Phúc Lành Của Đất – Growth of the Soil (Quyển 2 – Chương 9)

Knut Hamsun

Mùa xuân ấy một chuyện bất ngờ đã xảy ra – một chuyện thật sự quan trọng. Công việc ở mỏ được khởi động trở lại. Geissler đã bán miếng đất của ông. Thật không thể tưởng tượng nổi! Ồ, nhưng Geissler là một bộ óc sâu thẳm khôn dò. Ông có thể mặc cả hay từ chối, lắc đầu để nói “Không” hay gật đầu để nói “Vâng”. Có thể giúp cho cả làng mỉm cười trở lại.

Có lẽ ông đã bị lương tâm cắn rứt; ông không còn tâm trạng bàng quang đứng nhìn cái huyện nơi ông từng làm Lensmand bị chết đói dần mòn do ăn món cháo tự nấu tại nhà và thiếu thốn tiền bạc. Hoặc ông đã bán được mảnh đất của mình với giá một phần tư triệu? Cũng có khả năng rốt cuộc chính ông cũng bắt đầu cảm thấy có nhu cầu về tiền bạc, và buộc phải bán với cái giá ông có thể bán. Nói cho cùng, không thể xem thường số tiền hai mươi lăm hay năm mươi ngàn. Thật ra, có những lời đồn rằng chính người con trai cả của ông mới là người đứng ra thay ông xử lý vụ giao dịch.

Dù gì cũng mặc, công việc đã được khởi sự trở lại. Viên kỹ sư cũ quay lại cùng với đội công nhân của mình, và một lần nữa công việc lại được tiếp tục. Phải, vẫn công việc đó, nhưng giờ theo một đường lối khác, như thể đi thụt lùi trở lại.

Tất cả dường như vẫn theo trật tự thông thường: những chủ mỏ người Thụy Điển đã đưa nhân công của họ tới, chất nổ và tiền bạc – dù sao, có thể có điều gì không ổn chứ? Ngay cả Aronsen cũng đã quay lại. Tay nhà buôn đó quyết tâm mua lại Storborg từ tay Eleseus.

“Không,” Eleseus đáp. “Tôi không bán nó.”

“Tôi cho là cậu sẽ bán nếu tôi đưa ra đúng giá?”

“Không.”

Không, Eleseus sẽ không bán Storborg. Sự thật là cậu đã hơi thay đổi quan niệm đối với vị trí này. Nói cho cùng, việc làm ông chủ của một trạm buôn bán trên những ngọn đồi cũng không quá tệ. Cậu có một mái hiên đẹp đẽ với những cửa sổ lắp kính màu, và một viên thư ký đảm nhiệm mọi công việc trong lúc cậu đi đó đi đây. Phải, đi lại trên những chỗ ngồi hạng nhất, với những người cao quý. Có lẽ một ngày nào đó cậu có thể đi xa tận châu Mỹ – cậu thường nghĩ tới điều đó. Ngay cả những chuyến du hành nho nhỏ tới những thị trấn miền nam cũng đã là điều gì đó đáng ghi nhớ mãi về sau. Không phải cậu đã hoàn toàn mất kềm chế để thuê một chiếc tàu hơi nước cho riêng mình và tổ chức những cuộc truy hoan trác táng trên đường – những cuộc truy hoan không có trên đường đi của cậu. Eleseus là một anh chàng kỳ lạ. Cậu không còn quan tâm tới các nàng thiếu nữ, đã hoàn toàn từ bỏ những điều như thế, hoàn toàn mất hứng thú đối với họ. Không, nhưng nói cho cùng, cậu là con trai của ngài Bá tước, đã du lịch trên những chỗ ngồi hạng nhất và đã mua hàng đống hàng hóa. Và mỗi lần quay về cậu lại đẹp đẽ sang trọng hơn trước đó chút ít, một con người vĩ đại hơn; lần cuối cùng, thậm chí cậu còn mang giày cao su để giữ cho đôi chân khô ráo. “Gì thế, cậu mang tới những hai đôi giày cơ à?” Họ nói.

“Gần đây tôi bị cước ở chân,” Eleseus đáp.

Và mọi người đều cảm thông với Eleseus cùng chứng cước ở chân của cậu.

Những ngày rực rỡ – một cuộc sống lớn lao, với lạc thú vô tận. Không, cậu sẽ không bán Storborg. Sao chứ, quay lại một thị trấn nhỏ xíu và đứng sau quầy tính tiền trong một tiệm tạp hóa tí hon, không có viên thư ký nào của chính mình ư? Ngoài ra, hiện giờ cậu đã quyết định phát triển việc làm ăn lên một quy mô lớn. Những người Thụy Điển đã quay lại và sẽ trút ngập tiền của vào chỗ này; cậu phải là một thằng ngu mới bán nó đi vào lúc này. Mỗi lần tới đó, Aronsen buộc phải trở về với một lời từ khước thẳng thừng, ngày càng căm phẫn vì sự thiếu nhìn xa trông rộng của mình khi từ bỏ chốn này.

Ồ, nhưng lẽ ra Aronsen có thể tránh cho mình một thỏa thuận mang lại nhiều ân hận, và Eleseus cùng những kế hoạch và dự tính của cậu cũng vậy. Lẽ ra cậu có thể duy trì ở mức độ khiêm tốn. Và trên hết, lẽ ra cả làng đã sống ổn hơn nếu ít tự tin hơn, thay vì đi lòng vòng mỉm cười và xoa xoa hai tay như những thiên sứ chắc ăn sẽ được ban phúc lành – họ chẳng việc gì làm như thế giá như họ biết. Vì giờ đây sự thất vọng đã nảy sinh, và đó không phải là một thất vọng nhỏ nhoi. Nào có ai ngờ tới điều này. Công việc ở khu mỏ đã bắt đầu trở lại, đúng thế – nhưng ở đầu kia cao nguyên, cách xa tám dặm, ở ranh giới phía nam mảnh đất của Geissler, hoàn toàn nằm trong một huyện khác, một huyện mà họ chưa từng biết tới. Và công việc sẽ từ đó tiến dần lên hướng bắc về phía khu mỏ ban đầu, khu mỏ của Isak, một phúc lành đối với cư dân trong vùng hoang dã và trong làng. Nhưng ít nhất việc này cũng phải mất nhiều năm, bất kỳ con số nào của nhiều năm, cả một thế hệ.

Tin tức đó đến như một cú nổ nặng nề, gây choáng váng ù tai. Cư dân trong làng bị nỗi đau hạ gục. Một số người đổ lỗi cho Geissler. Chính Geissler, gã đàn ông quỷ sứ đó, đã một lần nữa chơi xỏ họ. Một số khác tập trung lại với nhau trong một cuộc họp và cử một đoàn đại diện mới bao gồm những người đáng tin cậy, lần này tới gặp công ty mỏ và viên kỹ sư. Nhưng chẳng gặt hái được gì; viên kỹ sư giải thích rằng ông ta buộc phải bắt đầu công việc từ phía nam vì chỗ đó gần biển nhất, tiết kiệm được nhu cầu sử dụng cáp treo, giảm thiểu việc vận chuyển gần như xuống con số không. Không, công việc phải bắt đầu theo cách đó; không có gì phải nói thêm.

Thế rồi chính anh chàng Aronsen đã đứng lên ngay lập tức và lên đường tới khu làm việc mới, miền đất hứa mới. Thậm chí gã còn cố rủ rê Andresen cùng đi với mình: “Cậu có điên không mà ở lại cái vùng hoang dã này?” Gã nói. “Đi với tôi thì tốt hơn nhiều.” Nhưng Andresen sẽ không bỏ đi; thật là không thể hiểu nổi, nhưng chuyện là thế, có cái gì đó đã giữ chân anh ta lại chốn này; dường như anh ta đã phát triển, đã mọc rễ ở đây. Hẳn là Andrersen đã đổi thay, vì nơi này vẫn y nguyên như trước. Cư dân và mọi thứ đều không thay đổi. Công việc khai mỏ đã chuyển sang những vùng đất khác, nhưng dân cư trong vùng hoang dã không mất cân bằng vì chuyện đó. Họ có đất đai của mình để canh tác, có mùa màng, gia súc của mình. Không giàu có về tiền bạc, đúng vậy, nhưng giàu có về tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống, phải, hoàn toàn có đủ mọi thứ.

Ngay cả Eleseus cũng không thấy khốn khổ vì dòng suối vàng đã chảy sang hướng khác. Điều tệ hại nhất trong chuyện này là trong chuyến hàng đầu tiên cậu đã mua những lượng lớn các thứ hàng giờ đây không thể bán được. Tốt, chúng có thể nằm đó chờ thời; ở bất cứ giá nào, có nhiều hàng hóa trong một cửa tiệm thì trông vẫn khá hơn.

Không, một người đàn ông của vùng hoang địa sẽ không thoái chí nản lòng. Giờ đây bầu không khí vẫn không kém trong lành hơn trước; có đủ cư dân để tán thưởng những quần áo mới; không cần tới những hạt kim cương. Rượu vang là thứ mà anh ta biết tới trong bữa tiệc ở Cana. Một người trong vùng hoang địa không quỵ ngã với ý nghĩ về những thứ lớn lao mà anh ta không thể đạt tới: nghệ thuật, báo chí, những thứ xa hoa, chính trị, và những thứ đại loại như thế chỉ đáng giá với cái mà người dân sẵn lòng trả tiền cho chúng, không hơn. Sự tăng trưởng của đất là một điều gì đó hoàn toàn khác, một điều phải được thực hiện với bất cứ giá nào. Nguồn tài nguyên duy nhất, nguồn gốc của mọi thứ. Một sự hiện hữu tối tăm và hiu quạnh? Phải, chỉ là chuyện nhỏ. Một người đàn ông có đủ mọi thứ; những quyền năng ngự trị bên trên hắn, những giấc mơ của hắn, những tình yêu, kho tàng mê tín của hắn. Một đêm nọ, khi Sivert đang bước cạnh dòng sông, cậu chợt dừng phắt lại. Trên mặt nước đằng kia có một cặp vịt trời, một trống và một mái. Chúng đã nhìn thấy cậu. Chúng nhận ra con người, và e sợ. Một trong hai con nói gì đó, thốt ra một âm thanh nho nhỏ, một giai điệu có ba tông, và con kia đáp lại tương tự. Rồi chúng cất cánh bay lên, lượn thành những vòng tròn nhỏ cách mặt sông một tầm ném đá, rồi lại đáp xuống. Rồi, giống như lúc nãy, một con nói và con kia đáp lại; cùng câu nói như lúc đầu, nhưng đánh dấu một niềm hân hoan mới: nó được cất lên cao hơn hai bát độ! Sivert đứng nhìn hai con chim, nhìn xuyên qua chúng, xa vào một giấc mơ.

Một âm thanh đã bềnh bồng trôi qua cậu, một cảm xúc ngọt ngào, và bỏ lại cậu đứng đó với một hồi ức dịu nhẹ, mong manh về một điều gì đó hoang dại và tuyệt vời, một điều gì đó cậu từng biết trước kia, rồi lại quên đi. Cậu thả bước về nhà trong thinh lặng, không nói một lời về nó, không khoác lác về nó. Đó không phải là thứ để diễn tả bằng lời. Và chính Sivert ở Sellanraa, một đêm thả bộ ra ngoài, còn trẻ trung và bình thường như thế, đã bắt gặp điều này.

Đó không phải là thứ duy nhất cậu bắt gặp – còn có những cuộc phiêu lưu khác. Một vấn đề khác đã xảy ra: Jensine sẽ rời khỏi Sellanraa. Và chuyện đó khiến cho tâm trí của Sivert vô cùng xáo trộn.

Phải, chuyện đã tới nước đó: Jensine sẽ rời khỏi, nếu muốn; cô muốn thế. Ồ, Jensine không phải là một trong số những người tầm thường, không ai có thể nói như thế. Đã có lần Sivert đề nghị đánh xe đưa cô trở về nhà ngay, và lần đó cô đã khóc, tội nghiệp cho cô; nhưng sau đó cô hối hận về chuyện đó, và làm rõ rằng cô thấy hối hận, và đã thông báo sẽ rời khỏi. Phải, một cách làm đúng đắn.

Không có gì thích hợp với Inger ở Sellanraa hơn điều này; Inger đã bắt đầu thấy bất mãn với cô hầu gái của mình. Thật lạ; cô bé không nói điều gì chống lại nàng, nhưng cứ nhìn thấy cô bé là nàng lại bực mình, hầu như nàng không chịu nổi khi có mặt cô bé trong trang trại. Không còn ngờ gì nữa, tất cả đều nảy sinh từ tâm trạng của Inger; suốt mùa đông đó tâm trạng nàng trở nên nặng nề và sùng đạo, và nó sẽ không biến mất.

“Cô muốn đi, phải không? Sao, vậy thì rất tốt,” Inger nói. Đó là một phúc lành, sự thành tựu của những lời cầu nguyện đêm đêm. Họ đã có hai phụ nữ trưởng thành, họ cần gì tới cô nàng Jensine tươi hơn hớn và tới tuổi lấy chồng này chứ? Inger nghĩ thầm với một cảm giác không vui về cùng một tư cách kết hôn đó, suy nghĩ, có lẽ, rằng trước kia nàng cũng đã từng giống vậy thế nào.

Sự sùng đạo sâu sắc của nàng không hề biến mất. Nàng không phải là người hoàn toàn đồi bại; nàng đã nếm trải, đã hưởng thụ, chúng ta có thể nói thế, nhưng ý định của nàng không phải là cứ khư khư theo cách đó suốt tuổi già của nàng, không, ở bất kỳ cách thức nào. Inger quay đi với nỗi kinh hoàng về ý nghĩ đó. Cái mỏ và tất cả những công nhân của nó không còn ở đó – và xin ngợi ca Trời Đất. Đức hạnh không chỉ có thể chịu đựng, mà còn là điều không thể tránh khỏi, nó là một điều cần thiết; phải, một điều tốt cần thiết, một thái độ đặc biệt.

Nhưng thế giới đã hoàn toàn lệch lạc. Hãy nhìn xem, kia là Leopoldine, Leopoldine nhỏ bé, một cây giống con con, một con bé con mảnh khảnh, đang nở bừng như hoa với sức khỏe đầy tội lỗi; nhưng nếu có một cánh tay vòng quanh eo nó, nó sẽ quỵ ngã một cách bất lực – ôi chao, thật là nhục nhã! Giờ trên mặt nó cũng đã có những vệt hồng hồng, một dấu hiệu của nhiệt huyết dâng trào; phải, mẹ của nó còn nhớ rất rõ, chính thứ nhiệt huyết dâng trào ấy. Inger không phiền trách con mình vì chuyện những vệt hồng trên má; nhưng nó phải dừng lại, nàng phải chấm dứt chuyện này. Và cái anh chàng Andresen đó muốn gì khi cứ lên Sellanraa vào những ngày Chủ nhật, để trao đổi chuyện đồng áng với Isak ư? Hai người đàn ông trong nhà tưởng là con bé bị mù ư? Phải, thanh niên vẫn là thanh niên hệt như ba mươi, bốn mươi năm trước, nhưng giờ thì tệ hơn nhiều.

“Sao, nó vẫn thường diễn ra như vậy mà,” Isak nói khi họ trò chuyện về vấn đề đó. “Nhưng mùa xuân sắp tới rồi, còn Jensine thì ra đi, vậy ai sẽ lo toan công việc mùa hè?”

“Leopoldine và tôi có thể phơi cỏ,” Inger nói. “Phải, tôi thà tự mình cào cỏ suốt ngày đêm còn hơn,” nàng cay đắng nói, và sắp khóc òa lên.

Isak không thể hiểu tại sao nàng lại làm ầm ĩ lên về chuyện đó; nhưng anh có những ý định của riêng mình, không còn ngờ gì nữa, và anh đi ra bìa rừng, với xà beng và cuốc chim, và bắt tay vào việc với một tảng đá. Không, thật sự Isak không hiểu vì sao Jensine phải rời khỏi họ; một cô gái tốt, và một người làm lụng giỏi giang. Thật sự, Isak thường thấy lúng túng trong mọi việc trừ những thứ đơn giản nhất – công việc của anh, những việc làm hợp pháp và tự nhiên của anh. Một người đàn ông vai rộng, lực lưỡng, ở anh không có gì là siêu việt; anh ăn như một người đàn ông và phát triển nhờ vào nó, và hiếm khi anh bị mất thăng bằng dù theo bất kỳ cách thức nào.

Vâng, đây là tảng đá. Còn có rất nhiều đá, nhưng đây là tảng đá để bắt đầu. Isak đang nhìn về tương lai, tới thời điểm anh sẽ cần phải dựng một ngôi nhà nhỏ ở đây, một ngôi nhà nhỏ cho chính anh và Inger, và cũng đã làm đôi ba việc ở chỗ này, phát quang nó, trong lúc Sivert đang ở dưới trại Storborg. Không thì thằng bé sẽ hỏi han đủ thứ, và Isak không ưa chuyện đó. Dĩ nhiên, ngày đó sẽ tới, khi Sivert cần tới mọi thứ có ở chốn này cho bản thân nó – những người lớn tuổi sẽ muốn có một ngôi nhà riêng biệt. Phải, không bao giờ có chuyện chấm dứt việc xây cất ở Sellanraa; cái vựa cỏ khô bên trên chuồng bò vẫn chưa làm xong, dù những xà ngang và ván cho nó đã có sẵn cả rồi.

Vâng, còn đây là tảng đá này. Không lớn mấy khi nhìn trên mặt đất, nhưng không dễ nhích nó đi chỉ với một cái chạm tay đâu; nó phải là một anh chàng khá nặng. Isak đào vòng quanh nó, và thử dùng cái xà beng, nhưng nó không nhúc nhích. Anh lại đào và thử thêm lần nữa, vẫn không xong. Quay trở về nhà lấy thêm một cái mai vậy, để dọn sạch đất, rồi lại đào, lại thử – không được. Một tảng đá rất nặng, khó lay chuyển, dù Isak có thừa kiên nhẫn. Giờ thì anh vẫn đào đều đặn, nhưng dường như tảng đá ngày càng đâm sâu xuống, không thu hoạch được gì từ nó. Nói cho cùng, sẽ rất phiền nếu như anh phải kích nổ nó. Tiếng nổ sẽ rất ồn ào, và kêu gọi mọi người tới chỗ này. Anh lại đào. Lại quay về nhà để lấy thêm một cái đòn bẫy và thử bẫy lên – không được. Anh lại tiếp tục đào.

Isak bắt đầu thấy bực mình với tảng đá này; anh cau mày và nhìn nó, như thể anh vừa tới nơi để xem xét chung những tảng đá lân cận, và phát hiện ra tảng đá này đặc biệt ngu xuẩn. Anh chỉ trích nó; phải, nó là một tảng đá có gương mặt tròn ngốc nghếch, dù sao cũng không chịu nổi nó – anh suýt nói rằng nó đã biến dạng. Cho nổ ư? Cái thứ này không đáng để dùng tới thuốc nổ. Và phải chăng anh sẽ chịu thua nó, phải chăng anh đang nghĩ tới khả năng bị một tảng đá đánh bại?

Anh đào. Đó là một công việc khó khăn, nhưng về vụ chịu thua… Cuối cùng anh chọc mũi cái đòn bẫy xuống và thử bẫy lên; tảng đá không lay chuyển. Về mặt kỹ thuật, phương pháp của anh không có gì sai cả, nhưng nó không hiệu quả. Vậy thì vấn đề là gì? Trong đời, anh đã từng moi nhiều đá lên trước đó. Phải chăng anh đã già? Một chuyện buồn cười, hê hê hê! Thật ngớ ngẩn. Đúng, gần đây anh nhận ra rằng anh không còn khỏe như trước – nghĩa là anh chẳng nhận ra thứ gì như thế cả, không hề lưu tâm tới nó; đó chỉ là sự tưởng tượng. Và anh lao vào tảng đá một lần nữa, với ý chí cao nhất trên trần đời.

Ồ, khi Isak đè cả trọng lượng của anh lên một cái đòn bẫy thì đó không phải là chuyện nhỏ. Hiện giờ anh đang ở đó, nhấc lên, nhấc lên lần nữa, một gã Cyclop khổng lồ, với một thân mình dường như kéo dài tới tận đôi đầu gối. Ở anh có một vẻ uy nghi và chói lọi; hành động của anh thật đáng kinh ngạc.

Nhưng tảng đá không nhúc nhích.

Không có tác dụng gì; anh lại phải đào? Thử dùng thuốc nổ? Đừng nhắc tới! Không, đào thêm nữa. Giờ đây anh dốc hết chú ý vào công việc. Tảng đá sẽ phải trồi lên! Sẽ là sai khi bảo rằng có cái gì đó ngoan cố ở con người của Isak; đó là tình yêu đã đâm chồi mọc rễ trong lòng của một người lao tác trên đất đai, nhưng hoàn toàn không có sự dịu dàng. Đó là một cảnh tượng ngốc nghếch; đầu tiên là thu thập mọi điều về tảng đá từ mọi phía, rồi lao vào nó, đào quanh nó và sờ soạng nó, ném đất lên với đôi bàn tay không, phải, anh đã làm như thế. Song không hề có một cử chỉ mơn trớn vuốt ve nào trong đó. Ấm áp, vâng, nhưng chỉ là sự ấm áp của lòng nhiệt huyết.

Thử lại cái đòn bẫy lần nữa? Anh chọc nó xuống chỗ có thể nạy tốt nhất – không được. Tảng đá này là một ví dụ hoàn toàn nổi bật về sự ngoan cố và thách thức. Nhưng có vẻ như nó đang nhượng bộ. Isak lại cố, với một tia hy vọng; giờ đây người vỡ đất hoang có cảm giác rằng tảng đá không còn bất khả chiến bại nữa. Thế rồi cái đòn bẫy trượt ra, hất anh té lăn trên mặt đất. “Đồ quỷ sứ!” Anh chửi. Phải, anh đã nói thế. Cái mũ của anh đã bị lệch, trùm xuống một bên tai khi anh bị ngã, khiến anh trông như một tên kẻ cướp, như một gã Tây Ban Nha. Anh phun nước bọt.

Inger đi tới. “Isak, về nhà dùng bữa đi,” nàng nói, rất tử tế và vui vẻ.

“Ừ,” anh đáp, nhưng không muốn nàng tới gần hơn, và không muốn nghe bất cứ câu hỏi nào.

Chà, nhưng cái cô nàng Inger này, thật không mơ thấy nổi, nàng bước tới gần.

“Anh đang tính toán gì vậy?” Nàng hỏi, để xoa dịu anh với một hàm ý về cách anh nghĩ ra những điều lớn lao trong hầu như mỗi ngày.

Nhưng Isak đang giận dỗi, giận dỗi kinh khủng và tỏ ra nghiêm khắc, anh bảo: “Không, tôi không biết.”

Còn Inger, hừm, nàng thật là ngốc nghếch – lại tiếp tục nói chuyện và hỏi han chứ không chịu đi về.

“Tôi thấy cô đã tự mình thấy rồi,” cuối cùng anh nói, “tôi đang nạy tảng đá này lên.”

“Thế à, đang nạy nó lên?”

“Phải.”

“Tôi có thể giúp một tay không?” Nàng hỏi.

Isak lắc đầu. Nhưng dù sao, đó là một ý nghĩ tử tế, rằng nàng sẽ giúp anh, và anh hầu như không thể đáp lại với những lời thô lỗ.

“Nếu cô chờ đó thêm chút nữa,” anh nói, và chạy về nhà để lấy mấy cái búa.

Nếu anh có thể đục cho tảng đá nhám hơn chút ít, đục văng ra một mảnh ở ngay đúng chỗ, nó sẽ giúp cái đòn bẫy bám chặt hơn. Inger cầm cái búa đẽo, và Isak gõ mạnh. Gõ mạnh. Gõ mạnh. Phải, chắc như ăn bắp, một mảnh đá đã văng ra. “Cô đã giúp được nhiều,” Isak nói, “và cám ơn. Nhưng đừng lo về chuyện ăn uống cho tôi vào lúc này, tôi phải nạy tảng đá này lên trước đã.”

Nhưng Inger không chịu đi về. Và nói thật, Isak rất hài lòng khi nàng đứng đó quan sát anh làm việc. Đó là một điều luôn khiến anh thấy hài lòng, từ thời họ còn son trẻ. Và coi kìa, anh đã tìm được một điểm tựa tốt cho cái đòn bẫy, và đè hết sức nặng của mình lên nó – tảng đá nhúc nhích! “Nó đang nhúc nhích đó,” Inger nói.

“Cô chỉ nói vớ vẩn,” Isak đáp.

“Vớ vẩn, đúng thật là! Nhưng nó đang nhúc nhích!”

Đi quá xa – và đó là một điều gì đó có ý nghĩa. Nhưng phải nói giờ thì tảng đá đã chuyển biến, đứng về phía anh; họ cùng nhau làm việc. Isak nạy và đẩy với cái đòn bẫy, và tảng đá di chuyển, nhưng không hơn. Anh bẫy thêm một lúc, không có gì hơn. Đột nhiên anh hiểu ra rằng đây không chỉ là vấn đề trọng lượng, sức kéo của cả thân hình anh; không, thực tế là anh không còn sức khỏe cũ của mình, anh đã mất đi sự lanh lẹ từng tạo ra những khác biệt. Trọng lượng ư? Việc dùng trọng lượng của mình để bẻ gãy một thanh sắt từng là một chuyện khá dễ dàng. Không, anh đã yếu đi, chỉ có thế. Và người đàn ông kiên nhẫn thấy lòng tràn ngập nỗi đắng cay với ý nghĩ đó – ít nhất, lẽ ra anh có thể ngăn được nỗi xấu hổ khi có Inger đứng đó để nhìn thấy điều này!

Đột nhiên anh buông rơi cái đòn bẫy và vớ lấy cái búa tạ. Một cơn thịnh nộ xâm chiếm anh, lúc này anh quyết định dùng bạo lực với nó. Và nhìn kìa, cái mũ của anh vẫn trùm lên một bên tai, theo kiểu kẻ cướp, và lúc này anh bước quanh tảng đá, một cách mạnh mẽ, đe dọa, như thể để cố tìm ra ánh sáng soi đường đúng đắn; chà, anh sẽ để lại tảng đá đã bị đập nát nằm chết dí ở đó như trước. Sao không chứ? Khi cõi lòng của một người đàn ông tràn ngập niềm căm ghét chết người đối với một tảng đá, việc đơn giản nghiền nát nó chỉ là một nghi thức. Và giả sử tảng đá chống lại, giả sử nó khước từ không chịu bị nghiền nát? Sao, cứ để cho nó thử – và để xem ai trong hai bên là kẻ sống sót!

Nhưng chính lúc đó Inger lại lên tiếng, hơi bẽn lẽn; chắc chắn là đã nhìn thấy chuyện gì đang làm anh khó xử: “Nếu cả hai chúng ta cùng đu lên cái gậy đó thì sao nhỉ?” Và vật mà nàng gọi là cây gậy chính là cái đòn bẫy chứ còn gì khác nữa.

“Không,” Isak la lên. Nhưng sau một hồi suy nghĩ anh nói: “Tốt, tốt, vì cô đang ở đây, dù đáng lẽ cô phải về nhà rồi, chúng ta cứ thử coi sao.”

Và họ cố nạy rìa tảng đá lên. Phải, họ cố xoay xở làm điều đó. Và “Phù!” Isak thở phào.

Nhưng bấy giờ họ phát hiện ra một chuyện lạ lùng. Mặt bên dưới của tảng đá bằng phẳng, khá rộng, được cắt một cách gọn ghẽ, đều và mịn như một sàn nhà. Tảng đá đó chỉ là nửa phần của một tảng đá lớn, nửa phần kia chắc chắn phải nằm đâu đó gần đấy. Isak biết rất rõ rằng hai nửa của cùng một tảng đá có thể nằm ở hai chỗ khác nhau; không còn ngờ gì nữa, theo thời gian, tuyết giá đã làm chúng trượt khỏi nhau. Nhưng anh hoàn toàn ngạc nhiên và vui sướng với phát hiện này; đó là một tảng đá hữu dụng hàng đầu, một cánh cửa. Một số tiền rất lớn cũng không khiến cho người nông dân này hài lòng đến vậy. “Một cánh cửa đẹp,” anh nói với vẻ tự hào.

Còn Inger là một tạo vật giản đơn: “Sao? Làm sao anh có thể nói trước được chuyện đó vào lúc này?”

“Hừm,” Isak đáp. “Nghĩ là tôi tới đây đào bới để chơi đấy à?”

Họ cùng trở về nhà, Isak tận hưởng sự thán phục mới mẻ này dựa trên những vờ vĩnh không đúng; đó là một điều mà anh không đáng hưởng, nhưng nó có mùi vị hơi khác với thực tế đôi chút. Anh để cho mọi người hiểu rằng anh đã tìm kiếm một cánh cửa thích hợp từ lâu, và rốt cuộc đã tìm ra nó. Dĩ nhiên, sau đó chẳng còn chút ngờ vực nhỏ nào về chuyện anh ra đó làm việc nữa; anh có thể mọc rễ ở ngoài tùy thích với cái cớ tìm nửa tảng đá còn lại. Và khi Sivert về nhà, anh có thể kêu cậu giúp đỡ.

Nhưng chuyện đã đi tới một điểm, rằng anh không thể ra ngoài một mình và moi một tảng đá lên được nữa. Vì sao? – Mọi sự đã đổi thay nhiều; phải, đó là một triển vọng tệ hại, và cần phải dọn quang chỗ đó càng nhanh càng tốt. Tuổi tác đã ập xuống người anh, anh đang tới gần cái tuổi phải ngồi bên góc lò sưởi. Thắng lợi thu lượm được về chuyện cánh cửa phai nhạt đi trong vòng vài hôm; đó là một điều sai lệch, và không thể kéo dài. Giờ đây Isak đã hơi khòm xuống khi bước đi.

Không phải anh đã có một thời đầy bản lĩnh đàn ông khi anh tỉnh táo và tập trung ngay lập tức nếu có ai đó nói một lời về đá tảng, về việc đào hay sao? Và chuyện đó chỉ mới đây thôi. Phải, và trong những ngày đó, những người phải xấu hổ về công việc đào mương thoát nước sẽ lánh khỏi đường đi của anh. Giờ đây anh đã bắt đầu, dần dà từng chút một, nhìn nhận những chuyện đó một cách điềm đạm hơn; vâng, Trời ạ! Tất cả mọi sự đã đổi thay, bản thân đất đai giờ đây cũng khác, với những con đường rộng kéo dây điện tín xuyên qua cánh rừng, chúng chưa từng có ở đó trước đây, và những tảng đá bị nước xói mòn, phân tách, không như trước đó. Và cả những cư dân cũng đã thay đổi. Họ không chào hỏi khi đến và đi như những ngày xưa, mà chỉ gật đầu, thậm chí có khi không thèm gật.

Nhưng… ngày xưa chưa có Sellanraa mà chỉ có một túp lều cỏ, trong khi bây giờ… Ngày xưa chưa có ngài Bá tước.

Phải, nhưng ngài Bá tước, giờ này ông ta ra sao? Một kẻ đáng thương, không còn gì của một siêu nhân, mà già và suy nhược dần, chân tay teo lại. Ai nghĩ rằng ông ta có bộ đồ lòng tốt và có thể ăn uống ngon lành, khi nó không mang tới cho ông ta sức mạnh? Giờ đây chính Sivert mới là người mạnh khỏe, và thật may khi cậu mạnh khỏe như vậy – nhưng cứ nghĩ coi, Isak cũng đã từng như thế! Một điều đáng tiếc, khi thấy công việc của anh tuột dốc. Anh đã cần lao như một gã đàn ông, vác những gánh nặng đủ làm cho bất cứ con thú nào mệt đứt hơi; giờ đây, anh có thể thực hành lòng nhẫn nại của mình trong sự nghỉ ngơi.

Isak cảm thấy nản lòng, tâm trạng nặng nề.

Có một cái nón cũ nằm ở bìa rừng, một cái nón tai bèo, đang mục nát trên mặt đất. Có lẽ gió lớn đã cuốn nó tới đó, hoặc lũ con trai đã mang nó tới đó từ nhiều năm trước, khi chúng còn là hai đứa nhóc con. Nó nằm đó năm này sang năm khác, mục nát dần; nhưng trước kia nó từng là một cái nón tai bèo mới, vàng tươi. Isak nhớ cái ngày anh từ cửa tiệm tạp hóa trở về nhà cùng với nó, và Inger đã bảo rằng nó là một cái nón đẹp. Khoảng một năm sau, anh đã mang nó tới nhà một họa sĩ dưới làng, nhờ sơn đen và đánh bóng nó và sơn lại vành nón màu lục. Và khi anh về nhà, Inger nghĩ rằng nó còn đẹp hơn trước kia. Inger luôn nghĩ mọi thứ đều đẹp đẽ; phải, hồi đó là một cuộc đời tốt đẹp, đi chặt củi, có Inger để ngắm nhìn – những ngày đẹp nhất của anh. Và khi tháng Ba và tháng Tư về, Inger và anh sẽ ân ái mặn nồng với nhau, hệt như lũ chim muông trong rừng, và khi tháng Năm tới, anh sẽ gieo lúa và trồng khoai, sống với lửa nhiệt tình hừng hực từ sáng cho tới tối.

Làm việc và ngủ nghỉ, yêu đương và mơ mộng, anh giống như con bò đực lớn đầu tiên, và đó là một con vật trông rất tuyệt vời, to lớn và rực rỡ như một vị vua. Nhưng không còn những tháng Năm như thế nữa từ nhiều năm gần đây. Không còn những điều như thế nữa.

Isak rất chán nản trong vài ba hôm. Chúng là những ngày tăm tối. Anh cảm thấy không còn ý chí hay sức khỏe để khởi sự làm cái vựa cỏ khô – chuyện này có thể bỏ đó cho Sivert thực hiện vào một ngày nào đó. Điều cần làm bây giờ là ngôi nhà cho chính anh – ngôi nhà cuối cùng cần phải cất lên. Anh không còn giấu được với Sivert những việc anh đang làm; anh đang phát quang mảnh đất, và san bằng nó để xem có thể làm gì. Và một hôm anh nói với con mình.

“Có một tảng đá tốt nếu chúng ta cần dùng đến cho công việc xây cất,” anh nói. “Và còn một tảng khác nữa.”

Sivert không tỏ vẻ ngạc nhiên, chỉ đáp: “Phải, những tảng đá loại thượng hạng.”

“Con nghĩ chúng ta sẽ làm gì,” cha cậu hỏi.

“Chúng ta đã đào quanh đây để tìm mảnh đá làm cánh cửa đó; gần như có thể xây dựng ở đây. Con không biết…”

“…Phải, cất nhà ở đây thì không tồi chút nào,” Sivert nói tiếp, đưa mắt nhìn quanh.

“Nghĩ thế hả? Có lẽ không tệ lắm, nên có một nơi để mọi người tạm trú nếu có ai tới đây.”

“Phải.”

“Khoảng hai phòng là tốt rồi. Con đã thấy thế nào khi những quý ông Thụy Điển đến rồi, không có một chỗ đàng hoàng cho họ tạm trú. Nhưng con nghĩ sao: có lẽ là một cái nhà bếp nhỏ nữa, nếu cần phải nấu nướng gì đó?”

“Phải, thật đáng tiếc nếu cất nhà mà không có một căn bếp,” Sivert đáp.

“Con nghĩ thế à?”

Isak không nói thêm gì nữa. Nhưng Sivert là một thanh niên nhanh trí, và cậu nhận ra ngay lập tức thứ gì cần có ở một nơi bố trí cho những quý ông Thụy Điển tạm nghỉ nếu có khi nào họ tới đây. Cậu không bao giờ cần phải hỏi một câu hỏi đơn giản, mà chỉ nói: “Vậy giờ cứ làm theo cách của con, cha sẽ đặt một cái kho ở vách tường phía bắc. Khi có người tới, sẽ rất hữu ích khi có một cái kho để treo quần áo ướt và mọi thứ.”

Và cha cậu đồng ý ngay: “Phải, chính là thứ đó.”

Họ lại cùng đào đá trong im lặng. Rồi Isak hỏi: “Ta cho là Eleseus nó chưa về nhà?”

Sivert trả lời một cách lãng tránh: “Anh ấy sẽ sớm về nhà.”

Cách của Eleseus là thế: cậu luôn đi xa, sống trong những chuyến hành trình. Cậu không thể viết thư để đặt hàng được hay sao? Nhưng cậu phải đi một vòng và mua chúng ngay tại chỗ. Với giá rẻ hơn nhiều. Phải, có lẽ, nhưng còn chi phí cho những chuyến đi thì sao? Dường như cậu có cách suy nghĩ của riêng mình. Và dù sao đi nữa, cậu muốn gì khi mua thêm vải vóc, những dải băng nhiều màu cho những cái mũ Giáng sinh, những cái nón rơm sơn trắng và đen, và những cái ống tẩu dài? Chưa từng có ai mua những thứ như thế để mang lên những ngọn đồi; và cư dân trong làng chỉ chịu lên Storborg khi họ không có tiền. Eleseus khá thông minh theo cách của cậu – chỉ cần nhìn cậu viết lên một tờ giấy, hay làm toán cộng với một viên phấn! “Phải, với một đầu óc như của cậu,” mấy người dân nói, tán thưởng cậu. Và điều đó khá đúng; nhưng cậu đang tiêu xài quá nhiều. Dân làng không bao giờ trả nợ, thế nhưng ngay cả một gã như Brede Olsen vẫn có thể mò lên Storborg vào mùa đông đó để mua chịu vải hoa, cà phê, mật đường và sáp nến.

Isak đã phải thanh toán khá nhiều tiền cho Eleseus mua lại Storborg, cho cửa tiệm và những chuyến đi dài của cậu; giờ đây không còn lại gì nhiều ở những người giàu lên nhờ cái mỏ – vậy phải làm sao đây?

“Con nghĩ Eleseus nó đang làm ăn như thế nào?” Isak đột nhiên hỏi.

“Đang làm ăn?” Sivert hỏi lại, để câu giờ.

“Dường như không tốt lắm?”

“Ừm, anh ấy nói là mọi chuyện sẽ ổn.”

“Con đã nói với nó về chuyện đó?”

“Không, nhưng Andresen bảo như thế.”

Isak trầm ngâm suy nghĩ, và lắc đầu. “Không, ta ngờ là nó đang xuống dốc, thật đáng tiếc cho thằng nhỏ.”

Và giờ đây Isak càng buồn bã hơn, vì tất cả những gì anh trải qua không còn sáng lạn như trước nữa.

Nhưng rồi Sivert tung ra một tin tức; “Có nhiều người đang tới sống ở đây.”

“Con nói thế là sao?”

“Hai mảnh đất mới. Họ đã mua gần bên đất của chúng ta.”

Isak đứng yên, cái xà beng trong tay; đây là tin tức tốt lành, tin tức tốt đẹp nhất có thể có. “Thế là có mười hộ gia đình chúng ta ở đây,” anh nói. Và Isak biết một cách chính xác nơi những người mới tới đã mua, anh thuộc nằm lòng toàn bộ vùng đất này, và gật đầu. “Phải, họ sẽ ăn nên làm ra ở đó; có nhiều củi đốt, và đây đó có nhiều cây cho gỗ lớn. Đất thoải dần về hướng tây nam. Phải…”

Những người tới định cư – dù sao đi nữa, không gì có thể đánh bại họ – đây là những cư dân mới tới để sinh sống. Cái mỏ đã không còn ý nghĩa gì nữa, nhưng đất đai thì tốt hơn lên. Một nơi hoang vắng, điêu tàn ư? Còn khuya mới thế, tất cả đều tràn trề sức sống; hai người mới, bốn bàn tay mới để lao động, những đồng lúa và đồng cỏ và những ngôi nhà. Ôi chao, những mảnh đất nho nhỏ tươi xanh trong một cánh rừng, một túp lều và nguồn nước, trẻ em và gia súc quẩn quanh. Lúa vẫy ngọn trên những cánh đồng hoang nơi trước kia không có gì ngoài những cây mộc tặc, những cây hoa chuông gật gù trên những đầm lầy, và ánh nắng vàng tươi lấp loáng trên những đóa lan tiên hài (ladyslipper) bên ngoài một ngôi nhà. Một con người đang sinh sống ở đó, đi lại, nói cười và suy nghĩ, hiện hữu ở đó cùng bầu trời và quả đất.

Người đầu tiên trong số họ đang đứng tại đây, người đàn ông đầu tiên giữa chốn rừng hoang. Anh đã tới theo cách đó, quỳ gối giữa những cây cỏ đầm lầy và những bụi thạch nam, tìm ra một dốc đồi ngập nắng và định cư tại đó. Nhiều người khác đã tới theo anh, họ đi theo con đường mòn băng qua vùng đất không người Almening; lại thêm những người khác, và đường mòn trở thành một con đường lộ, giờ đây đã có xe ngựa lại qua. Isak có thể thấy hài lòng, có thể bắt đầu với đôi chút tự hào; anh là người sáng lập ra một huyện, là kẻ mở đường.

“Nghe này, chúng ta không thể lãng phí thời gian vào cái nhà này nếu định làm cho xong cái vựa chứa cỏ khô trong năm nay,” anh nói.

Với một nét rạng ngời mới mẻ, một tinh thần mới mẻ; có thể nói thế, một sự can đảm và cuộc sống mới.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: