Phúc lành của đất – Growth of the Soil (Chương 16)

Knut Hamsun

Sellanraa có những thay đổi lớn.

Người ta không còn nhận ra nơi này như nó hồi đầu nữa: máy cưa, cối xay lúa, và đủ các loại các kiểu công trình xây cất – vùng đất hoang vu giờ đã là miền quê có người cư ngụ. Và còn có nhiều thứ hơn nữa để mà tới đó. Nhưng có lẽ Inger là điều lạ lùng nhất trong số đó; nàng đã thay đổi thật nhiều, lại trở nên tốt đẹp và thông minh giỏi dắn.

Bản thân sự kiện lớn lao hồi năm ngoái, khi mọi thứ đã đi tới hồi nguy kịch, có lẽ gần đủ để biến đổi những cung cách lơ là đểnh đoảng của nàng; thỉnh thoảng có những lần tái phạm, như khi nàng nhận ra mình lại bắt đầu nói về “học viện” và ngôi nhà thờ ở Trondhjem. Ồ, những điều rất ư ngây thơ; và nàng tháo chiếc nhẫn ra, hạ mép chiếc váy táo bạo xuống vài phân. Nàng đã trở nên trầm tư, trang trại yên tĩnh hơn và các cuộc thăm viếng ít đi; những cô gái và phụ nữ dưới làng giờ đây hiếm khi tới, vì Inger không còn quan tâm mong mỏi gặp họ. Không ai có thể sống giữa vùng đất hoang vu lại có thời gian cho những thứ ngu xuẩn đó. Hạnh phúc và sự vô lý là hai điều khác hẳn nhau.

Trong vùng hoang địa, mỗi mùa đều có những điều kỳ diệu, nhưng luôn luôn, không hề thay đổi, là cái âm thanh mênh mang trầm trọng đó của đất trời, cái cảm giác bị vây quanh tứ phía, bóng tối của khu rừng, vẻ đẹp của các loài cây cối. Mọi thứ đều nặng nề và mềm mại, không có ý nghĩ nào là bất khả ở đó. Ở phía bắc Sellanraa có một cái hồ nhỏ, một vũng nước đơn thuần, không lớn hơn một vũng nước mưa. Ở đó có những con cá nhỏ tí hon không bao giờ lớn hơn, sống và chết ở đó và không hề có dụng ích gì – Lạy Trời! Không có dụng ích gì trên trái đất. Một chiều Inger đứng ở đó lắng nghe tiếng chuông cổ bò; mọi thứ quanh nàng như đã chết, nàng không nghe thấy thứ gì; thế rồi có một bài ca vọng lên từ hồ nước. Một bài ca nho nhỏ, rất khẽ khàng, hầu như không hiện hữu, hầu như lạc mất. Đó là bài ca của những con cá tí hon.

***

Ở Sellanraa họ có một điều may mắn, cứ mỗi mùa xuân và mùa thu họ có thể nhìn thấy những con ngỗng xám bay thành từng đàn bên trên vùng hoang địa; nghe thấy tiếng kêu trò chuyện của chúng vọng lại giữa không trung – đó là một cuộc trò chuyện rôm rả. Và như thể trái đất đứng yên trong khoảnh khắc, cho tới khi đội hình của chúng đã bay qua. Và những linh hồn của con người bên dưới, khi đó họ có cảm thấy một sự yếu đuối lướt xuyên qua họ? Họ quay lại với công việc của mình, nhưng trước hết phải hít sâu lấy một hơi thở; có thứ gì đó đã nói với họ, thứ gì đó từ phía bên ngoài.

Những điều kỳ diệu lúc nào cũng ở xung quanh họ; vào mùa đông có những vì sao; cũng trong mùa đông, thường có những vầng bắc cực quang, một bầu trời của những đôi cánh, một đám cháy lớn trong những lâu đài của Thượng đế. Thỉnh thoảng, không thường xuyên lắm, họ nghe thấy tiếng sấm. Đa số nó đến vào mùa thu, và đó là một sự vật tối tăm và trang nghiêm đối với con người và súc vật; những con thú ăn cỏ gần nhà túm tụm lại với nhau và đứng chờ đợi. Chúng khom đầu xuống – để làm gì? Chờ giây phút cuối cùng? Và con người, con người đứng giữa chốn hoang vu với mái đầu cúi xuống, đang chờ đợi gì, khi sấm tới? Chờ đợi cái gì?

Mùa xuân, phải, với sự vội vã, niềm hân hoan vui sướng bốc đồng của nó; nhưng còn mùa thu! Nó gợi lên một nỗi sợ bóng tối, xui khiến người ta đọc kinh cầu nguyện buổi chiều; có những hình ảnh quanh quất và những cảnh báo trong không trung. Vào mùa thu, người ta có thể ra ngoài một hôm nào đó để kiếm tìm một điều gì đó – đàn ông thì tìm một súc gỗ cho công việc của mình, đàn bà thì đuổi theo gia súc chạy rong sau khi nấm mọc lên: họ sẽ trở về nhà với nhiều bí mật trong đầu. Họ có vô tình dẫm lên một con kiến, nghiền nát phần thân sau của nó dính sát vào con đường, vì thế phần thân trước của nó không thể tự giải phóng cho nó? Hoặc có bước quá gần một cái tổ gà gô trắng, khiến con gà gô mẹ phải kêu rít lên và lao tới họ? Ngay cả những cây nấm bò [9] to lớn cũng không hề hoàn toàn vô nghĩa; không chỉ đơn thuần là một khoảng trống màu trắng trong con mắt. Loài nấm lớn này không ra hoa, nó không chuyển động, nhưng có gì đó đang đảo lộn trong dáng vẻ của nó; nó là một con quái vật, một vật giống như một lá phổi đứng đó, sống động và trần trụi – một lá phổi không có một thân hình.

Cuối cùng Inger trở nên chán nản, cảnh vật hoang vu đè nặng xuống nàng, nàng trở nên sùng đạo. Làm thế nào nàng có thể chống lại nó? Không ai có thể chống lại nó giữa chốn đồng hoang; cuộc sống ở đó không chỉ là công việc và cuộc sống trần thế nhọc nhằn; còn có lòng mộ đạo, nỗi sợ hãi cái chết và những điều mê tín dị đoan. Có lẽ Inger cảm thấy rằng nàng có nhiều lý do để sợ sự phán xét của đất trời hơn những người khác, và nó không trôi lướt qua nàng; nàng biết Thượng đế đi quanh như thế nào trong buổi xế chiều để xem xét cõi hoang vu của ngài với đôi mắt huyền bí; phải, ngài sẽ tìm thấy nàng. Nàng không thể đổi thay nhiều lắm trong cuộc sống hàng ngày của mình; đúng, nàng có thể chôn giấu chiếc nhẫn vàng của nàng xuống tận đáy một rương quần áo, nàng có thể viết thư cho Eleseus và bảo nó cũng nên theo đạo; sau đó, nàng không còn tìm ra điều gì khác ngoài việc làm tốt công việc của mình và không để cho bản thân ăn không ngồi rồi. Phải, còn có một điều; nàng có thể ăn mặc những áo quần khiêm tốn, chỉ thắt thêm một dải ruy băng xanh quanh cổ vào những ngày Chủ nhật. Sự nghèo túng này là giả tạo, không cần thiết – nhưng nó là sự thể hiện của một loại triết lý, tự hạ nhục mình, khắc kỷ. Dải ruy băng xanh không còn mới; nó được cắt ra từ một cái mũ mà bé Leopoldine không còn đội vừa nữa; nó bị phai màu ở chỗ này chỗ khác, và, nói thật, hơi bẩn chút xíu – giờ đây Inger đeo nó như là một mẩu trang sức khiêm nhường vào những ngày linh thánh. Phải, có lẽ nàng đã trở nên phi lý, giả vờ nghèo nàn, cố gắng noi theo một cách giả tạo những người cùng khổ sống trong những nơi chốn tồi tàn bẩn thỉu; nhưng thậm chí là thế – sự trốn chạy của nàng có vĩ đại hơn không nếu món trang sức khốn khổ đó là thứ tốt nhất của nàng? Hãy để cho nàng sống an lành, nàng có quyền sống an lành!

Nàng thực hiện một cách tốt đẹp quá mức mọi thứ và chăm chỉ hơn mức cần thiết. Trong trại có hai người đàn ông, nhưng Inger nắm ngay lấy cơ hội khi cả hai đi xa khỏi trại, tự mình bắt tay vào việc cưa gỗ; và đâu là ý nghĩa tốt đẹp của việc tự hành xác theo cách đó? Nàng là một tạo vật không quan trọng, có giá trị quá bé nhỏ, năng lực của nàng quá tầm thường; sẽ không ai chú ý tới việc nàng sống hay chết trong khu vực này, trong quốc gia này, mà chỉ tại nơi đây, giữa vùng đất hoang vu. Ở đây, nàng gần như vĩ đại – kẻ vĩ đại nhất, ở mọi mức độ; và có thể nàng nghĩ rằng mình xứng với mọi sự trừng phạt mà nàng tự đưa ra và chịu đựng. Chồng nàng bảo:

“Sivert và tôi, chúng tôi đã nói chuyện về việc này; chúng tôi sẽ không cho cô cưa gỗ và tự làm cho mình kiệt sức.”

“Tôi làm nó vì lương tâm,” Inger đáp.

Lương tâm! Một lần nữa từ này khiến Isak trầm ngâm. Anh đã tiến bộ hơn theo năm tháng, suy nghĩ chậm chạp nhưng chắc chắn khi anh muốn đạt tới bất cứ điều gì. Lương tâm phải là thứ gì đó khá mạnh mẽ nếu nó có thể đảo ngược hoàn toàn Inger như thế. Và dù thế nào đi nữa, câu nói của Inger cũng tạo ra một thay đổi trong anh; anh nắm bắt được nó từ nàng, trở nên thuần tính, và suy ngẫm nhiều hơn. Cuộc sống nặng nề và lạnh lùng vào mùa đông ấy; anh tìm sự cô độc, tìm một nơi ẩn náu. Để dành dụm những cây gỗ của mình anh đã mua thêm một mảnh rừng bên cạnh của nhà nước, chạy thẳng về hướng Thụy Điển, với một số cây gỗ tốt, và giờ đây anh đốn hạ gỗ một mình, từ chối mọi sự giúp đỡ. Sivert được lệnh ở nhà để ngăn mẹ nó không được làm việc quá nhiều.

Và cứ thế, trong những ngày đông ngắn ngủi, Isak lên đường tới chỗ làm trong bóng tối và trở về nhà trong bóng tối; không phải lúc nào cũng có trăng hay bất kỳ một vì sao nào, và đôi khi lối mòn anh đi vào buổi sáng có thể bị tuyết che phủ khi đêm xuống, vì thế anh gặp khó khăn trong việc tìm đường. Và một chiều nọ đã có chuyện xảy ra.

Anh đã về tới gần nhà; trong ánh trăng sáng tỏ anh có thể nhìn thấy Sellanraa đứng đó trên sườn đồi, tách biệt khỏi khu rừng, nhưng trông bé nhỏ và chìm sâu trong đất, vì tuyết đã tạo thành một mô cao quanh những bức tường. Bây giờ anh đã có nhiều gỗ hơn, và Inger cùng lũ trẻ sẽ ngạc nhiên khi nghe thấy anh làm gì với nó – một tòa nhà tuyệt vời anh đã xây cất sẵn trong đầu. Anh ngồi xuống mặt tuyết nghỉ chốc lát, để trông không có vẻ mệt nhọc khi về tới nhà.

Vạn vật quanh anh im lìm, và Thượng đế đang ban phúc lành trên sự tĩnh lặng, trầm tư này, vì nó không là gì khác ngoài sự tốt lành! Isak là một người cần lao, đang ngồi trong một khoảng trống giữa rừng, và anh nhìn lướt qua mặt đất, tự hỏi lần sau sẽ phát quang gì tiếp; nhấc bỏ những tảng đá nặng khỏi tâm trí của anh – Isak có một tài năng thật sự đối với việc đó. Giờ đây anh biết có một khoảnh đất sâu, lộ thiên trên mảnh đất của mình; nó chứa đầy quặng; luôn có những lớp màng kim loại trên từng vũng nước nhỏ ở đó – và bây giờ anh sẽ đào nó. Anh đánh dấu những khoảnh vuông vắn bằng đôi mắt, lên kế hoạch cho tất cả, xét suy tất cả, chúng sẽ trở nên xanh tươi màu mỡ; với anh điều đó giống như là điều đúng đắn và trật tự, và ngoài ra còn là một niềm vui sướng…

Anh đứng lên, và chợt cảm thấy bối rối. Ừm. Chuyện gì đã xảy ra vậy? Nào có gì đâu, chỉ là anh đã ngồi xuống một lát. Lúc này có vật gì đó đang đứng trước mặt anh, một Sinh thể, một Linh thần; lụa xám – không, không có gì hết. Anh cảm thấy lạ lùng, bước tới trước một bước ngắn phân vân, và đi thẳng vào một cái nhìn, một cái nhìn kỳ vĩ, một đôi mắt. Ngay lúc đó những cây dương lá rung gần đấy bắt đầu kêu xào xạc. Bất kỳ người nào cũng biết rằng đôi khi một cây dương lá rung có thể xào xạc kêu lên một cách lạ kỳ kinh khủng; dù sao đi nữa, chưa bao giờ trước đó Isak nghe một tiếng xào xạc kinh khủng lạ lùng đến thế, và anh rùng mình. Anh đưa một bàn tay ra phía trước, và có lẽ đó là cử động bất lực nhất mà một bàn tay từng thực hiện.

Nhưng vật trước mặt anh là gì? Đó là hình ảnh do ma quái tạo ra hay là thực tại? Trong suốt đời mình hẳn Isak phải sẵn sàng thề rằng đây là một quyền năng cao hơn, và anh đã từng có lần thật sự nhìn thấy nó, nhưng vật mà anh nhìn thấy lúc này trông không giống như Thượng đế. Có lẽ là Thánh thần? Nhưng dù sao thì vật đang đứng đó giữa một nơi xa xôi hẻo lánh này là gì? Hai con mắt, một cái nhìn, và không còn gì khác nữa? Nếu nó đến với anh để lấy đi linh hồn anh, sao, hẳn là việc đó sẽ phải xảy ra; nói cho cùng, nó sẽ xảy ra một ngày nào đó, và rồi anh sẽ lên cõi thiên đường, sống giữa những người hạnh phúc.

Isak nôn nóng muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra kế tiếp; anh vẫn còn đang run rẩy; dường như từ cái hình dáng trước mặt anh phát ra một sự lạnh lẽo – hẳn đó phải là Quỷ dữ! Và tới đây Isak không còn chắc chắn về lý lẽ của mình. Đó có thể là Quỷ dữ – nhưng nó muốn gì đây? Anh, Isak này, đã làm điều gì? Chẳng làm gì ngoài việc ngồi im và suy ngẫm chuyện trồng trọt đất đai, trong ý nghĩ của mình, như thường lệ – chắc chắn là không tổn hại gì tới ai trong chuyện đó? Ngay lúc đó anh không thể nghĩ ra được một lỗi lầm nào khác; anh chỉ đang trên đường trở về nhà từ nơi làm việc trong rừng, một gã tiều phu đói mệt, đang trở về trại Sellanraa – anh không có ý làm hại tới ai…

Anh lại bước tới trước thêm một bước, nhưng chỉ là một bước nhỏ, và, phải nói thật, anh lui lại ngay tức khắc. Ảo ảnh đó không nhượng bộ. Isak cau mày, như thể bắt đầu ngờ vực một điều gì đó. Nếu đó là Quỷ dữ, sao, cứ mặc kệ nó; Quỷ thì không toàn năng – ví dụ như Luther, chính ông đã suýt giết được con quỷ, chưa kể tới nhiều người khiến cho nó phải trốn chạy bằng cách làm dấu thánh giá và đọc tên Chúa Jesus. Không phải Isak có ý định thách thức kẻ nguy hiểm trước mặt mình; anh không nghĩ tới chuyện ngồi xuống và cười vào mặt nó, nhưng hẳn nhiên anh đã từ bỏ ý tưởng ban đầu của mình về cái chết và thế giới tiếp theo. Anh bước tới thêm hai bước, thẳng về phía ảo ảnh, làm dấu thánh giá và hét lớn: “Nhân danh Chúa Jesus!”

Ừm. Cùng với giọng nói của chính mình, anh tỉnh táo trở lại, và một lần nữa nhìn thấy Sellanraa trên mé sườn đồi. Đôi mắt trong không trung đã biến đi.

Anh lên đường trở về nhà ngay, và không thách đố bóng ma đó thêm nữa. Nhưng khi thấy mình đã lại an toàn trên bậc cửa, anh hắng giọng với một ý thức về sức mạnh và sự an toàn; anh bước vào nhà với sắc mặt kiêu hãnh, như một người đàn ông – phải, một người đàn ông trên cõi thế.

Inger giật mình khi trông thấy anh, và hỏi điều gì khiến cho anh tái nhợt như thế.

Và khi đó anh không chối bỏ việc đã nhìn thấy chính bản thân Quỷ dữ.

“Ở đâu?” nàng hỏi.

“Ở trên kia. Ngay mé trên trại của chúng ta.”

Về phần mình, Inger tỏ ra không có thái độ ghen tị. Nàng không khen ngợi anh về chuyện đó, đúng, nhưng trong cách cư xử của nàng không có gì cho thấy một công việc vất vả hay sự phản đối mang tính khinh miệt. Bạn thấy đó, về sau này Inger đã trở nên dịu dàng và tốt bụng hơn chút ít, bất kể nguyên nhân là gì; và lúc này nàng chỉ đơn giản hỏi:

“Chính bản thân Quỷ dữ à?”

Isak gật đầu: trong chừng mực anh có thể nhìn thấy thì chính là nó chứ không ai khác.

“Và anh làm sao tống cổ nó đi được?”

“Tôi bước tới nó và đọc tên Chúa Jesus.”

Inger lắc đầu, hoàn toàn bị áp đảo, và phải mất một lúc nàng mới có thể bày bữa tối của anh lên bàn được.

“Dù sao đi nữa,” cuối cùng nàng nói, “chúng tôi sẽ không để anh đi một mình trong rừng nữa.”

Nàng lo lắng cho anh – và khi biết điều này anh thấy dễ chịu. Anh tỏ ra mạnh bạo như mọi ngày, và hoàn toàn không lưu tâm tới chuyện anh đi một mình hay có người đi cùng; nhưng điều này chỉ nhằm làm tâm trí của Inger dịu lại chứ không phải để dọa dẫm nàng nhiều hơn mức cần thiết với điều đáng sợ đã xảy ra với anh. Việc bảo vệ nàng và tất cả bọn họ chính là trách vụ của anh; anh là Người đàn ông, là Kẻ chỉ huy.

Nhưng Inger cũng nhìn thấu cả điều này, và bảo: “Ồ, tôi biết anh không muốn làm tôi sợ. Nhưng anh phải luôn mang Sivert đi cùng.”

Isak chỉ khịt mũi.

“Anh có thể bất ngờ bị ốm hay thấy khó ở trong rừng, dạo gần đây anh không khỏe cho lắm.”

Isak lại khịt mũi. Ốm à? Mệt, có lẽ thế, và hơi đuối sức đôi chút, nhưng còn ốm? Inger không cần phải bắt đầu lo lắng và xem anh như một gã ngốc; anh còn khá khỏe mạnh; ăn, ngủ và làm lụng; đơn giản là thể chất của anh rất khỏe, đó là điều không hề thay đổi! Có lần khi đang đốn cây, thân cây đã ngã xuống đầu anh và làm tai anh đứt toạt, nhưng anh xem nhẹ chuyện này. Anh gắn lại cái vành tai vào vị trí cũ và giữ nó nằm đó bằng cách đội trùm cái mũ lên trên nó suốt ngày đêm; và nó đã liền trở lại theo cách đó. Với những khó chịu trong người, anh tự chữa cho mình với một thứ vỏ cây luộc với sữa để làm cho mồ hôi toát ra – đó là vỏ cam thảo, mua ở cửa tiệm, một cách trị bệnh cổ xưa và đáng tin cậy của các bậc tiền nhân. Nếu anh bị đứt tay, anh trị vết thương bằng một thứ chất lỏng có chứa muối luôn mang theo bên người, và nó sẽ lành lặn trong vài ba hôm. Chưa từng có vị bác sĩ nào được mời tới Sellanraa.

Không, Isak không bị ốm. Một cuộc chạm trán với Quỷ dữ có thể xảy ra ngay đối với một người khỏe mạnh nhất. Và sau đó anh thấy chuyến mạo hiểm đó cũng không tệ cho lắm; trái lại, dường như nó đã củng cố thêm cho anh sức mạnh. Và khi mùa đông sắp tới gần, đó không phải là một thời gian đáng sợ để đợi chờ cho tới mùa xuân, anh, Người đàn ông và Kẻ chỉ huy, bắt đầu tự cảm thấy mình gần như là một vị anh hùng: anh thấu hiểu những điều này; chỉ tin vào chính mình và tất cả sẽ ổn thỏa. Trong trường hợp cần thiết, anh có thể tự mình xua đuổi Quỷ dữ đi!

Nhìn chung, ngày bây giờ dài hơn và trong sáng hơn; mùa lễ Phục sinh đã qua, Isak đã chuyển về tất cả số gỗ, trông mọi thứ đều sáng sủa, mọi người lại có thể thở phào sau khi một mùa đông nữa trôi qua.

Một lần nữa Inger là người đầu tiên trở nên tươi tỉnh; lúc này nàng tỏ ra vui vẻ hơn trong suốt một thời gian dài. Vì sao vậy? Chà, chỉ vì một lý do đơn giản; Inger đã lại trở nên nặng nề, lại một lần nữa mang thai. Mọi thứ trong đời nàng đều diễn ra một cách dễ dàng, không hề vướng mắc ở bất kỳ chỗ nào. Nhưng chao ôi, sau cái cách nàng đã phạm tội! Chuyện này tốt đẹp đến nỗi nàng không có bất kỳ quyền gì để mong chờ. Phải, nàng là người may mắn, rất may mắn. Một hôm, chính Isak cũng nhận ra điều gì đó và đã hỏi thẳng nàng: “Trông như thể cô lại đang có mang; cô bảo sao?”

“Phải, tạ ơn Thượng đế, chắc chắn là thế rồi,” nàng đáp.

Cả hai đều kinh ngạc như nhau. Dĩ nhiên không phải vì Inger đã quá tuổi sinh nở; trong đầu Isak, theo mọi giá nàng chưa quá già. Nhưng một đứa con khác… được, được… Và mỗi năm bé Leopoldine lại đến trường ở mé dưới trại Breidablik nhiều lần – điều đó khiến trại không còn đứa nhỏ nào – ngoài ra, giờ đây Leopoldine cũng đã lớn.

Vài ngày trôi qua, và Isak dành trọn thời gian cuối tuần – từ chiều thứ Bảy cho tới sáng thứ Hai – cho một chuyến xuống làng. Khi lên đường, anh không nói mục đích là gì, nhưng khi quay về, anh mang theo một bé gái. “Đây là Jensine,” anh nói. ‘Đến để giúp việc.”

“Anh đúng thật là,” Inger nói, “tôi không cần giúp gì hết.”

Isak đáp rằng nàng cần tới một sự giúp đỡ – ngay lúc này.

Cần hay không cần, đây vẫn là một ý nghĩ tốt bụng và hào phóng của anh; Inger thấy bối rối và biết ơn. Cô bé mới tới là con gái của người thợ rèn và dù thế nào đi nữa nó sẽ ở lại với họ từ nay cho tới hết mùa hè, và rồi họ sẽ xem sao.

“Tôi đã gửi một bức điện cho thằng Eleseus,” Isak nói.

Chuyện này thật sự khiến cho Inger kinh ngạc; khiến cho người mẹ kinh ngạc. Một bức điện? Phải chăng anh muốn làm cho nàng hoàn toàn bối rối với sự chu đáo của mình? Gần đây nàng rất buồn vì đứa con trai Eleseus đang sống xa nhà ngoài thị trấn – trong cái thị trấn đầy ác ý đó; nàng đã viết thư cho nó nói về Thượng đế, và cũng giải thích với nó rằng cha nó đang bắt đầu chìm ngập trong công việc ra sao; và trang trại thì đang ngày càng phình lớn ra; nhóc Sivert không thể xoay xở mọi thứ một mình, ngoài ra, nó sẽ có tiền thừa kế từ ông cậu nó vào một ngày nào đó – nàng đã viết tất cả những điều này, và đã gửi cho nó tiền để chi tiêu trong chuyến hành trình một đi không trở lại này. Nhưng giờ đây Eleseus đã là một thị dân, và không hề mong muốn sống một cuộc sống nhà nông; nó trả lời đôi điều về việc nó sẽ làm được gì nếu quay trở về nhà? Lao động trong một nông trại và vứt bỏ mọi kiến thức hiểu biết nó đã có được? “Thực tế là,” đó là cách viết của nó, “bây giờ con không muốn trở về. Và nếu mẹ có thể gửi cho một ít đồ lót, con sẽ không phải mua chịu mấy thứ đó.” Nó viết như thế. Vâng, mẹ nó đã gửi cho nó các thứ – đã gửi cho nó một số lượng đáng kể các thứ quần áo lót vào lúc này lúc khác. Nhưng khi nàng đã thay đổi và theo đạo, những lớp vảy đã rơi khỏi mắt nàng, và nàng hiểu rằng Eleseus đã bán các món đồ lót đó để tiêu tiền vào các thứ khác.

Cha nó cũng nhìn thấy điều này. Anh không bao giờ nói tới chuyện đó; anh biết rằng Eleseus là con cưng của Inger, và nàng đã khóc lóc, lắc đầu ra sao vì nó; nhưng hết mẩu vải dệt này tới mẩu khác lại ra đi theo cùng một cách, và anh biết số đồ lót đó nhiều hơn mức bất kỳ một người đang sống nào có thể dùng tới. Nhìn chung, phải đi tới điều này: Isak phải trở lại là Người đàn ông và Kẻ chỉ huy – là người đứng đầu trong nhà, phải bước vào cuộc và can thiệp. Chắc chắn là việc nhờ người chủ tiệm gửi đi bức điện đã tốn một số tiền kinh khủng; nhưng trước tiên, một bức điện sẽ tạo một ấn tượng đối với cậu con trai, ngoài ra, việc Isak trở về nhà và kể lại cho Inger nghe cũng là một điều gì đó tốt đẹp khác thường. Anh đã vác cái rương của cô bé giúp việc trên lưng khi quay gót về nhà; nhưng với tất cả những chuyện đó, anh thấy lòng tự hào và tràn ngập những bí mật lớn lao mà anh từng có vào cái hôm anh trở về nhà với chiếc nhẫn vàng…

Sau đó là một quãng thời gian tuyệt diệu. Trong suốt một thời gian dài, Inger không thể bày tỏ đủ cho ông chồng thấy nàng có thể tốt và hữu ích ra sao. Giờ đây nàng thường nói với với anh, như những ngày xưa: “Anh sẽ đày đọa mình cho tới chết vì công việc!” Hoặc: “Đây là việc mà không có bất kỳ người đàn ông nào chịu nổi.”. Hoặc: “Nào, anh đừng làm việc nữa; hãy vào nhà và dùng bữa tối. Tôi đã làm cho anh ít bánh xốp!” Và để làm vui lòng anh, nàng bảo: “Tôi rất muốn biết, ngay bây giờ, anh tính gì trong đầu với tất cả những thứ gỗ đó, và anh sắp xây dựng cái gì kế tiếp?”

“Sao, tôi chưa thể nói được,” Isak đáp, làm ra vẻ bí mật.

Phải, hệt như những ngày xưa. Và sau khi đứa bé chào đời – đó là một bé gái – một bé gái to lớn, xinh xắn, cứng cáp và lành lặn – Isak hẳn phải là một tảng đá hay một sinh vật khốn khổ nếu như anh không tạ ơn Thượng đế. Nhưng anh sẽ xây dựng cái gì? Sẽ có thêm nhiều tin tức để Oline đi lang thang đồn thổi – một công trình mới ở trại Sellanraa. Một chái nhà mới – nó sẽ là một ngôi nhà mới. Và giờ đây ở trại Sellanraa có nhiều người – họ có một cô hầu gái; và Eleseus, cậu ta sẽ trở về nhà; và một bé gái mới toanh của họ vừa chào đời – ngôi nhà cũ giờ đây chỉ như một căn phòng phụ, không hơn.

Dĩ nhiên, một hôm nọ anh phải nói với Inger về nó; nàng rất tò mò muốn biết, và dù có thể Inger đã biết trước hết mọi thứ, từ Sivert – cả hai người bọn họ thường thì thầm với nhau – nàng tỏ vẻ rất đỗi ngạc nhiên như bất cứ một ai có thể ngạc nhiên, buông thỏng đôi tay xuống và nói: “Anh đúng thật là…anh không định làm thế chứ?”

Và Isak, vui như mở cờ trong bụng, đáp lời nàng: “Sao chứ, với việc mang thai của cô tôi không biết sẽ có thêm bao nhiêu trẻ con ở cái trại này, có vẻ như đó là điều tối thiểu tôi có thể làm.”

Giờ đây hai người đàn ông ra khỏi nhà mỗi ngày để vác đá về làm tường cho ngôi nhà mới. Họ cùng nhau làm hết sức theo cách riêng của mình: người trẻ tuổi hơn, với thân hình trẻ trung vững trải, nhanh chóng tìm ra cách của mình, để đánh dấu những tảng đá phù hợp; người kia lớn tuổi hơn – rắn rỏi, với đôi cánh tay dài và sức nặng thân hình để ấn chiếc xà beng xuống. Khi họ đã giải quyết được một công việc đặc biệt khó khăn, họ thường ngồi nghỉ một lát và trò chuyện với nhau theo cung cách lạ lùng, kín đáo của riêng họ.

“Brede, ông ta nói về việc bán cái trại,” người cha nói.

“Phải, không biết ông ta sẽ đòi giá bao nhiêu cho cái trại đó?” Đứa con trai nói.

“Phải, cha cũng tự hỏi thế.”

“Cha không nghe thấy gì sao?”

“Không.”

“Con nghe nói là hai trăm.”

Người cha suy nghĩ một lát rồi bảo: “Con nghĩ sao, tảng đá này có tốt không?”

“Tùy vào việc chúng ta có nạy lớp vỏ của nó ra được hay không,” Sivert nói, và đứng phắt dậy, trao cái búa chêm cho cha cậu, còn tự mình cầm chiếc búa tạ. Cậu lấy hết sức mình, nhón gót lên và giáng chiếc búa tạ xuống; lại nhấc búa lên và giáng xuống; có đến khoảng hai mươi nhát búa – hai mươi nhát búa như sấm sét. Cậu không để phí công cụ cũng như sức lực; đó là một công việc nặng nhọc; áo sơ mi của cậu nhăn nhúm dồn xuống chỗ lưng quần, khiến phía trước thân hình cậu trở nên trần trụi; cậu nhón gót lên ở mỗi lần để nhát búa mạnh hơn. Hai mươi nhát.

“Nào! Hãy nhìn xem!” Người cha kêu lên.

Đứa con trai ngưng tay, và hỏi: “Nó có suy suyển gì không?”

Và họ cùng nằm xuống nhìn tảng đá; nhìn con quái thú, con quỷ đó; không, nó chưa hề suy suyển chút nào.

“Cha tính sẽ thử với mỗi cái búa tạ,” người cha nói, và đứng lên. Vẫn là một công việc nặng nhọc, chỉ dùng đến sức, chiếc búa tạ nóng đỏ lên, lớp thép bị nghiến bẹp, cái lưỡi búa cùn đi.

“Đầu búa sẽ bị tuột,” anh nói và dừng lại. “Và cha sẽ không chạm tay vào tảng đá này nữa,” anh nói.

Ồ, anh không bao giờ định thế; đó không phải là ý nghĩ của anh, rằng anh sẽ không chạm tay vào công việc này nữa!

Người cha này, con người vạm vỡ này, đơn giản, đầy nhẫn nại và tốt bụng, anh sẽ để cho con trai của mình giáng những nhát búa cuối cùng để chẻ tảng đá. Và nó nằm đó, bị tách làm đôi.

“Phải, con đã nắm được mánh lới của nó,” người cha nói. “Ừm, phải… Breidablik… có thể làm được đôi điều từ cái trại đó.”

“Phải, nên nghĩ thế,” đứa con trai nói.

“Chỉ là mảnh đất bị đào rãnh và xới lên khá nhiều.”

“Ngôi nhà phải được hoàn thành.”

“Phải, tất nhiên là thế. Phải thực hiện tất cả, nghĩa là đầu tiên sẽ có khá nhiều việc, nhưng… Cha định nói gì nhỉ, con có biết mẹ con có đi lễ nhà thờ vào Chủ nhật tới hay không?”

“Dạ, mẹ có nói gì đó về chuyện ấy.”

“Thế à!… Ừm. Giờ hãy mở to mắt con ra và tìm một cái bậc cửa lớn ngon lành cho ngôi nhà mới. Con chưa tìm thấy một miếng đá nào như vậy hả?”

“Chưa,” Sivert đáp.

Và họ lại lao vào công việc.

Hai hôm sau cả hai đồng ý rằng giờ đây họ đã có đủ đá cho những bức tường. Lúc bấy giờ là xế chiều thứ Sáu; họ ngồi nghỉ và trò chuyện với nhau một lúc.

“Ừm, con bảo sao hả?” người cha nói. “Chúng ta có nên nghĩ kỹ về Breidablik không?”

“Ý cha là sao?” đứa con hỏi. “Sẽ làm gì với nó?”

“Sao, cha không biết. Có trường học ở đó, và bây giờ nó nằm ở giữa con đường này.”

“Vậy thì sao?” đứa con hỏi. “Con không biết chúng ta sẽ làm gì với nó; nó không đáng giá nhiều đến thế.”

“Đó là điều mà con đang nghĩ tới hả?”

“Không, không phải theo cách đó… Trừ phi Eleseus ảnh muốn có cái trại đó để làm.”

“Eleseus à? Ồ, không, cha không biết…”

Một khoảng ngưng dài, hai người đàn ông căng thẳng suy nghĩ. Người cha bắt đầu thu gom lại các công cụ, gói ghém để về nhà.

“Phải, trừ phi…” Sivert nói. “Cha có thể hỏi xem ảnh nói thế nào.”

Người cha kết thúc vụ việc: “Được, còn có một ngày nữa, và chúng ta cũng chưa tìm được cái bậc cửa.”

Ngày hôm sau là thứ Bảy, và họ phải lên đường sớm để băng qua dãy đồi cùng đứa bé. Jensine, cô hầu gái, muốn đi cùng với họ; một bà mẹ đỡ đầu, đó là điều cuối cùng mà họ phải tìm ra trong số những bà con của Inger ở mé bên kia dãy đồi.

Trông Inger rất xinh đẹp; nàng đã may cho mình một chiếc váy dễ thương, viền trắng ở cổ và hai cổ tay. Đứa trẻ mặc toàn màu trắng, với một dải ruy băng lụa xanh mới luồn qua nếp váy; nhưng nó là một đứa bé tuyệt vời, chắc chắn thế, đã có thể mỉm cười và nói bi bô, nằm và lắng nghe tiếng đồng hồ gõ trên tường. Cha nó đã chọn tên cho nó. Đó là quyền của anh; anh đã quyết định thế – chỉ việc tin vào anh! Anh đã do dự giữa Jacobine và Rebecca, vì cả hai đều có quan hệ tới anh; cuối cùng anh tới gặp Inger và hỏi một cách e thẹn: “Nào, cô nghĩ sao, về cái tên Rebecca?”

“Sao, vâng.” Inger đáp.

Và khi Isak nghe thấy thế, anh đột nhiên trở lại độc lập và là vị chủ nhân trong ngôi nhà của mình. “Nếu nó cần có một cái tên,” anh nói một cách dứt khoát, “đó sẽ là Rebecca! Tôi sẽ xem xét việc đó.”

Và dĩ nhiên anh sẽ đi cùng cả nhóm tới nhà thờ, phần là để mang vác, phần là vì khuôn phép. Không thể để Rebecca được rửa tội một cách sai phép tắc! Isak tỉa lại bộ râu và mặc một chiếc sơ mi đỏ, như trong những ngày còn trẻ trung; trời đang vào lúc thời tiết nóng nực nhất, nhưng anh có một bộ vét mùa đông mới, mặc trông rất hợp, và anh đã mặc nó. Nhưng với tất cả những thứ đó, Isak không phải là một người ưa phô phang lòe loẹt; chẳng hạn như lúc này, anh mang một đôi ủng to nặng cho chuyến đi.

Sivert và Leopoldine ở lại để trông nhà.

Rồi họ chèo thuyền băng qua hồ, và đây là một việc dễ dàng hơn trước kia, khi họ còn phải đi vòng suốt cả quãng đường. Nhưng khi họ đã băng ngang được nửa đường, và Inger nới lỏng cổ áo để cho Rebecca bú, Isak nhận ra có thứ gì đó treo lấp lánh trên một sợi dây quanh cổ nàng; bất kể nó là thứ gì. Và trong nhà thờ anh nhận thấy nàng đã đeo chiếc nhẫn đó trên ngón tay. Ồ, Inger – nói cho cùng, quả là nàng đã rất coi trọng nó!

[9] Cow-mushroom

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: