Phúc Lành Của Đất- Growth of the Soil (Quyển 2- Chương 12)

Knut Hamsun

Một đám diễu hành trứ danh đang tiến lên Sellanraa. Một sự kiện trông khá buồn cười, có lẽ, nhưng còn hơn thế nữa. Ba người đàn ông với những gánh nặng kinh khủng, những cái bao tời treo lủng lẳng quanh vai họ, cả phía trước ngực lẫn sau lưng. Người này bước sau kẻ nọ, và chuyền cho nhau những câu nói đùa, nhưng chất đầy gánh nặng trên người. Anh chàng nhỏ con Andresen, viên thư ký, là người dẫn đầu dám diễu hành; thật ra, đây là đoàn diễu hành của anh ta; anh ta mang đủ mọi thứ, kế đến là Sivert ở Sellanraa, và một người nữa, Fredrick Ström ở Breidablik, đang thực hiện một cuộc viễn chinh. Andresen là một anh chàng bé nhỏ nhưng đáng chú ý; vai anh ta lệch sang một bên vì sức nặng, và cổ cái áo khoác của anh cũng thế, anh ta đi theo cách đó, nhưng vẫn tiếp tục mang theo gánh nặng của mình.

Storborg và công việc làm ăn mà Eleseus bỏ lại – phải, không mua đứt ngay chỗ đó, có lẽ thế, đó là việc Andresen không thể đảm đương nổi; tốt hơn nên chờ đợi ít lâu và có thể có toàn bộ mọi thứ không tốn xu nào. Andresen không phải là một gã khờ; anh ta đã thuê lại chỗ đó trong thời gian chờ đợi, và tự mình điều hành công việc.

Anh ta đã kiểm tra lại những thứ hàng hóa còn nắm trong tay, và tìm ra những món linh tinh không thể bán được trong cửa tiệm của Eleseus, thậm chí cả những thứ như bàn chải đánh răng và những tấm khăn trải bàn có thêu hình ở giữa; phải, và những con chim nhồi bông gắn lò xo sẵn sàng kêu lên quang quác khi bạn ấn vào đúng chỗ.

Đây là những thứ mà hiện giờ anh ta mang theo, để bán chúng cho những người thợ mỏ ở mé bên kia dãy đồi. Anh ta đã biết từ thời Aronsen rằng những người thợ mỏ có đầy tiền trong túi sẽ mua bất cứ thứ gì trên mặt đất. Chỉ tiếc một cái là anh ta phải bỏ lại sáu con ngựa gỗ bập bênh mà Eleseus đã đặt mua trong chuyến đi cuối cùng của cậu tới Bergen.

Đoàn bán hàng rong quẹo vào sân ở Sellanraa và hạ những đồ đạc xuống. Không chờ đợi lâu ở đây; họ uống một ca sữa và vờ như đang cố bán những hàng hóa đó ngay tại chỗ, rồi lại vác các thứ lên vai và lên đường. Họ không giả vờ bỏ đi. Họ đi thật sự, vác những thứ hàng hóa linh tinh băng qua cánh rừng xuống phía nam.

Họ đi đều đều cho tới trưa, nghỉ ăn trưa và lại tiếp tục đi cho tới chiều tối. Rồi họ dựng trại và đốt một đống lửa, nằm xuống và đánh một giấc. Sivert nằm ngủ trên một tảng đá mà cậu gọi là một cái ghế bành. Ồ, Sivert biết cậu đang làm gì; mặt trời ở đây đã sưởi ấm tảng đá suốt ngày dài, cho tới khi nó trở thành một chỗ ngồi và nằm ngủ rất tiện nghi. Hai người bạn đồng hành của cậu không khôn ngoan như vậy, và cũng không chịu nghe theo lời khuyên; họ nằm trên lớp thạch nam, và thức giấc vì thấy lạnh, hắt hơi ầm ĩ. Sau đó họ ăn điểm tâm và lại khởi hành.

Giờ thì hãy lắng nghe xem có bất kỳ tiếng nổ mìn nào ở quanh đây hay không; họ đang hy vọng tới được khu mỏ, và gặp những người thợ trong ngày hôm đó. Cho tới giờ này, công việc chưa đi xa cho lắm; cả một chặng đường dài từ nguồn nước ngược lên Sellanraa. Nhưng không hề có một tiếng nổ nào ở bất cứ nơi đâu. Họ đi tiếp cho tới trưa, không gặp một bóng người; nhưng họ bắt gặp nhiều cái lỗ rải rác đó đây trên mặt đất, nơi những người thợ đã đào thử. Điều này có nghĩa là gì? Không còn ngờ gì nữa, nó có nghĩa là cái mỏ phải giàu quặng hơn ở đầu tận cùng của mảnh đất; thợ mỏ đang thu được đồng nặng nguyên chất, và đang làm việc ở mé đó trong suốt thời gian này.

Vào xế trưa họ tới nhiều khu mỏ hơn, nhưng vẫn không gặp một người thợ mỏ nào; họ đi cho tới sẫm tối, và họ đã ra gần tới biển nằm ngay mé dưới kia; băng qua những khu mỏ hoang vắng quạnh hiu, vẫn không nghe thấy một âm thanh nào. Điều này nằm ngoài khả năng thấu hiểu, nhưng không quan trọng; họ phải dựng trại và ngủ ngoài trời đêm đó. Họ bàn bạc với nhau về vấn đề này: Có thể nào công việc đã bị ngưng lại? Họ có nên quay trở về không? “Không đời nào,” Andresen nói.

Sáng hôm sau có một người đàn ông bước vào trại của họ – một người đàn ông xanh xao, phờ phạc, cau mày nhìn họ chòng chọc. “Phải cậu đó không, Andresen?” Người đàn ông nói. Đó là Aronsen, tay nhà buôn Aronsen. Gã không từ chối một tách cà phê nóng và thứ gì đó để ăn cùng với đoàn bán hàng rong, và ngồi xuống ngay lập tức.

“Tôi nhìn thấy khói từ ngọn lửa của các cậu, và đi lên để xem đó là gì,” gã nói. “Tôi đã tự nhủ, chắc chắn rồi, họ đã tỉnh táo và bắt đầu làm việc lại. Thế nhưng rốt cuộc lại là các cậu! Các cậu đang đi đâu vậy?”

“Tới đây.”

“Các cậu mang theo những thứ gì?”

“Hàng hóa.”

“Hàng hóa à?” Aronsen kêu lên. “Mò lên đây để bán hàng? Ai mua nó chứ? Không có ma nào ở đây hết. Họ đã bỏ đi từ thứ Bảy trước.”

“Bỏ đi? Ai bỏ di?”

“Tất cả mọi người. Giờ không có ma nào ở đây cả. Và dù sao thì chính tôi cũng có đủ hàng hóa. Cả một cửa tiệm chất đầy hàng. Tôi sẽ bán cho các cậu bất cứ món gì các cậu thích.”

Chà, tay nhà buôn Aronsen lại lâm vào tình cảnh khó khăn! Cái mỏ đã đóng cửa.

Họ dồn dập rót cà phê cho gã cho tới khi gã trở nên điềm tĩnh hơn, và hỏi tất cả những chuyện này có ý nghĩa gì.

Aronsen lắc đầu tuyệt vọng. “Không sao hiểu nổi, không có lời nào về chuyện đó,” gã nói. Tất cả đã rất tốt đẹp, và gã đã bán được nhiều hàng, tiền liên tục rót vào; cả làng quanh đây đều no ấm, ăn những bữa ăn ngon lành nhất, dựng một ngôi trường mới, treo những ngọn đèn và mang những đôi ủng làm tại thị trấn, mọi thứ! Rồi đột nhiên những người lãnh đạo trên mỏ nói với họ rằng công việc này không đủ bù đắp, và ngưng hoạt động. Không đủ bù đắp? Nhưng trước đó nó đã bù đắp cho họ? Không phải là ở đó có thứ đồng sạch và dễ dàng nhìn thấy mỗi lần cho nổ đá hay sao? Đó chỉ là trò lừa đảo không hơn. “Và không hề nghĩ tới chuyện đó có nghĩa thế nào với một người như tôi. Phải, tôi ngờ là giống như họ bảo; rằng Geissler nằm dưới đáy của tất cả chuyện này, hệt như lần trước. Hắn tới chẳng bao lâu thì công việc ngừng lại; như thể bằng cách nào đó hắn đánh hơi được nó.”

“Geissler? Vậy ông ta đang ở đây sao?”

“Còn gì nữa? Hắn đáng bị bắn bỏ! Một hôm hắn tới cạnh con tàu hơi nước và nói với tay kỹ sư: ‘Chà, mọi việc thế nào?’ – ‘Rất tốt, trong chừng mực tôi có thể thấy,’ tay kỹ sư đáp. Nhưng Geissler chỉ đứng đó, rồi lại hỏi: ‘Thế ư, ổn cả, phải không?’ – ‘Phải, trong chừng mực tôi biết được,’ tay kỹ sư nói. Nhưng cũng thật như tôi đang ở đây, ngay khi bưu điện lên tới con tàu mà Geissler đã tới gần, có cả thư từ và điện tín gửi cho tay kỹ sư nói rằng công việc này không đủ bù đắp, và ông ta phải ngưng hoạt động ngay.”

Các thành viên của đoàn buôn nhìn nhau, nhưng người chỉ huy, chính là Andresen, vẫn chưa mất can đảm.

“Các cậu nên quay trở về nhà đi thôi,” Aronsen khuyên.

“Chúng tôi sẽ không làm như thế,” Andresen nói và gói cái nồi nấu cà phê lại. Aronsen nhìn chằm chặp cả ba. “Vậy là ba cậu điên cả rồi,” gã nói.

Bạn thấy đó, hiện giờ Andresen không quan tâm mấy tới những gì ông chủ cũ của anh ta nói; giờ chính anh ta cũng là ông chủ, là chỉ huy của một đoàn bán hàng rong được trang bị bằng chính tiền túi của anh ta cho chuyến du hành tới những vùng xa; nếu quay lại vào lúc này, anh ta có thể bị mất uy tín.

“Tốt, cậu sẽ đi đâu?” Aronsen bực dọc hỏi.

“Không thể nói,” Andresen đáp. Nhưng đồng thời anh ta cũng có một ý tưởng riêng, không còn ngờ gì nữa; có lẽ đang suy nghĩ tới những người dân bản địa, và ba người đàn ông khỏe mạnh, với những hạt thủy tinh và những chiếc nhẫn có thể đi xuống huyện lỵ. “Chúng ta sẽ đi tiếp” anh ta nói với hai người kia.

Lúc này Aronsen nghĩ rằng sáng hôm đó gã cũng có thể đi xa thêm chút nữa, vì đã đi xa tới mức này rồi, có lẽ gã muốn nhìn xem toàn bộ nơi này có hoàn toàn bị bỏ hoang hay chăng, có phải thật sự mọi người đã rời đi hay chăng. Nhưng gã cảm thấy mình bị giật mất mối làm ăn khi nhìn thấy ba anh chàng bán rong tiếp tục đi như thế, và gã lặp đi lặp lại với họ rằng có họa là điên mới cố gắng làm chuyện đó. Aronsen tự giận chính mình, đi xuống phía trước đoàn bán hàng rong, quay lại và hò hét quát tháo với họ, cố tống khứ họ ra khỏi huyện của mình. Cứ thế, họ đi xuống tới chỗ những túp lều ở giữa khu mỏ.

Một thị trấn nho nhỏ toàn những túp lều, nhưng trống rỗng và hoang vắng. Hầu hết những thứ công cụ thiết bị được cất giấu trong lều, nhưng những cây cọc và những tấm ván, những chiếc xe ngựa bị vỡ, những cái rương và thùng nằm ngổn ngang khắp chốn; đây đó có một thông báo viết trên cửa, tuyên bố rằng “Không phận sự cấm vào.”

“Thấy không,” Aronsen la lớn. “Tôi đã nói gì nào? Không có ma nào ở đây hết.” Và gã đe dọa rằng đoàn buôn sẽ gặp rắc rối – gã sẽ mời ngài Lensmand tới; dù sao, bây giờ gã sẽ đi theo họ sát gót, và nếu gã bắt gặp họ có một hành vi thương mãi bất hợp pháp, họ sẽ bị phạt khổ sai chung thân và làm nô lệ, không hề nhầm lẫn!

Vừa hay có ai đó cất tiếng gọi Sivert. Rốt cuộc, nơi này chưa hoàn toàn chết hẳn, chưa tuyệt đối bị bỏ hoang; một người đàn ông đang đứng vẫy tay ở góc một ngôi nhà. Sivert vác mớ hàng của mình tới đó và nhận ra ngay lập tức đó là ai – Geissler.

“Thật vui khi gặp cháu ở đây,” Geisselr bảo. Nét mặt ông hồng hào khỏe mạnh, nhưng rõ ràng đôi mắt của ông không thể chịu được ánh sáng chói chang của mùa xuân, ông đeo một đôi kính ám khói. Ông vẫn nói năng hồ hởi như từ trước tới giờ. “Điều may mắn nhất trên đời,” ông nói. “Giúp ta khỏi phải đi suốt cả chặng đường lên Sellanraa, và ta cũng có nhiều việc phải trông nom. Ở Almening giờ đã có bao nhiêu dân cư ngụ rồi?”

“Mười ạ.”

“Mười mảnh đất mới. Ta đồng ý. Ta thấy hài lòng. Nhưng đất nước này cần có hai trăm ba mươi ngàn người như cha cháu. Phải, đó là những gì ta nói, và ta nói thật lòng; ta đã tính toán rồi.”

“Sivert, cậu có đi tiếp hay không?” Đoàn bán hàng rong đang chờ.

Geissler nghe thấy, và gay gắt la lên đáp lại: “Không.”

“Tôi sẽ theo sau,” Sivert la to, rồi đặt những thứ đang mang vác xuống.

Hai người đàn ông ngồi xuống chuyện trò. Hôm nay Geissler đang trong tâm trang tốt; ông rất phấn chấn và nói chuyện luôn miệng, chỉ dừng lại khi Sivert chen vào một đôi lời để trả lời, rồi lại nói tiếp. “Một điều cực kỳ may mắn, không thể không nói thế. Mọi thứ đều đúng như ý muốn của ta, và giờ lại gặp cháu ở đây, khỏi phải cất công tới Sellanraa. Mọi chuyện ở nhà đều tốt cả, hử?”

“Mọi chuyện đều tốt đẹp, cám ơn lòng tốt của ông.”

“Đã dựng cái vựa chứa cỏ khô bên trên chuồng bò chưa?”

“Dạ, đã làm xong.”

“Tốt, tốt. Ta có cả đống việc phải trông nom, hầu như nhiều hơn sức ta có thể xoay xở. Chẳng hạn, hãy nhìn nơi chúng ta đang ngồi đây này. Cháu sẽ nói gì về điều đó, Sivert? Một thành phố điêu tàn, hả? Mọi người đã xây dựng nên nó hoàn toàn ngược với bản chất và sự yên lành của họ. Nói đúng ra, tất cả là do lỗi của ta ngay từ đầu, ta là một đại diện khiêm tốn trong những chuyển biến của định mệnh. Tất cả bắt đầu khi cha cháu nhặt được một vài mẫu đá trên đồi, và cho các cháu chơi khi các cháu còn bé. Đó là cách mọi chuyện khởi đầu. Ta biết rõ những hòn đá đó có giá trị chính xác như mọi người sẽ trả cho nó, không hơn; được, ta tự ấn định một giá cả cho chúng, và mua chúng. Thế rồi những hòn đá được chuyền từ tay này sang tay khác, và tạo ra những nguy hại vô tận. Thời gian cứ trôi. Và bây giờ, trước đây vài hôm, ta lại trở lên đây, để làm gì, cháu thử nghĩ xem? Để mua lại những hòn đá đó!”

Geissler dừng lại một lúc và nhìn Sivert. Rồi đột nhiên ông liếc qua mấy cái bao tời và hỏi: “Cháu mang theo những thứ gì thế?”

“Hàng hóa,” Sivert đáp. “Bọn cháu đang mang chúng xuống làng.”

Dường như Geissler không chú ý tới câu trả lời; như chưa hề nghe thấy nó. Ông nói tiếp:

“Mua lại chúng, phải. Lần trước, ta để cho con trai ta xử lý việc mua bán; lúc đó nó bán chúng đi. Những thanh niên cỡ tuổi của cháu, nó cũng vậy thôi. Nó là ánh sáng trong gia đình, ta chỉ là một loại sương mù. Biết đâu là điều đúng để làm, nhưng lại không làm. Nhưng nó là ánh sáng – và lúc đó nó vừa bước vào ngành này. Lần trước nó đã bán thay cho ta. Ta là một cái gì đó, còn nó thì không, nó chỉ là ánh sáng, hành động nhanh nhẹn, theo kiểu hiện đại. Nhưng bản thân ánh sáng chỉ là một thứ vô hiệu quả. Giờ cứ nhìn những người nhà của cháu ở Sellanraa; ngước nhìn lên những chỏm đồi xanh vào mỗi ngày trong cuộc đời của các cháu; không có những phát minh mới cầu kỳ nào về điều đó, mà chỉ là vùng đất cao nguyên và những chỏm đồi đá, mọc rễ sâu vào quá khứ – nhưng cháu cần có chúng làm bạn đồng hành. Cháu ở đó, sống gần gũi với đất trời, trở thành một với chúng, trở thành một với tất cả những điều rộng lớn, đã đâm rễ sâu xa đó. Không cần phải cầm một thanh kiếm trong tay, cháu đi qua cuộc đời, đầu trần, tay không, đứng giữa một thiện tâm vĩ đại. Nhìn xem, Thiên nhiên ở đó, mang lại cho cháu và những người nhà của cháu của cải và những niềm vui. Con người và Thiên nhiên không xung đột với nhau, mà thống nhất với nhau; chúng không cạnh tranh nhau, chạy đua với nhau, mà cùng đồng hành với nhau. Những người nhà của cháu ở Sellanraa đang sống ở đó, trong tất cả những thứ này. Cao nguyên và rừng rậm, những truông hoang và đồng cỏ, bầu trời và những vì sao. Ồ, đó không phải là sự nghèo nàn, mà là nằm ngoài mọi sự đo lường. Nghe ta này, Sivert: cháu thấy hài lòng thỏa mãn! Cháu có mọi thứ để sống tiếp, có mọi thứ để sống vì chúng, mọi thứ để tin tưởng vào; được sinh ra và lại tiếp tục sinh con đẻ cái; cháu là sự cần thiết trên quả đất. Không phải tất cả mọi người đều như thế, nhưng cháu là như thế; sự cần thiết trên quả đất. Chính cháu duy trì cuộc sống này. Hết thế hệ này sang thế hệ khác, sản sinh mãi những con người mới; và khi cháu chết đi, những nguồn sống mới vẫn tiếp diễn. Đó là ý nghĩa của cuộc sống vĩnh cửu. Cháu nhận được gì từ nó? Một sự hiện hữu được tạo dựng một cách ngây thơ và đúng đắn hướng về mọi thứ. Cháu nhận được gì từ nó? Không gì có thể đặt cháu nằm dưới những mệnh lệnh và có thể cai quản những người thân của cháu ở Sellanraa, các cháu có cuộc sống an bình, đầy đủ thẩm quyền và thiện tâm vĩ đại này bao quanh các cháu. Đó là cái mà cháu nhận được từ nó. Cháu nằm trong lòng mẹ và bú sữa, và chơi đùa với bàn tay ấm áp của một bà mẹ. Giờ đã có cha của cháu, ông ta là một trong số hai trăm ba mươi ngàn người đó. Sẽ phải nói gì về nhiều người khác? Ta là một cái gì đó, ta là sương mù, có thể nói thế, quẩn quanh đây đó, bồng bềnh trôi giạt, đôi khi xuất hiện như một cơn mưa trên vùng đất khô hạn. Nhưng còn những người khác? Có con trai của ta, ánh sáng tự thân nó chẳng là gì hết, chỉ là một chớp lóe của sự vô hiệu quả; nó có thể hành động.

“Phải, con trai của ta, nó là kiểu người hiện đại, một người thuộc thời đại của chúng ta; nó chân thành tin tưởng vào tất cả những gì thời đại đã dạy bảo nó, tất cả những người Do Thái và Hoa Kỳ đã dạy bảo nó; ta lắc đầu với tất cả những thứ đó. Nhưng ở ta không có gì là suy nghĩ hoang đường hết; chỉ trong gia đình, có thể nói thế, ta mới giống như một đám sương mù. Ngồi đó và lắc đầu. Nói thật lòng, ta không có khả năng thực hiện nhiều điều và không hối tiếc gì chuyện đó. Nếu ta có, bản thân ta cũng có thể trở thành ánh sáng. Còn giờ đây ta là một đám sương mù.”

Đột nhiên dường như Geissle sực nhớ ra, và hỏi: “Đã dựng cái vựa cỏ khô bên trên chuồng bò chưa vậy?”

“Dạ, đã làm xong. Và cha cháu đã dựng thêm một ngôi nhà mới.”

“Một ngôi nhà mới?”

“Để phòng khi có ai đó tới, cha cháu nói, nhỡ khi Geissler ông ấy có thể ghé qua.”

Geissler suy nghĩ một lúc về điều này, rồi quyết định: “Tốt, vậy thì tốt hơn ta nên tới đó. Phải, ta sẽ tới; cháu có thể nói với cha cháu như thế. Nhưng ta có cả đống công việc phải trông nom. Đi tới đây và nói với tay kỹ sư cho những ông chủ của hắn ở Thụy Điển biết rằng ta đã sẵn sàng mua lại. Và chúng ta sẽ chờ xem điều gì xảy ra. Tất cả với ta đều như trước, không có gì phải vội. Cháu nên gặp cái tay kỹ sư đó, hắn đã tới đây, mang theo người ngựa, máy móc và đủ thứ ồn ào nhặng xị; nghĩ rằng mọi thứ đều ổn, chả biết gì hơn thế. Hắn càng biến nhiều đá thành tiền thì càng tốt; hắn nghĩ hắn đang làm điều gì đó thông minh và xứng đáng; mang tiền của tới cho chốn này, cho đất nước này, và mọi thứ ngày càng tới gần tai họa, và hắn ta chẳng thông minh hơn chút nào. Đất nước này không cần tiền, nó đã có nhiều hơn mức đủ. Chính những người như cha cháu mới chưa có đủ. Phải, biến phương tiện thành chính bản thân cứu cánh và tự hào về điều đó! Họ thật điên rồ, bệnh hoạn; họ không làm việc, họ không biết gì về cái cày mà chỉ biết về hạt súc sắc. Thật đáng kiếp cho họ, phải không, khi làm việc và lãng phí bản thân chẳng vì cái gì cả theo cách thức điên khùng của họ. Hãy nhìn họ xem – đang đánh cược mọi thứ, có phải không? Tất cả những chuyện đó chỉ là sự sai lầm nghiêm trọng; họ quên rằng cờ bạc không phải là sự can đảm, thậm chí không phải là sự can đảm ngu ngốc, nó là một điều kinh khủng. Cháu có biết cờ bạc là gì hay không? Nó là sự sợ hãi, với mồ hôi trên lông mày của cháu, nó là thế đó. Điều sai lầm ở nó là họ sẽ không đồng hành cùng cuộc sống, mà lại muốn đi nhanh hơn – lao tới trước, lái chính bản thân họ đâm vào cuộc sống như những cái nêm. Thế rồi hai bên sườn của họ bảo rằng: này, dừng lại, có cái gì đó đã bị vỡ, phải tìm cách cứu chữa đi; dừng lại, hai bên sườn nói! Và sau đó cuộc sống nghiền nát họ, một cách lễ độ nhưng chắc chắn. Và rồi họ bắt đầu phàn nàn về cuộc sống, nổi giận với cuộc sống! Mỗi người có một sở thích riêng của mình; một số có thể có lý do để than phiền, số khác thì không, nhưng không ai nên nổi giận với cuộc sống. Đừng tỏ ra nghiêm khắc và công bằng với cuộc sống, mà phải đầy tình thương mến nó, và góp phần cho nó; chỉ nghĩ tới những gã cờ bạc cuộc đời phải gánh chịu mà kinh!”

Geissler lại sực nhớ ra và bảo: “Ờ, tất cả đều có thể xảy ra, mặc kệ nó đi!” Rõ ràng là ông đã mệt, bắt đầu thở hổn hển. “Đang đi xuống dưới hả?” Ông hỏi.

“Phải.”

“Không phải vội. Cháu nợ ta một chuyến đi dài qua những ngọn đồi, Sivert ạ, còn nhớ không? Ta nhớ hết mọi thứ. Ta nhớ từ lúc ta lên một tuổi rưỡi; đứng nghiêng người xuống từ chiếc cầu ở Garmo, và nhận ra một thứ mùi. Giờ ta có thể ngửi thấy lại nó. Nhưng mọi thứ đều có thể xảy ra, cả điều đó nữa; lẽ ra giờ chúng ta có thể tiến hành chuyến đi qua những ngọn đồi nếu cháu không mang theo mấy cái bao tời đó. Thứ gì trong đó vậy?”

“Hàng hóa. Andresen sẽ bán chúng.”

“Tốt, ta là người biết điều gì đúng để làm, nhưng lại không làm,” Geissler nói. “Ta là sương mù. Giờ có lẽ ta sẽ mua lại cái mỏ đó, nếu chuyện đó không phải là điều bất khả thi; nhưng nếu ta mua, sẽ không có chuyện đi quanh quẩn, nhìn lên trời và nói, “đường xe cáp treo trên không! Nam Mỹ!’ Không, hãy để thứ đó cho những tên cờ bạc. Cư dân quanh đây bảo ta phải là quỷ sứ vì ta biết trước điều gì sẽ xảy ra để phá hỏng nó. Nhưng ở ta không có gì là suy nghĩ hoang đường hết, điều đó khá giản đơn. Những cái mỏ mới ở Montana, chỉ có thế. Bọn người Mỹ thông minh hơn chúng ta trong trò chơi đó; họ đang bóc lột chúng ta cho tới chết ở Nam Mỹ – bảo rằng quặng của chúng ta ở đây quá nghèo. Con trai ta là ánh sáng; nó biết được tin tức đó, và ta trôi giạt lên đây. Đơn giản quá, phải không? Ta sẽ đánh bại mấy gã Thụy Điển đó trong vài giờ, chỉ có thế.”

Geissler lại hụt hơi, ông đứng lên và nói: “Nếu cháu đi xuống, chúng ta sẽ cùng đi.”

Họ cùng đi xuống với nhau, Geissler lê bước phía sau, hoàn toàn kiệt sức. Đoàn bán hàng rong đã dừng lại ở bến cảng, và Fredrik Ström, vẫn vui vẻ như từ trước đến giờ, đang trêu chọc Aronsen: “Tôi đã hết sạch thuốc lá rồi; tìm ít thuốc lá đi chứ?”

“Tôi sẽ cho cậu thuốc lá,” Aronsen nói với vẻ đe dọa.

Frederik bật cười và an ủi gã: “Không, anh không việc gì phải nặng nề buồn bã như thế, Aronsen. Chúng tôi sẽ chỉ bán những thứ này ở đây ngay trước mắt anh, rồi chúng tôi sẽ quay trở về nhà.”

“Đi mà rửa cái mồm thối của cậu,” Aronsen giận dữ.

“Ha ha ha! Không, anh không việc gì phải nhảy dựng lên như thế, hãy đứng yên và trông giống như một bức tranh!”

Geissler đã mệt, kiệt sức, thậm chí đôi kính ám khói của ông giờ cũng không giúp được gì cho ông, đôi mắt ông nhắm nghiền lại dưới ánh nắng chói chang.

“Tạm biệt, Sivert,” ông nói. “Không, rốt cuộc lần này ta không thể lên Sellanraa được; nói với cha cháu thế. Ta có cả đống việc phải lo. Nhưng ta sẽ lên đó sau, nói thế nhé…”

Aronsen phun nước bọt sau lưng ông và bảo: “Nên bị bắn bỏ!”

***

Đoàn bán rong bán hết sạch hàng của họ trong vòng ba ngày, tất cả mọi thứ chứa trong mấy cái bao tời, và thu được một khoản tiền to. Đó là một thương vụ tốt đẹp. Dân làng vẫn còn nhiều tiền sau sự suy sụp của khu mỏ, và khá xuất sắc về mặt màu mè hình thức trong việc tiêu tiền. Những con chim nhồi bông gắn lò xo chính là thứ mà họ muốn; họ đặt chúng trên những cái tủ ngăn trong phòng khách, và cũng mua những con dao rọc giấy xinh xắn, đúng thứ để cắt những tờ niên lịch. Aronsen nổi cơn thịnh nộ. “Làm như thể tôi không có đủ những thứ hàng này trong tiệm của tôi vậy,” gã nói.

Tay nhà buôn Aronsen thật đáng thương; gã đã quyết định bám theo những anh chàng bán rong này và mấy cái bao tời của họ, lúc nào cũng quan sát họ; nhưng họ đi theo những con đường khác nhau khắp trong làng, mỗi người chọn một đường, và Aronsen hầu như xẻ bản thân mình ra thành nhiều mảnh để đi theo tất cả trong cùng một lúc. Đầu tiên, gã từ bỏ Fredrik Ström, kẻ rất nhanh nhạy trong việc nói những câu khó nghe; rồi tới Sivert, vì cậu không hề nói lời nào, mà cứ tiếp tục buôn bán; cuối cùng, gã bám theo viên thư ký cũ của mình, và cố kích động dân làng chống lại anh ta bất cứ chỗ nào anh ta tới. Ồ, nhưng Andresen biết khá rõ ông chủ của mình: gã đã già và có rất ít hiểu biết về kinh doanh và thương mãi bất hợp pháp.

“Thế ư, cậu định nói là chỉ của Anh không bị cấm?” Aronsen nói, làm ra vẻ khôn ngoan.

“Tôi biết nó bị cấm,” Andresen đáp. “Nhưng tôi không mang theo cuộn nào hết, tôi có thể bán chúng ở nơi khác. Tôi không có cuộn nào trong bao; cứ tự mình xem đi, nếu ông muốn.”

“Có thể là thế,” Aronsen nói. “Dù sao, tôi biết thứ gì bị cấm, và tôi sẽ chỉ cho cậu, vì thế đừng cố dạy khôn tôi.”

Aronsen cố kiên trì suốt một ngày, rồi gã cũng từ bỏ cả Andresen và trở về nhà. Sau đó không còn ai theo dõi những người bán hàng rong nữa.

Và sau đó mọi thứ bắt đầu trôi chảy. Thời đó những phụ nữ trong làng quen cài những bím tóc con lên tóc họ; và Andresen chính là người bán những bím tóc con. Phải, anh ta có thể bán những bím tóc màu sáng cho các cô gái da sẫm màu, và lấy làm tiếc rằng anh ta không có thứ nào sáng màu hơn nữa; không có màu xám, chẳng hạn, vì đó là màu đẹp nhất. Và mỗi chiều ba chàng trai trẻ lại gặp nhau ở một điểm hẹn và kiểm lại một ngày buôn bán, người này mượn của người kia bất cứ thứ gì anh ta đã bán hết; và Andresen sẽ ngồi xuống, tỉ mẩn lột miếng nhãn hiệu Đức ra khỏi một cái còi thể thao, hay chà đi chữ “Faber” trên những cây bút máy và bút chì. Andresen là một kẻ thông thạo đủ điều, và đã luôn là như thế.

Trái lại, Sivert hơi thất vọng. Không phải vì cậu là người chậm chạp và không bán được hàng – thật ra, chính cậu là người bán được nhiều nhất – mà là vì cậu không có đủ để bán cho họ. “Anh không rao hàng gì hết,” Andresen nói.

Không, Sivert không phải là dạng người miệng mồm lanh lợi; cậu là một nông dân, chắc chắn về những gì mình nói, và nếu có nói gì thì nói một cách điềm tĩnh. Có chuyện gì để nói ở đây chứ? Ngoài ra, Sivert nôn nóng làm cho xong việc và quay trở về nhà, còn có công việc đồng áng phải làm.

“Đó là do Jensine đang gọi cậu ta,” Fredrik Ström giải thích. Nhân tiện, bản thân Fredrik cũng có nhiều việc cần phải hoàn thành trên những cánh đồng của mình, và không có nhiều thời gian để lãng phí; nhưng với tất cả những điều đó, anh ta phải tới gặp Aronsen vào ngày cuối cùng và tranh cãi với gã. “Tôi sẽ bán cho ông ta những cái bao rỗng,” anh nói.

Andresen và Sivert ngồi ở ngoài trong lúc anh ta vào nhà. Họ nghe thấy tiếng cự cãi bên trong tiệm, cả hai cùng nói một lúc, và thỉnh thoảng Fredrik lại cười phá lên; sau đó Aronsen mở rộng cửa ra để tống người khách của mình ra. Ồ, nhưng Fredrik không chịu ra – không, anh ta nán lại, và nói thêm nhiều điều nữa. Điều cuối cùng họ nghe thấy từ bên ngoài là Fredrik đang cố bán cho Aronsen những con ngựa gỗ bập bênh.

Sau đó đoàn lữ hành quay trở về nhà – ba chàng trai trẻ khỏe mạnh, tràn đầy sức sống. Họ bước đều và hát véo von, ngủ vài giờ ngoài trời, rồi đi tiếp. Khi họ lên tới Sellanraa vào hôm thứ Hai, Isak đã bắt đầu gieo lúa. Thời tiết thích hợp để làm việc này; không khí ẩm ướt, với vầng thái dương thỉnh thoảng ló khỏi đám mây, và một dải cầu vồng rực rỡ giăng ngang qua bầu trời.

Đoàn lữ hành chia tay nhau – Farvel, Farvel [13] …

***

Isak đang gieo hạt; một người đàn ông tráng kiện, một người đàn ông vạm vỡ, không hơn. Áo quần tự dệt may lấy tại nhà – len cắt từ đàn cừu của chính anh, đôi ủng may từ da bò và bê của chính anh. Đang gieo hạt – và anh bước những bước đều, đầu để trần trong khi làm việc; đầu anh chỉ bị hói ở trên đỉnh, trên tất cả những phần còn lại tóc vẫn mọc rậm rì; cả một bộ râu tóc xum xuê viền quanh gương mặt của anh. Đó là Isak, ngài Bá tước.

Anh hiếm khi biết ngày nào trong tháng – anh cần gì chuyện đó? Anh không có những tờ hóa đơn cần được thanh toán vào một ngày nhất định; những dấu hiệu trên cuốn niên lịch của anh là để chỉ ra thời gian khi mỗi con bò sắp sinh con. Nhưng anh biết ngày lễ Thánh Olaf thuộc về mùa thu, rằng trước ngày đó phải đưa cỏ khô vào kho chứa, và anh biết lễ Rước nến thuộc về mùa xuân, rằng ba tuần sau đó những con gấu sẽ ra khỏi hang trú đông của chúng; tất cả những thứ hạt giống phải được gieo xuống đất trước lúc đó. Anh biết những gì cần thiết.

Một người nông dân gắn bó với đất đai, cả thân thể lẫn tâm hồn; một kẻ cần lao không hề ngơi nghỉ. Một hồn ma xuất hiện từ quá khứ để chỉ ra tương lai, một con người từ những ngày tháng nguyên sơ nhất của việc canh tác vun trồng, một cư dân trong chốn rừng hoang, già chín trăm tuổi, và đồng thời, một con người của hiện tại.

Không, bây giờ anh không còn lại gì từ khoản tiền bán cái mỏ đồng – số tiền đó đã tan biến vào không khí. Và có người nào còn lại bất cứ thứ gì từ thứ tài sản đó khi công việc đã bị đình chỉ, khi những ngọn đồi nằm chết lặng và bị bỏ hoang? Nhưng vùng đất Almening vẫn còn ở đó, và mười mảnh đất mới đã mọc lên trên đó, ra hiệu cho thêm một trăm mảnh nữa.

Không có gì phát triển ở đó ư? Mọi thứ đều đang phát triển ở đó; những con người và gia súc và quả ngọt của đất đai. Isak đang gieo lúa. Ánh nắng ban chiều đáp lên trên những hạt lúa đang tỏa ra thành hình rẻ quạt từ bàn tay của anh và rơi xuống mặt đất như những giọt vàng. Sivert vừa ra tới để bừa đất; sau đó là cái trục lăn, rồi lại cái bừa. Cánh rừng và đồng lúa nhìn theo. Tất cả đều tráng lệ và tràn trề sinh lực – một chuỗi các sự kiện và mục đích của vạn vật.

Leng keng… leng keng… những cái chuông cổ bò reo lên trên mé sườn đồi, ngày càng tới gần hơn; đàn bò đang trở về nhà để ngủ đêm. Mười lăm con tất cả, ngoài ra còn có bốn mươi lăm con cừu và dê; tổng cộng có sáu mươi đầu gia súc. Những người phụ nữ bước ra khỏi nhà với chiếc đòn gánh trên vai, gánh những thùng đựng sữa: Leopoldine, Jensine và bé Rebecca. Cả ba đều đi chân đất. Inger, Bá tước phu nhân, không cùng đi với họ. Nàng ở trong nhà để chuẩn bị bữa cơm chiều. Cao lớn, nghiêm trang, nàng đi lại quanh nhà, một bà Táo quân chăm nom cho ngọn lửa bếp lò. Inger đã thực hiện chuyến hành trình bão táp của nàng, điều đó đúng, đã sống trong một thành phố một thời gian, nhưng giờ nàng đang ở tại nhà mình; thế giới rộng lớn, nhung nhúc những hạt bụi li ti – Inger là một trong số chúng. Chẳng là gì trong toàn thể nhân loại, chỉ là một hạt bụi thôi.

Chiều đã buông rồi.

[13] Tạm biệt, Tạm biệt…

Hết.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: