tay con người”. Trước khi tìm lại được câu ấy trong Thánh kinh, cháu đã được đọc lời ấy trên một tấm ảnh Noel của Juliette gởi cháu thuở anh ấy chưa được mười hai tuổi, và cháu vừa được mười bốn tuổi. Trên tấm ảnh ấy, bên cạnh bó hoa mà ngày ấy chúng cháu thấy đẹp vô cùng, có mấy dòng thơ này dịch giải của Corneille:

Huyền ảo nào hướng ta về Thượng Đế? 

Thắng khổ lụy trần gian? 

Bất hạnh thay kẻ nào tin có thể 

Dựng tình mình trên tình của nhân gian.

Cháu thú thật là mấy câu đó không xui cháu cảm kích nhiều. Cháu thích mấy câu “Tiết” đơn giản của Jérémie hơn; hơn đến vạn lần. Chắc anh Jérôme khi chọn tấm carte ấy không để ý mấy đến lời thơ kia, nhưng nếu phán đoán theo thư từ của chàng thì cháu tin rằng những khuynh hướng của chàng ngày nay rất giống của cháu, và mỗi ngày cháu hằng cảm tạ Thượng Đế biết bao. Người đã đồng thời kéo hai tâm hồn của hai chúng con về bên lòng thương vô hạn của Người. 

Nhớ lời cô dặn, cháu không viết thư cho chàng dài như trước, để chàng yên tâm học hành. Chắc cháu sẽ thấy rằng chính cũng vì vậy mà cháu tìm đắp đổi cho mình bằng cách nói về chàng cho thật nhiều; sợ còn tiếp tục dài dòng, cháu xin ngừng bút ở đây; một lần này trót lỡ, xin cô chớ rầy rà.

Bức thư gây cho tôi những ý nghĩ gì! Tôi thầm trách sự can thiệp trống trải của dì tôi (lời dì dặn ấy là lời gì, để cho nàng không viết thư cho tôi nữa?) rồi dì lại còn vụng về ân cần gửi lại tôi bức thư! Sự im lặng của Alissa đã làm tôi khổ não không cùng. Điều nàng không nói với tôi, nàng lại đem nói với kẻ khác. Nếu sự thật có buồn tủi như thế thì thà dì giấu đi, đừng cho tôi hay biết, có phải hơn không? Cả bức thư không lời nào là không làm tôi cáu: sao nàng lại có thể kể cho dì tôi nghe một cách dễ dàng như thế những điều kín đáo nhất riêng giữa hai chúng tôi, sao giọng nàng lại tự nhiên, lại điềm tĩnh, lại trang nghiêm và vui tươi đến thế? 

Nhưng nào có gì đâu! Cái điều xui anh cáu, là duy chỉ bởi anh biết được rằng cái thư này, nàng không chịu gửi cho anh! Abel bảo tôi như thế. Tôi xem Abel như người bạn duy nhất, mà hàng ngày tôi có thể kể hết nỗi niềm; hằng ngày cảm thấy cô độc, tôi có thể đem thố lộ hết tâm can: nhớ nhung, sướt mướt, thở than, mọi thứ đều xui tôi tìm tới anh để trút bớt… thiếu tin tưởng ở mình, nhiều lúc luống cuống chỉ còn biết nghe theo lời anh bày vẽ, mặc dù bản tính chúng tôi rất khác nhau, hay có lẽ chính vì chỗ khác nhau ấy mà tôi càng thấy dễ giải bày… 

– “Giờ ta hãy xét kỹ bức thư này, anh nói thế và đem giở bày bức thư ra trên bàn. Cặp Juliette Teissières, chúng ta hãy bỏ thiêu trong lửa tình, phải thế không? Chúng ta cũng thừa biết ngọn lửa ấy nó ra cái làm sao rồi! Hừ! Teissières tôi trông có vẻ dáng là con bướm để cháy thiêu trong ngọn lửa ấy được lắm… ” 

Tôi khó chịu trước lối khôi hài của anh: 

– Thôi, gác việc ấy lại. Hãy xét đến việc khác. 

– Việc khác?… Mọi việc khác của bức thư là chỉ dành riêng cho anh thôi! Anh còn than van nỗi gì? Không một dòng, một chữ nào không đầy tình thương nhớ anh. Có thể nói rằng cả bức thư trọn vẹn là viết để gửi riêng cho anh thôi. Bà Félicie chuyển nó lại cho anh là đúng lắm; kẻ chân chính được nhận là anh chứ còn ai; vì không gửi được cho anh nên Alissa gửi bừa cho bà cô, cũng như nàng có thể gửi cho một kẻ nào khác. Nếu thật tình muốn nói chuyện với dì anh thì hà tất phải dài dòng văn tự, lại thêm thơ của Corneille nữa, cái mới chết! – Thật thì là thơ của Racine; – quả là nàng chỉ trò chuyện với anh thôi, thật đấy, chỉ với anh thôi, nàng mới tỉ tê tâm sự dài dòng. Anh là một kẻ hết sức khờ khạo, nếu nội trong hai tuần nữa, cô em không viết thư cho anh cũng dài dòng, tự nhiên, và tươi tốt dễ thương như thế. 

– Chưa chắc gì. 

– Chắc hay không là do anh. Anh muốn tôi khuyên một điều? Từ nay tuyệt nhiên đừng nói gì cả. Đừng. Cứ im lặng, không nói chuyện tình ái, không nói chuyện hôn nhân, không của tin canh thiếp, không nạp thái vu quy… Anh không thấy rằng từ ngày xảy ra cái “tai nạn” Juliette, thì cô chị ghét nhất là nghe nói tới hôn nhân đó sao? Cứ tác động trên tình ruột thịt, cứ nói mãi với nàng về chuyện Robert, nếu anh kiên nhẫn lo chăm sóc cho cái thằng khỉ ngốc đìu hiu ấy. Cứ tiếp tục làm đẹp ý cái phần lý trí của nàng; mọi sự sẽ theo sau, vuông tròn ra hết cả. A! Nếu được tôi mà viết cho nàng thì khỏi phải nói. 

– Anh sẽ không xứng đáng được yêu nàng. Tuy thế, tôi vẫn theo lời Abel, và quả đúng như lời chàng, chẳng bao lâu thư của Alissa bắt đầu “có hồn” trở lại. Nhưng tôi vẫn chưa thể hy vọng là nàng đã thật sự hân hoan, khi tình cảnh và hạnh phúc của Juliette chưa được yên ổn. Nhưng dần dà những tin tức về Juliette đã thấy khả quan. Hôn lễ của nàng sẽ cử hành vào tháng bảy. Alissa nói trong thư rằng nàng biết ngày ấy Abel và tôi bận học không thể về… Tôi hiểu ý nàng muốn nói rằng chúng tôi không nên có mặt hôm đó là hơn. Thế là chúng tôi lấy cớ bận học hành, thi cử, nên không về. Chỉ gởi lời chúc mừng. 

Mười lăm ngày sau khi hôn lễ Juliette. Alissa viết thư cho tôi: 

Anh Jérôme yêu dấu,

Em ngạc nhiên biết bao, hôm qua tình cờ giở tập thư Racine của anh tặng em ngày nọ, lại thấy bốn câu thơ trong tấm ảnh Noel mà anh gởi cho em năm xưa, mà em giữ đã mười năm nay trong quyển kinh Thánh.

Huyền ảo nào hướng ta về Thượng Đế? 

Thắng mọi lụy trần gian 

Bất hạnh thay kẻ nào tin có thể 

Dựng tình mình trên tình của nhân gian!

Xưa nay em cứ tưởng là mô phỏng theo Corneille, và thú thật là em không thấy tuyệt vời gì cho lắm. Nhưng rồi tiếp tục đọc bản thánh ca thứ tư, em gặp nhiều đoạn hay đến nỗi không thể lặng yên được, đành chép lại cho anh đây. Cólẽ anh đã biết rồi. Không sao! Em chép lại là vì vui mà chép. Chép cho anh hay chép cho em cũng thế, và em cảm thấy như đương cùng anh thong dong đọc lại:

Của chân lý nhiệm mầu 

Vang vang lời khuyên bảo: 

Hỡi con cái người đời, 

Ngươi nhọc sức vì đâu? 

Tại sao người nhầm lẫn 

Đem máu thắm của mình 

Không đổi lấy cơm bánh 

Mà đổi lấp chập chờn 

Một ảo ảnh pha phôi? 

Miếng bánh ta nói đó 

Là bánh của thiên thần 

Chính do tay Thượng Đế 

Tạo với gạo trắng trong 

Miếng bánh rất bổ ích 

Không hề có ở đời, 

Ta hiến cho ai chịu 

Bằng lòng theo ta thôi 

Nếu ý ngươi muốn sống 

Hãy cứ tiến đến gần 

Cầm lấy, ăn và sống 

Đừng nấn ná, phân vân. 

Linh hồn nào may mắn 

Chịu tuân mệnh lệnh Người 

Thì tìm ra thanh thản 

Êm đềm sống yên vui, 

Uống nước trong thuần túy, 

Tồn lưu chảy dạt dào 

Mọi người đều có thể 

Uống được cả, quý sao! 

Nhưng thương người dại dột 

Chạy đi tìm suối dơ 

Chạy đi tìm giếng đục, 

Nước không sạch bao giờ.

Có đẹp không? Anh Jérôme! Anh có thấy những vần thơ ấy đẹp gay cấn như em thấy không? 

Trong tập sách của em có ghi chú rằng khi bà Maintenon nghe nàng D’Aumale hát lên, cảm động ngợi khen, và “giỏ mấy giọt lệ” và bảo nàng hát lại nhiều lần. Em đã thuộc lòng nó rồi, và cứ lặp đi lặp lại mãi. Em chỉ buồn một điều là không được nghe anh đọc cùng em. 

Tin tức đôi bạn du lịch vẫn rất tốt. Anh đã biết, Juliette đến Bayonne và Biarritz, và nàng mãn nguyện biết bao; mặc dầu trời thì nóng như thiêu như đốt. Rồi tiếp tục họ viếng Fontarabie. Từ Monserrat, Juliette vừa viết về cho em một bức thư thật đầy hứng thú. Hai vợ chồng còn định nấn ná ở Barcelone mười hôm nữa trước khi trở về Nimes – Édouard muốn về trước tháng chín, để có thể tổ chức việc hái nho. Thật là gay cấn. 

Từ một tuần nay, ba em và em ở Fongueusemare. Mai đây, cô Ashburton sẽ đến, và Robert sẽ trở về vào khoảng bốn hôm nữa. Anh biết chứ, chú chàng làm sao lại hỏng thi quách, nghe ra thì không khó gì nhưng vị giám khảo hỏi nhiều câu quá bê bối oái oăm làm cho nó luống cuống; em cũng tin rằng Robert đã chuẩn bị dọn thi sẵn sàng, và anh có biên thư cho em biết nó cố gắng nhiều, nhưng hình như vị giám khảo kia có tính lai rai, thích ghẹo chọc cho học sinh lóng cóng leo thang chơi. 

Còn những sự đỗ đạt của anh thì em hầu như không thể tìm được lời khen ngợi, vì việc đỗ đạt của anh, em thấy là sự dĩ nhiên. Em vẫn tin tưởng rất nhiều ở anh, Jérôme ạ, hễ nghĩ tới anh, là lòng em thấy chứa chan hy vọng. Anh đã sắp có thể bắt đầu ngay bây giờ công việc mà anh đã nói với em chưa? 

… Ở đây không có gì thay đổi cả. Vườn cũ vẫn như nguyên, nhưng trong nhà vẫn có phần vắng vẻ. Anh hiểu chứ, vì sao em lại yêu cầu anh năm nay đừng trở về Fongueusemare nữa: em cảm thấy rằng có lẽ như thế mà hơn, hằng ngày em vẫn tự nhủ thầm với mình điều ấy, mà vẫn yếu đuối cảm thấy buồn nhiều, vì lâu ngày không gặp lại anh… Đôi khi, em dõi tìm anh, lòng bâng khuâng mong đợi… Em tưởng chừng như anh đứng đó tự bao giờ! 

Em tiếp tục viết nốt bức thư này. Đêm đã khuya anh ạ; mọi người đã an giấc, em còn chong đèn thao thức viết cho anh, trước khung cửa sổ mở; vườn cây ngào ngạt hương thơm; khí trời ấm áp. Anh còn nhớ chăng, thuở chúng mình còn nhỏ, mỗi khi được thấy hay nghe một điều gì rất đẹp, thì chúng mình lại thầm nghĩ: Xin cảm tạ Thượng Đế đã tạo ra… Đêm nay, với cả tâm hồn, em thiết tha thầm nghĩ: Xin cảm tạ Thượng Đế đã tạo nên cái đêm êm đẹp này. Và bỗng nhiên em mong muốn có anh ở đấy, đứng ngay bên cạnh em, em cũng cảm thấy mãnh liệt đến nỗi tin rằng chắc anh cũng đương cảm thấy như em. 

Vâng, anh nói rất đúng:… niềm ca ngợi trong những “tâm hồn phong vận” hòa lẫn với lòng tri ân… Còn biết bao điều em muốn nói! Em nghĩ đến cái xứ huy hoàng kia, mà Juliette đã tả cho em nghe. Em nghĩ đến những xứ nào huy hoàng hơn, bát ngát hơn, và hoang liêu hơn nữa. Em cảm thấy trong lòng một niềm tin lạ lùng rằng một ngày kia, em chẳng hiểu vì sao đôi ta sẽ cùng chung ngắm nhìn một xứ nào huyền ảo…

Hẳn bạn cũng tưởng tượng nỗi vui lạ thường của tôi khi đọc bức thư ấy. Yêu thương ngập tràn, tâm hồn tôi như thổn thức. Nhiều bức thư khác tiếp theo. Ừ, thật thế Alissa cảm ơn tôi đã nghe lời nàng yêu cầu đừng về Fongueusemare năm nay nữa, thật thế, nàng mong tôi đừng tìm gặp lại nàng năm nay, nhưng rồi nàng hối tiếc, nàng buồn vì vắng mặt tôi; giờ nàng cầu mong gặp gỡ; trang thư nào cũng như vang giọng tha thiết kêu gọi, chờ mong. Làm sao tôi đã đủ sức cưỡng lại. Vì nghe theo lời Abel, vì sợ có thể bất thình lình làm tiêu tan hạnh phúc, và vì khuynh hướng tự nhiên của tâm hồn tôi không chịu nghe theo tiếng gọi lôi cuốn của con tim. 

Tôi chép lại đây những trang thư nào có liên quan nhiều đến câu chuyện này, và giúp câu chuyện sáng tỏ hơn. 

Anh Jérôme yêu dấu.

Đọc thư anh, em vui mừng khôn xiết. Em đương sắp hồi âm bức thư anh viết từ Orvieto, thì đồng thời lại bắt tiếp được luôn cả hai bức thư từ Pérouse và Assise. Thế là tâm hồn dõi theo anh và cùng anh hân hoan du hành đây đó, tuy em vẫn ngồi tại nơi đây. Ừ, em cùng anh nhịp nhàng tiến bước song song trên những con đường trắng xóa ở Ombrie, em lên đường với anh buổi sáng, em nhìn với anh hai con mắt mới một cảnh bình minh chói rạng, huy hoàng. Trên gò đống Cortone, có phải anh đã lên tiếng gọi em? Em nghe thấy giọng rõ ràng… Trên sườn núi giáp miền Assise sao mà chúng ta khát nước dễ sợ thế! Và ly nước của người Franciscain càng mát dịu biết bao! Ô! Anh ơi! Em nhìn qua anh, thấy mọi vật, mọi người… Điều anh biết về Thánh Francois đã xui em cảm động xiết bao. Vâng, phải thế không, điều cần tìm kiếm là một niềm phấn chấn thiết tha, chớ không phải là một cơn phóng thích tư tưởng… Phóng thích, thì nhất định là do kiêu hãnh tai hại. Đem cao vọng mình ra để phụng sự chớ không phải để phản kháng. 

Tin tức đôi bạn ở Nime mới tốt đẹp làm sao! Và em tưởng như Thượng Đế chịu cho phép em buông linh hồn theo hoang lạc. Buồn một tí là sức khỏe của ba càng ngày càng suy giảm. Mùa hè năm nay ba rất buồn, dù em hết lòng chăm sóc; em rời một bước là ba lại buồn rồi, và càng ngày càng khó làm ba khuây khỏa hơn. Niềm vui của cảnh sống quanh mình nói lên một ngôn ngữ nào ba em không còn hiểu được nữa; và cũng không chịu để ý lắng nghe. Cô Ashburton khỏe mạnh. Em đọc cho hai người nghe những bức thư của anh; mỗi bức đủ để gia đình nói chuyện trong ba ngày; và thế là lại tiếp được một thư mới… 

… Robert từ giã gia đình hôm kia; cậu muốn mấy ngày hè về ở chơi quê một người bạn, cha là một chủ trại. Thật anh ạ, đời sống ở đây chả có gì vui đối với Robert cả. Nghe Robert định thế, thì em chỉ còn khuyến khích cậu ta mà thôi. 

Em còn biết bao chuyện nói với anh, em muốn liên miên nói mãi không ngừng! Đôi khi em không tìm ra ý rõ rệt nữa, – chiều nay em vừa viết mà như vừa mơ – chỉ giữ một cảm giác rất nồng nàn, đến hầu như chua xót, về một nỗi phong phú vô biên của tâm hồn muốn dâng cho, và mong được nhận. 

Làm sao chúng ta đã lặng thinh, không thư từ cho nhau suốt ba tháng trời! anh nhỉ? Chúng ta ngủ một giấc dài cho qua một mùa đông băng giá chắc! Thôi nhé! Cầu trời cho mùa đông lặng lẽ ghê sợ ấy đừng bao giờ trở về nữa, từ nay trên lá cỏ sinh tồn. 

Từ ngày viết thư lại cho anh, còn được nói chuyện với anh, thì cuộc đời và linh hồn chúng ta thảy thảy đều đẹp đẽ và phong phú lai láng biết bao lửa lựu lập lòe. 

12, tháng chín.

Em có nhận được bức thư anh gởi từ Pise về. Ở nhà thời tiết cũng ôn hòa; trời đất thật là rực rỡ, chưa bao giờ em thấy Normandie đẹp đẽ thế này. Hôm kia em đi dạo đồng một mình, đi không chủ định; lúc về thấy trong người phấn khởi hơn là mệt mỏi, mải mê vì ánh trời và hạnh phúc… Những đống rơm rạ ngoài đồng mới đẹp làm sao dưới ánh trời chang chói! Em không cần phải tưởng tượng mình ở bên Ý mới thấy vạn vật huy hoàng như biển đông xe cát. 

Vâng, anh ạ, quả đúng như anh nói, em lắng nghe và nhận rõ trong bản hòa âm mơ hồ huyền diệu của đất trời, có gì như một lời khích lệ, như mọc mời người hãy trút hận để hân hoan. Em lắng nghe rõ giọng chào mừng trong từng tiếng chim ca; em thở niềm vui trong mỗi mùi hương của từng nụ hoa nở. Thấy lòng tràn trào một tình yêu khôn tả, và không hiểu về sau nó sẽ kêu gọi lời gì… 

Nhưng anh chớ ngại rằng em say mê cảnh trời mà quay làm người thô lậu. Lúc sau này em đọc sách nhiều lắm: một đôi ngày trời mưa, không ra ngoài được em đã đem hết tâm hồn sùng phụng “xếp vào” trong những trang sách. Em đã đọc xong Malebranche và tiếp liền tập Lettres và Clarke của Leibniz. Rồi để giải trí, em đọc Les Cenci của Shelley, nhưng không thấy thú. Và La Sensitive nữa… Em sắp làm anh giận đấy nhé: em bằng lòng bỏ hết Shelley, hết Byron vì bốn bài đoản thi của Keats, mà chúng ta cùng đọc với nhau mùa hè trước; cũng như em bằng lòng đổi cả Hugo để lấy mấy bài Sonnet của Baudelaire. Cái tiếng “đại thi nhân” chả có nghĩa gì cả; “thi sĩ thuần túy” đó mới là điều quan hệ! Ồ, anh ơi! Em xin cảm tạ anh đã giúp em hiểu biết và yêu chuộng mọi thứ này. 

Không, anh đừng nên rút ngắn chuyến du lịch để về nhìn nhau vui hứng trong vài ngày. Thành thật, em nghĩ rằng chúng ta khoan vội gặp nhau. Hãy tin lời em, anh nhé: khi anh ở gần bên em, em sẽ không thể nào nghĩ đến anh nhiều nữa. Em không muốn phiền lòng anh, nhưng sao lạ, em muốn nói rằng ngày nay em như mong đừng gặp lại anh nữa. Em thú thật nhé? Nếu biết rằng chiều nay anh về… em sẽ bỏ đi trốn mất. 

Ồ! Đừng bảo em phải giải thích nỗi tình ấy. Em chỉ biết rằng em nghĩ đến anh luôn (như vậy cũng đầy đủ lắm cho hạnh phúc của anh rồi) và em sống sung sướng với lòng thương nhớ ấy.

Ít lâu sau bức thư này, và ngay khi ở Ý về, tôi bận việc nhà binh, và được đưa về Nancy. Tôi không quen một ai ở đây cả, sống vui trong cảnh cô độc, vì như thế đủ chứng tỏ với tình yêu kiêu hãnh của mình và với Alissa rằng chỉ duy những thư từ của nàng là nơi tôi nương náu êm ấm nhất, và kỷ niệm dung nhan nàng – nói theo điệu Ronsard – kỷ niệm tình yêu nàng là chỗ “thành tựu duy nhất của viên mãn chân lạc chân như”. 

Thật thế, tôi chịu đựng rất dễ dàng kỷ luật nghiêm nhặt của nhà binh. Tôi chịu hết mọi khổ dịch, và trong thư từ gởi về nàng, chỉ tỏ lòng buồn nhớ vì vắng em thôi. Chúng tôi tìm thấy trong cách biệt một sự thử thách xứng với lòng kiên nghị của mình. “Anh, anh không bao giờ kém kiên quyết, em không thể nào tưởng tượng anh nhu nhược yếu mềm…” Alissa viết cho tôi như vậy. Hỡi ôi! Thế là từ đó, mọi thử thách, mọi tân toan nghiệt ngã, tôi xin đem hết đời thanh xuân mê gái của mình ra để mà kham lấy hết, chịu đựng hết, để làm bảo chứng cho mấy lời của người em họ gái kia!!!(°) 

Một năm qua, từ ngày xa cách, Alissa dường như không nghĩ tới cái thời gian dằng dặc ấy chỉ như mới bắt đầu mọng đợi mà thôi. Tôi trách. Và nàng trả lời. 

Em đã không cùng anh ở Ý hay sao? Anh thật là vong ân nhé! Có một ngày nào là em bỏ anh đâu. Anh hãy hiểu rằng, ngày nay, trong một thời gian, em không còn có thể theo dõi anh nữa, và điều đó, duy chỉ điều đó thôi, em mới gọi là cách biệt. Thật thế, nhiều lần em cũng gắng hình dung anh trong bộ quân phục. Nhưng không được. Nhiều lần cho lắm là gặp anh buổi tối, trong gian phòng nhỏ đường Gambetta, đương cắm cúi viết hoặc đang đọc… Nhưng không: thật ra, em chỉ gặp lại anh tại Fongueusamare hoặc tại Havre còn đúng một năm nữa. 

Một năm trời! Em không kể những ngày chờ mong cũ. Em nhìn thấy ngày hội ngộ chầm chậm tiến đến gần, gần… Anh còn nhớ không, ở cuối vườn, có bức tường thấp che giữ những chậu cúc vàng, mà thường ngày chúng ta tập đi trên ấy: Juliette và anh đi rắn rỏi như những người Musulmans mạnh mẽ thẳng bước đi tới Thiên Đàng; còn em, mới bước được một bước là đã thấy choáng váng ngay, trong khi anh đứng dưới kêu lớn: “Đừng có nhìn xuống dưới chân như thế!… Nhìn thẳng tới trước! Tiến lên! Nhìn thẳng đích mà bước!”. Rồi cuối cùng anh leo lên ở đầu tường bên kia chờ em. Thế là em không còn run sợ nữa. Không thấy chóng mặt nữa: em chỉ biết có nhìn anh, và chạy vội đến ngã vào tay anh mở rộng… 

Nếu không tin cậy nơi anh, thì em sẽ ra sao, anh Jérôme? Em cần tin tưởng ở anh, tin rằng anh cương nghị, em cần nương tựa nơi anh. Anh đừng tỏ ra yếu đuối.

Từ đó, như một lối tự thử thách mình, chúng tôi cao hứng muốn kéo dài sự chờ đợi ra thêm – và cũng vì sợ sự tái hợp sẽ không hoàn toàn, chúng tôi thỏa thuận với nhau rằng: mấy ngày nghỉ phép dịp Năm Mới tôi sẽ về Paris, ở với cô Ashburton… 

Tôi đã nói rồi: sẽ không chép lại mọi thư từ. Đây là lá thư tôi nhận được, khoảng trung tuần tháng hai. 

Xúc động mạnh, hôm kia, đi ngang đường Paris, thấy trước cửa hàng bày lộ liễu cuốn sách của Abel mà anh có nói cho em biết, nhưng em không thể tin là có thật. Em không cầm lòng được, bước vào gian hàng; nhan đề cuốn sách em thấy lố bịch đến nỗi ngần ngừ mãi không mở miệng hỏi mua: em còn nghĩ tới lúc rời khỏi hiệu sách, phải mang thêm bất cứ một tập sách nào khác… May thay, một chồng tạp chí loại “rẻ rúng” nằm đó, bên chỗ thu tiền. Em vớ bừa một tập, quăng vội mười hào bạc, bước ra khỏi phải thốt lời nào.

Em cám ơn Abel đã tỏ ra còn biết điều đôi chút, nên không gửi tặng sách. Em giở tập sách, mà cảm thấy xấu hổ; xấu hổ nhiều không phải chỉ vì cuốn sách – dù sao cũng chứa nhiều ngốc nghếch hơn là tục tĩu – nhưng xấu hổ vì nghĩ rằng tác giả cuốn sách là Abel, Abel Vautier, bạn của anh Jérôme. Em thu xếp khắp từng trang mà chẳng thấy đâu là cái “tài năng lớn” như nhà phê bình trong tạp chí Thời Đại Bách Khoa đã khám phá ra. Ở Havre, nơi cái xã hội tí hon này, người ta thường nói tới Abel, em mới hay là cuốn sách được tồn lưu lắm. Cái chết bông lông tầm phào vô phương cứu chữa của chú chàng, người lại cho là thể cách “nhẹ nhàng uyển chuyển”: cố nhiên em cẩn thận dè dặt, chỉ nói riêng với anh điều này. Tội nghiệp mục sư Vautier! Ban đầu ông ta buồn phiền là phải, thế mà cuối cùng đâm ra tự nhủ: không chừng cuốn sách thế mà có giá trị, là một lý do để hãnh diện cũng nên. Mọi người xung quanh thôi thì cứ mà tán hưu tán vượn cho ông ta tin thế. Hôm qua, tại nhà cô Plantier, bà V, đột ngột bảo: “Thưa mục sư, chắc hẳn mục sư phải hài lòng lắm đó, vì sự thành công rực rỡ của cậu Abel! “. Mục sư ngượng ngùng đáp: Ồ, quả thật, tôi chưa cảm thấy thế… – “Nhưng rồi mục sư phải cảm thấy thế! Phải cảm thấy thế!” Cô Plantier nói tiếp liền một mạch hồn nhiên vồ vập đến nỗi mọi người cùng cao hứng bật cười, cả mục sư cũng vậy. 

Nghe chừng chú chàng còn đương soạn vở Nouvel Abeilard cho một ban kịch nham nhở nào chẳng rõ, nếu đưa ra trình diễn thì sẽ còn xảy ra những gì? Dường như báo chí đã rục rịch khởi sự bàn tới?… Tội nghiệp! Có lẽ nào Abel lại ao ước thành công theo lối đó, và sẽ thỏa mãn với chừng đó hay sao? 

Hôm qua em đọc những lời này trong Nguồn Vui Vĩnh Viễn: “Kẻ nào thật sự ước vọng vinh quang chân chính và trường cửu, kẻ ấy không kể gì vinh quang hiện thế; không biết xem thường vinh quang trần tục, là tỏ ra không biết yêu sự vinh hiển cao xa”, và em nghĩ; xin cảm tạ Thượng Đế, đã chọn Jérôme để hướng về sự vinh hiển nơi thương khung bát ngát, so vào thì vinh hiển trần tục còn có nghĩa lý gì.

Ngày tháng lặng lẽ trôi qua trong những công việc buồn tẻ; nhưng vì mải mê để hết tâm hồn nghĩ đến những kỷ niệm cũ, và hy vọng ngày mai, nên tôi không cảm thấy tháng ngày chậm chạp ri rỉ là bao. 

Đúng ra thì vào khoảng tháng sáu, cậu tôi và Alissa đi thăm Juliette ở gần Nimes, Juliette đẻ vào khoảng ấy. Nhưng vì tin tức không được tốt đẹp lắm, nên chuyến đi phải vội vã khởi sự sớm hơn. Alissa viết cho tôi một bức thư như sau: 

Bức thư cuối của anh gửi về Havre đến vào lúc em vừa rời Havre. Làm sao giải thích được vì lẽ đến tám ngày sau, ở Nimes em mới nhận được. Suốt một tuần, em sống thẫn thờ e ngại mòn hao, lạnh lùng… Anh ơi, em chỉ sống vì anh thôi. Chỉ với anh, em mới thật là em, em mới thật là hơn em bội phần. Sức khỏe Juliette đã khá; sắp đến ngày sinh nở rồi; chắc sẽ êm xuôi, không sao. Juliette biết rằng sáng nay em viết thư cho anh. Sau ngày em đến Aigues Vives một hôm, Juliette hỏi em: “Tin tức anh Jérôme ra sao chị? Anh đương làm gì? Vẫn gửi thư về cho chị luôn chứ? “. Và em phải thành thật đáp. Nàng bảo: “Khi nào chị viết thư cho anh, nhớ nói rằng… nàng có ý ngần ngừ đôi chút, rồi dịu dàng mỉm cười tiếp: “… rằng em đã khỏi bịnh rồi”. Anh Jérôme ạ, trước đây em vẫn thường lo ngại khi nhận được những bức thư rất vui của Juliette, em sợ rằng Juliette cố che dấu lòng mình, và tự dối mình… Hạnh phúc của Juliette ngày nay khác với mộng tưởng ngày xưa biết mấy!… Ồ! Cái điều thiên hạ gọi là hạnh phúc, quả thật là điều rất ít xa lạ đối với linh hồn; và những yếu tố tưởng như cấu tạo nên hạnh phúc từ ở bên ngoài, quả thật là không đáng kể chi mấy! Em xin phép không nói với anh những ý tưởng của mình trong những buổi một mình đi dạo trên “cánh đồng hoang” có điều làm em ngạc nhiên nhất là sao thấy lòng không vui; hạnh phúc của Juliette đáng lẽ làm cho em hân hoan mới phải… Vì sao em lại cảm thấy một nỗi buồn sầu khó hiểu, em gắng xua đuổi mà vẫn hoài công! Phong cảnh ở đây, phong cảnh đẹp vô cùng, em nhận ra, em cảm thấy, lại càng tăng thêm nỗi buồn rầu kỳ quặc. Khi ở bên Ý anh viết thư về, em đã biết nhìn mọi vật qua thị giác anh; ngày nay em thấy hình như mình không chia xẻ với anh, hình như em giữ riêng, em lấy mất của anh những gì em một mình nhìn ngắm… Và thêm nữa, xưa kia… ở Fongueusemare và Havre, em đã từng tạo được cho mình một “năng lực cưỡng kháng” để che chở linh hồn trong những ngày tháng gió mưa; thì ngày nay tại đây, năng lực kia không còn được sử dụng nữa. Và tình trạng buông xuôi “bỏ bê” dã dượi đó, em cảm thấy là một việc trầm trọng vô ngần, em càng hoang mang khôn xiết. Tiếng cười của thiên hạ ở đây làm em bực tức; có lẽ cái mà em gọi là buồn chỉ là không ồn ào được như thiên hạ, thế thôi. Chắc hẳn ngày trước trong nỗi vui của em có pha lẫn chút kiêu hãnh nào, nếu không thì tại sao ngày nay, giữa cái vui bên ngoài,lòng em lại cảm thấy hổ thẹn tủi hờn…Tự ngày tới đây, em cầu nguyện chẳng được mấy tí: em cảm tưởng ngây ngô là Thượng Đế không còn ở vị trí cũ. Nguy rồi! Xin chào anh vội vã. Em xấu hổ vì lỡ thốt lời bất kính phạm thần; em xấu hổ vì lỡ thú nhận sự yếu đuối sầu muộn đó, viết ra những điều mà ngày nay em sẽ xé, nếu chiều nay bưu điện không vội mang đi.

Bức thư tiếp chỉ nói đến sự sinh nở của đứa cháu, nỗi vui của Juliette và của cậu tôi… tuyệt nhiên không nói gì về tâm tình riêng cả. Cái hôn sơ thủy chan hòa? Không. 

Rồi tiếp theo là thư gửi từ Fongueusemare; Juliette về đây với chị vào độ tháng bảy. 

Édouard và Juliette từ biệt ba và em sáng nay. Em quyến luyến nhất là đứa cháu. Sáu tháng nữa, nhìn lại nó, em sợ sẽ không nhận ra được nữa những cử chỉ của cháu; trước nay, em từng theo dõi cháu nhỏ “phát minh” từng cử chỉ cỏn con. Những sự “sinh thành” bao giờ cũng huyền bí nhiệm mầu! Thường thường chúng ta không biết ngạc nhiên là chỉ vì thiếu chú ý. Biết bao lần em đứng im, nghiêng mình bên chiếc nôi tí hon chứa chan hy vọng. Nhưng bởi đâu sự phát triển chấm dứt quá sớm; bởi sự vị kỷ nào, bởi sự tự mãn nào mọi sinh vật bỗng trở thành cố định và dừng lại lúc còn quá cách biệt với Chí Cao? Ồ! Nếu chúng ta còn muốn tiến gần Thượng Đế hơn nữa… thì cuộc hành trình yêu hoa nhị nguyệt sẽ hăm hở nô nức xiết bao.

Juliette có vẻ rất sung sướng. Ban đầu em hơi buồn thấy Juliette bỏ không chơi dương cầm nữa, nhưng vì Édouard Teissières không thích âm nhạc, và cũng không thích xem sách mấy; kể ra Juliette hành động thế là phải, không tìm thú vui riêng cho mình, nếu chồng không thể cùng san sẻ. Trái lại, nàng rất chú tâm vào công việc làm ăn của chồng. Công việc làm ăn rất phát đạt; Édouard thường vui thích nói rằng chính nhờ cuộc hôn nhân này mà chàng có được đông khách hàng ở Havre. Trong những chuyến đi công việc vừa rồi, Robert cùng đi với chàng; Édouard rất lưu tâm chăm sóc em vợ; chàng tin rằng mình rất hiểu tâm tính Robert, và chàng không mất hy vọng sẽ có ngày nhìn thấy Robert thật sự yêu thích công việc làm ăn kia. 

Ba em sức khỏe có khá nhiều. Nhìn thấy con gái sống hạnh phúc; dường như ba trẻ ra; và tìm thấy hứng thú trong nông trại. Những lúc rỗi bảo em đọc sách, nghe em đọc những chuyến du lịch của bá tước Huebner; và chính mình cũng thấy thích, em cũng còn nhiều thì giờ rỗi đọc thêm, nhưng em đương chờ những điều chỉ dẫn của anh; sáng nay, em cầm hết tập này đến tập khác mà không thích tập nào cả”.

Từ đây trở đi, thư Alissa ngày càng tha thiết. Vào độ cuối hè, nàng viết: 

Vì sợ anh lo nên em không nói cho anh biết em chờ mong anh như thế nào. Mỗi ngày không thấy anh, em thấy nặng nề làm sao. Còn những hai tháng nữa! Hai tháng, mà sao nghe chừng như dài dằng dặc, dài hơn tất cả những năm tháng xa anh từ trước tới nay. Em cố gắng tìm cách nguôi khuây nhưng vô ích. Sách vở không còn khuây khỏa nữa, đi dạo cũng không vui, cảnh vật hết tươi đẹp, khu vườn quanh nhà cũng phai nhạt phấn hương rồi. Em thèm thuồng những khổ dịch của anh, những sự tập tành bó buộc, không theo ý mình chọn lựa, không cho phép mình ngồi đối diện với mình, chúng lôi bừa anh đi, chúng làm anh mệt nhọc, cho ngày chóng qua, và chiều tối là lăn ngay vào giấc ngủ… Em nghe anh tả những buổi thao diễn, hành binh, mà thấy lòng nao nức, tâm trí cứ bị ám ảnh… 

Những đêm gần đây em ít ngủ, nhiều lần trở giấc thình lình nghe tiếng kèn giục giã. Nghe thật sự, anh ạ. Em hình dung rất rõ niềm tê mê phơi phới anh nói đó, mỗi buổi mai thức dậy trước đất trời… giữa bình minh rạng rỡ giá buốt, phong cảnh vùng cao nguyên Malzéville hẳn là phải đẹp lắm! 

Vài ngày nay, em không được khỏe lắm. Ồ! Chả có gì hệ trọng lắm đâu. Chỉ tại chờ anh quá nhiều mà nên thế.

Và sáu tuần sau. 

Đây là thư cuối cùng của em. Dù anh chưa định trước ngày về, nhưng chả còn bao lâu nữa; em không còn thể viết gì cho anh. Em muốn sẽ được gặp anh ở Fongueusemare, nhưng vì thời tiết quá xấu, nên ba em muốn về lại phố. Ngày nay Robert và Juliette cùng đi cả rồi, thì anh có thể trọ lại nhà em được lắm, nhưng tốt hơn là anh nên ở nhà cô Félicie, cô sẽ sung sướng tiếp đón anh. 

Ngày về của anh càng gần, em càng thấy xao xuyến. Gần như lo sợ. Trước nay em nóng ruột mong anh về sớm bao nhiêu, thì nay em như sợ gặp lại anh bấy nhiêu; em gắng đừng nghĩ đến; em… tưởng tượng tiếng chuông anh bấm, tiếng chân anh bước lên cầu thang, tim em như ngừng đập, như thắt lại. Nhưng anh đừng mong em có thể thốt được lời nào… Một quá khứ như đã tận cùng. Dĩ vãng của em dường như kết thúc. Ở bờ phía bên kia, em không nhìn thấy ra cái gì hết. Cuộc đời em đầy ắp dừng sững lại đây.

Bốn ngày sau, nghĩa là một tuần trước ngày tôi bãi khóa, lại nhận được một lá thư ngắn nữa: 

Anh Jérôme, em hoàn toàn tán đồng; không kéo dài quá mức buổi lưu trú tại Havre và thời gian gặp gỡ. Ta sẽ nói được gì nữa với nhau ngoài những điều đã viết? Vậy nếu anh phải về lại Paris ngày hôm 28 vì việc ký danh, anh đừng ngần ngại gì, cũng đừng nên tiếc rằng chúng mình chỉ gặp nhau trong hai hôm. Chúng ta còn cả một cuộc sống, phải không anh?

Chú thích:

(°) Pardon, cher Gide, il nous faut bien ici user quelque peu de violence (dans le Dit de la parole re-créatrico) – pour l’amour de ton Ungedachte diaphane.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: