Phúc lành của đất – Growth of the Soil (Chương 15)

Knut Hamsun

Dó là một buổi chiều hoàn toàn khác lạ: một bước ngoặt. Inger đã đi chệch khỏi đường suốt một thời gian dài; và một cú nhấc bổng lên khỏi sàn nhà đã đặt nàng trở lại đúng chỗ của mình; Không bên nào nhắc tới chuyện đã xảy ra. Sau đó Isak cũng thấy xấu hổ với chính mình – tất cả chỉ vì một Daler, một món tiền vặt vãnh, mà nói cho cùng hẳn anh đã cho nàng, vì bản thân anh cũng vui lòng cho đứa con trai số tiền đó. Và thế này nữa – không phải số tiền đó cũng là của chính Inger hay sao? Có một thời điểm Isak thấy tới lượt anh trở nên nhún nhường.

Có nhiều loại thời gian xảy đến. Một lần nữa, hẳn tâm trí của Inger đã thay đổi, có vẻ là thế; một lần nữa nàng trở nên khác hẳn; dần dà quên đi những cung cách lịch thiệp của mình và biến thành một con người mới: người vợ của một kẻ khai hoang, đứng đắn, trầm tư như nàng đã từng là thế trước kia. Hãy nghĩ xem, một cú xiết mạnh tay của một gã đàn ông có thể tạo nên những điều kỳ diệu đến thế! Nhưng điều đó đúng; đây là một phụ nữ khỏe mạnh, khá biết điều, nhưng đã bị thời gian giam hãm lâu ngày trong một không khí giả tạo làm cho hư hỏng và lệch lạc – và nàng đã húc đầu vào một người đàn ông đứng vững vàng trên đôi chân của anh ta. Chưa phút giây nào anh rời khỏi vị trí tự nhiên của mình trên mặt đất, trên đất đai. Không gì có thể lay chuyển được anh.

Có nhiều loại thời gian. Năm kế tiếp hạn hán lại tới, chậm rãi giết chết sinh vật cỏ cây và bào mòn lòng can đảm của con người. Lúa đứng đó và teo quắt lại; khoai tây – thứ khoai tây kỳ diệu – chúng không bị teo quắt lại nhưng cứ ra hoa, ra hoa mãi. Những cánh đồng cỏ chuyển thành màu xám nhưng khoai tây thì vẫn cứ ra hoa. Những quyền năng trên cao dẫn dắt mọi thứ, không còn ngờ gì nữa, nhưng những cánh đồng đang chuyển thành màu xám.

Rồi một hôm Geissler tới – cuối cùng cựu Lensmand Geissler đã tới. Thật tốt khi biết rằng ông chưa chết và lại xuất hiện. Nhưng bây giờ ông tới để làm gì?

Qua vẻ ngoài của ông, lần này Geissler không mang theo những điều ngạc nhiên lớn; không mua những quyền khai mỏ, mang theo những hồ sơ và các thứ đại loại. Ông ăn mặc tuềnh toàng, mái tóc và bộ râu của ông đã ngã bạc, và khóe mắt ông đỏ hơn trước. Ông cũng không đem theo người nào để đeo các thứ của ông mà chỉ cất những giấy tờ của ông trong túi, thậm chí không có cả một cái túi xách.

“Xin chào,” Geissler nói.

“Xin chào,” Isak và Inger đáp lại. “Thật hân hạnh tiếp đón ngài!”

Geissler gật đầu.

“Và xin cám ơn về tất cả những gì ngài đã làm lần đó ở Trondhjem,” Inger nói thêm.

Isak gật đầu khi nghe thấy thế và nói: “Phải, cả hai chúng tôi chịu ơn ngài về việc đó.”

Nhưng việc bày tỏ những cảm giác và tình cảm không phải là cách thức của Geissler, ông nói: “Vâng, tôi chỉ đi ngang qua để sang Thụy Điển.”

Với mọi rắc rối trong đầu họ do cơn hạn hán, những người chủ trại Sellanraa vui mừng gặp lại Geissler; họ cho ông thứ tốt nhất họ có và rất hân hoan làm những gì họ có thể làm cho ông sau tất cả những điều ông đã làm.

Xem ra bản thân Geissler không có rắc rối gì; ông ta trở nên nói nhiều ngay lập tức, nhìn ra những cánh đồng và gật đầu. Ông vẫn vươn thẳng người như mọi lúc và trông như thể có tới vài trăm Daler trong túi. Việc ông có mặt ở đó khiến cho họ phấn chấn và làm mọi thứ sáng sủa hẳn lên; ông không phải là kẻ chọc cười ầm ĩ, mà chỉ là một người nói năng linh hoạt.

“Sellanraa, một nơi đẹp đẽ, một nơi tuyệt diệu,” ông nói. “Và giờ đây đã có những kẻ khác lần lượt tới đây, từ khi anh khởi đầu, Isak ạ. Bản thân tôi đếm được năm. Có thêm ai nữa không?”

“Bảy tất cả. Có hai người không thể nhìn thấy từ chỗ con đường.”

“Bảy hộ dân; cứ cho là năm mươi người. Sao, chẳng bao lâu quanh vùng này sẽ đông đúc dân cư. Và anh đã có một trường học rồi, tôi nghe thấy thế?”

“Phải, chúng tôi có.”

“Đó, tôi đã nói gì nhỉ? Một trường học cho chính các bạn, nằm bên dưới trại của Brede, ngay chặng giữa. Hãy hình dung Brede với tư cách một chủ trại trong vùng đất hoang!” Và Geissler cười rộ với ý nghĩ đó. “Phải, tôi đã nghe thấy mọi chuyện về anh, Isak ạ; anh là người giỏi nhất ở đây. Và tôi mừng vì điều đó. Anh đã có cả một cái máy cưa phải không?”

“Phải, nó chỉ thế thôi. Nhưng nó phục vụ chúng tôi khá tốt, và thỉnh thoảng tôi cưa cho những người dưới làng chút đỉnh.”

“Hoan hô! Đó là cách làm đúng!”

“Tôi mừng vì nghe thấy những gì ngài nghĩ về nó, Lensmand ạ, nếu thế hẳn ngài cũng muốn tự mình nhìn thấy cái máy cưa.”

Geissler gật đầu với dáng vẻ của một chuyên gia; vâng, ông sẽ xem qua nó, kiểm tra nó cẩn thận. Rồi ông hỏi: “Anh có hai cậu con trai, phải không, đứa kia thế nào? Trong thị trấn? Thư ký trong một văn phòng? Ừm,” Geissler nói. “Nhưng còn thằng bé này thì trông có vẻ là loại cường tráng đây, cháu tên là gì?”

“Sivert.”

“Còn đứa kia?”

“Eleseus.”

“Và nó làm trong văn phòng của một kỹ sư. Nó cho rằng sẽ học hỏi được gì ở đó? Một công việc chết đói. Tới với tôi còn tốt hơn nhiều,” Geissler nói.

“Phải,” Isak nói, vì lịch sự. Vào lúc đó anh cảm thấy thương hại cho Geissler. Ồ, trông như thể con người tốt bụng đó không thể có đủ tiền để thuê những viên thư ký; phải tự mình làm việc vất vả. Cái áo khoác của ông đã rách tả tơi ở đôi cổ tay áo.

“Ngài không có đôi tất dài nào khô ráo để mang sao?” Inger hỏi, và mang ra một đôi của chính nàng. Chúng có từ những ngày đẹp nhất của nàng; đẹp và mỏng, với một đường viền.

“Không, cám ơn,” Geissler nói ngắn gọn, dù hẳn ông đã bị ướt sũng cả người. “Nó tới với tôi thì tốt hơn nhiều,” ông lặp lại, nói về Eleseus. “Tôi rất cần tới nó.” Ông móc từ trong túi ra một hộp đựng thuốc lá nhỏ bằng bạc và dùng những ngón tay đùa nghịch nó. Có lẽ nó là vật có giá trị duy nhất mà ông còn giữ lại lúc này.

Nhưng Geissler rất hiếu động, luôn thay đổi từ thứ này sang thứ khác. Ông nhét cái hộp lại vào túi và bắt đầu một chủ đề mới. “Nhưng, đó là gì thế? Sao, những cánh đồng trở thành xám cả thế ư. Tôi nghĩ đó là vì bóng râm. Đơn giản là đất đã khô rang. Đi theo ta, Sivert.”

Ông đột ngột rời khỏi bàn, không nghĩ gì tới thức ăn nữa, quay người lại từ cửa để nói “Cám ơn” với Inger về bữa ăn, và biến mất, Sivert đi theo ông.

Họ đi ra sông, Geissler nhìn ngó một cách chăm chú xung quanh. “Đây rồi!” ông kêu lên và dừng lại. Rồi ông giải thích: “Tại sao lại để cho đất của cháu khô rang khi cháu có một dòng sông đủ lớn để nhấn chìm nó trong một phút? Ngày mai, cánh đồng đó sẽ xanh!”

Hoàn toàn ngạc nhiên, Sivert đáp: “Dạ.”

“Đào xéo từ đây, thấy không? Trên một triền dốc. Mặt đất bằng; phải tạo ra một loại kênh dẫn nước. Cháu có một cái máy cưa ở đó, ta cho rằng cháu có thể tìm được vài tấm ván dài từ đâu đó? Tốt! Chạy đi và lấy một cái cuốc chim và một cái thuổng, và bắt đầu từ đây; ta sẽ quay lại và đánh dấu một đường chính xác.”

Ông chạy trở về nhà, đôi ủng của ông kêu ì ọp, vì chúng hoàn toàn ướt sũng. Ông bảo Isak làm những cái ống, thật nhiều ống, để đặt ở những nơi đất không nên bị cắt nhỏ ra bởi những mương dẫn nước. Isak cố phản đối rằng nước không thể chảy xa đến thế; đất khô sẽ hút hết nó trước khi nó tới những cánh đồng khô hạn. Geissler giải thích rằng việc đó chỉ xảy ra trong một thời gian; đầu tiên đất phải uống chút ít, nhưng rồi dần dần nước sẽ chảy tiếp – “đồng lúa và đồng cỏ sẽ xanh vào giờ này ngày mai.”

“Thế sao!” Isak nói, và quay sang lấy hết sức nện chặt những tấm ván dài.

Geissler lại vội vã quay ra chỗ Sivert: “Đúng thế, cứ làm như thế. Không phải mình đã bảo nó là một tay cường tráng hay sao? Cứ theo những cái cọc này, cháu hiểu không, ở nơi ta đã đánh dấu. Nếu cháu đụng phải đất đá cuội hoặc đá tảng thì ngoặt sang và đi vòng qua nó, nhưng phải giữ độ bằng, cùng một độ sâu; cháu hiểu ý ta không?”

Rồi ông lại quay về với Isak: “Thế là đã xong một cái. Tốt! Nhưng chúng ta cần có nhiều hơn, có lẽ khoảng nửa tá. Cứ thế mà làm, Isak; anh thấy đó, vào ngày mai chúng ta sẽ có mọi thứ đều xanh. Chúng ta đã cứu được mùa màng của anh!” Và Geissler ngồi bệt xuống đất, vỗ đầu gối với cả hai bàn tay, vui vẻ, trò chuyện, suy nghĩ trong những khoảng thời gian nhanh như chớp mắt. “Có nhựa hắc ín, xơ dây thừng hay bất kỳ thứ gì đó ở trại không? Tuyệt lắm, có đủ mọi thứ. Anh thấy đó, khi bắt đầu những con mương này sẽ bị rò rỉ ở những chỗ rìa, nhưng sau một thời gian gỗ sẽ nở ra, và chúng sẽ kín như một cái chai. Xơ dây thừng và nhựa hắc ín, cho là anh cũng có! Cái gì? Anh bảo là đã đóng một con thuyền hả? Nó ở đâu? Ở trên chỗ hồ nước? Tốt! Tôi phải nhìn qua nó một cái.”

Ồ, Geissler đúng là con người đầy hứa hẹn. Nhẹ nhàng đến, nhẹ nhàng đi – và dường như ông tạo ra nhiều ồn ào hơn trước. Ông làm việc theo từng đợt, nhưng khi làm thì làm với một tốc độ điên cuồng. Nói cho cùng, ở ông có một sự ưu việt hơn người nhất định. Đúng, ông có hơi cường điệu – việc làm cho mọi thứ xanh tươi trở lại vào giờ này ngày mai như ông đã nói là điều bất khả thi, dĩ nhiên, nhưng với tất cả những điều đó, Geissler là một con người sắc sảo, xét đoán và quyết định một cách mau lẹ: vâng, Geissler là một con người kỳ lạ. Và chính ông chứ không ai khác đã cứu vãn được mùa màng năm đó ở Sellanraa.

“Anh đã cưa được bao nhiêu rồi? Không đủ. Anh càng đặt nhiều gỗ, nước sẽ càng chảy nhanh hơn. Nếu được, cưa chúng với độ dài hai mươi hoặc hai mươi lăm bộ. Ở trại có tấm ván nào dài cỡ đó không? Tốt, mang chúng ra đây. Anh sẽ thấy mình được đền đáp thế nào vào mùa thu hoạch!”

Ông lại hiếu động không yên, lại chạy lên chỗ Sivert lần nữa. “Đó là cách làm, anh bạn Sivert ạ; cứ tiếp tục tốt như thế. Cha cháu đang chế ra những cống nước như một nhà thơ, có nhiều hơn mức ta từng nghĩ. Hãy chạy về và mang đến một ít, và chúng ta sẽ bắt đầu.”

Suốt buổi chiều hôm ấy là một quãng thời gian vội vã; Sivert chưa bao giờ trông thấy một công việc điên cuồng đến thế; nó chưa quen nhìn thấy mọi thứ được hoàn thành ở nhịp độ đó. Họ gần như không có thời gian để ăn. Nhưng nước đã chảy rồi! Ở chỗ này chỗ khác họ phải đào sâu hơn, một cái cống phải được nâng lên hay hạ xuống, nhưng nước đã chảy. Ba người đàn ông làm cho tới khuya, dính chặt vào công việc và hăng hái rà tìm bất kỳ sai sót nào. Nhưng khi nước bắt đầu thấm lên trên những chỗ đất khô nhất, có một nỗi hân hoan vui sướng ở Sellanraa. “Tôi quên đem theo cái đồng hồ,” Geissler nói. “Mấy giờ rồi không biết? Phải, vào giờ này ngày mai nó sẽ xanh tươi!”

Vào nửa đêm Sivert trở dậy để xem mọi thứ diễn biến ra sao và thấy cha nó cũng đã ra khỏi nhà với cùng một mục đích. Ồ, nhưng đó là một thời gian ly kỳ – một ngày của những sự kiện lớn lao!

Nhưng vào hôm sau Geissler nằm lại trên giường cho tới gần giữa trưa, bây giờ khi công việc đã xong ông mệt đừ người. Ông không buồn dậy để xem con thuyền trên hồ; còn về điều mà ông đã nói hôm trước, ông sẽ không bao giờ bận tâm tới việc nhìn cái máy cưa. Ngay cả những công việc tưới tiêu cũng kém làm ông quan tâm hơn lúc đầu – và khi ông thấy rằng cả đồng lúa lẫn đồng cỏ đều không trở nên xanh tốt trong thời gian một đêm, ông nản chí, không bao giờ nghĩ tới việc nước đã chảy thế nào, đã chảy suốt thời gian đó, và ngày càng lan xa hơn trên mặt đất. Ông thoái lui một chút và bảo: “Cần có thời gian. Có lẽ các bạn sẽ không thấy thay đổi nào trước ngày mai. Nhưng mọi chuyện sẽ tốt đẹp, đừng lo.”

Muộn hơn trong ngày Brede Olsen thơ thẩn tới; y mang tới một số mẩu đá để nhờ Geissler xem. “Và lần này có một thứ gì đó khác với bình thường, theo tôi nghĩ,” Brede nói.

Geissler không thèm nhìn mấy hòn đá. “Đó là cách anh quản lý một nông trại hay sao,” ông hỏi một cách khinh miệt, “lang thang trên những ngọn đồi để tìm một gia tài?”

Rõ ràng giờ đây Brede không nghĩ tới việc bị người sếp cũ của mình đưa vào công việc; y gay gắt trả lời, không có chút kính trọng nào, đối xử với viên cựu Lensmand như một người ngang hàng: “Nếu ông nghĩ tôi quan tâm tới những gì ông nói…”

“Anh vẫn không có đầu óc hơn trước chút nào,” Geissler nói. “Khi cứ lãng phí thời gian của mình như thế.”

“Thế bản thân ông thì sao?” Brede đáp. “Ông thì thế nào, tôi muốn biết? Ông có một cái mỏ của mình ở đây, và ông đã làm được gì với nó? Hử! Nằm đó chẳng làm gì. Phải, ông là loại người có một cái mỏ, phải không? Hề hề!”

“Cút khỏi chỗ này ngay,” Geissler nói. Và Brede không ở lại lâu. Y vác những mẫu đá, lên đường để tiếp tục cuộc lang thang của mình, không một lời chào tạm biệt.

Geissler ngồi xuống và bắt đầu xem những tờ giấy với vẻ trầm ngâm. Dường như ông đang bị sốt, và lúc này đang muốn xem xét qua công việc của cái mỏ đồng, tờ hợp đồng, những phân tích. Đó là quặng tốt, gần như là đồng nguyên chất; ông phải làm gì đó với nó, và không để cho mọi thứ trôi đi.

“Thật sự tôi lên đây là để xử lý toàn bộ chuyện này,” ông nói với Isak. “Tôi đã nghĩ tới chuyện bắt tay vào công việc ở đây, và sẽ sớm làm chuyện đó. Tìm nhiều người để làm việc và điều hành công việc một cách đúng đắn. Anh nghĩ sao?”

Isak thấy tiếc cho người đàn ông này, và không muốn nói bất cứ điều gì chống lại chuyện đó.

“Đây là một vấn đề có liên quan cả tới anh, anh biết đó. Tất nhiên là có nhiều thứ bực mình; sẽ có nhiều người ở quanh đây, và đôi khi sẽ hơi ồn ào lộn xộn. Và việc đánh mìn trên những ngọn đồi. Tôi không biết anh có thích điều đó hay chăng. Mặt khác, sẽ có nhiều người hơn trong huyện nơi chúng ta bắt đầu, và anh sẽ có một thị trường tốt sát ngay bên cạnh để bán các sản phẩm nông trại và các thứ tương tự. Tự đưa ra giá của chính anh nữa.”

“Phải,” Isak nói.

“Ngoài ra còn có phần chia của anh trong cái mỏ. Anh sẽ kiếm được một tỷ lệ phần trăm cao, anh biết đó. Một khoản tiền lớn, Isak ạ.”

Isak đáp: “Ngài đã trả cho tôi rất hậu, và nhiều hơn mức cần thiết…”

Sáng hôm sau Geissler lên đường, vội vã đi về hướng đông để sang Thụy Điển. “Không, cám ơn,” ông nói ngắn gọn khi Isak đề nghị đi cùng ông. Gần như là một nỗi đau khi tiễn ông lên đường trong bộ đồ nghèo nàn đó, đi bộ và chỉ có một mình. Inger đã sắp sẵn một gói thức ăn cho ông mang theo, tất cả đều ngon lành như nàng có thể làm, và cả những cái bánh xốp đặc biệt. Thậm chí như thế cũng còn chưa đủ; nàng có thể cho ông thêm một bình kem và nhiều trứng gà, nhưng ông không muốn mang theo chúng, và Inger thấy thất vọng.

Bản thân Geissler hẳn cũng thấy khó chịu khi rời Sellanraa mà không trả tiền cho những thứ ông nhận được như ông vẫn thường làm; vì thế ông vờ như mình đã trả; vờ như thể ông đã trả một tờ tiền giấy lớn, và nói với bé Leopoldine: “Đây, bé con, có thứ này cho cháu nữa đây.” Và ông trao cho nó một cái hộp bằng bạc, cái hộp đựng thuốc lá của ông. “Cháu có thể rửa sạch nó và dùng nó để cất những cây kim gút và các thứ,” ông nói. “Thật sự nó không phải là một món dùng để làm quà. Nếu tôi ở nhà, tôi có thể tìm cho nó một thứ gì đó khác; tôi có cả đống các thứ…”

Nhưng công trình dẫn nước của Geissler vẫn còn lại sau khi ông đã ra đi; nó nằm đó, hết ngày lại đêm, tuần này sang tuần khác, tạo nên những điều kỳ diệu; những cánh đồng lúa biến thành màu xanh, khoai tây thôi ra hoa, lúa vươn cao ngọn…

Những người khai hoang từ các hộ xa bên dưới bắt đầu tới đó, tất cả đều nôn nao được đích thân nhìn thấy điều kỳ diệu. Axel Ström – người láng giềng ở trại Maaneland, người không có vợ và không có phụ nữ nào giúp đỡ mà chỉ tự xoay xở lấy – cả anh ta cũng đến. Hôm đó anh có tâm trạng vui vẻ; anh kể cho họ nghe anh vừa nhận được lời hứa của một cô gái sẽ tới giúp suốt mùa hè – và việc đó đã cất khỏi tâm trí anh một gánh nặng. Anh không nói cô gái đó là ai, và Isak không hỏi, nhưng đó chính là Barbro, con gái của Brede. Phải tốn tiền một cú điện tín tới Bergen để gọi cô về; nhưng Axel trả tiền, dù anh không phải loại người hoang phí, mà đúng hơn, là một anh chàng keo kiệt.

Chính cái công trình dẫn thủy đã lôi cuốn anh tới hôm đó; anh đã xem xét nó kỹ càng từ đầu này tới đầu kia, và rất thích thú. Trên đất của anh không có sông lớn, nhưng anh có một con suối; anh cũng không có ván để làm cống nước, nhưng anh sẽ đào mương trong lòng đất; nó có thể thực hiện được. Cho tới lúc đó, mọi thứ trên đất của anh chưa tới mức hoàn toàn tệ hại vì nó nằm thấp dưới những chân đồi; nhưng nếu cơn hạn hán tiếp tục, cả anh cũng phải làm hệ thống tưới tiêu. Khi đã nhìn thấy điều mình muốn, anh lên đường quay về ngay lập tức. Không, anh sẽ không vào nhà, không có thời gian; anh sẽ bắt đầu đào mương ngay chiều hôm đó. Và thế là anh lên đường.

Điều này hoàn toàn khác với cung cách của Brede.

Ồ, Brede, giờ này có thể y đang chạy khắp các nông trại để thông tin: hệ thống dẫn thủy kỳ diệu ở Sellanraa! “Không lợi lộc gì khi làm lụng quá nhiều trên đất của bạn,” y nói. “Hãy nhìn Isak trên kia; anh ta đào và đào thật dài cho tới lúc cuối cùng anh ta có nước cho toàn bộ mảnh đất.”

Isak rất nhẫn nại, nhưng nhiều lần anh ước gì anh có thể tống khứ cái gã cứ quanh quẩn khắp Sellanraa với những lời khoác lác của y. Brede đặt hết chỗ dựa vào đường dây điện thoại; chừng nào y còn là một công chức, bổn phận của y là giữ tuyến đường ổn định. Nhưng công ty điện thoại đã nhiều lần khiển trách y về tội lơ là, và một lần nữa đề nghị giao công việc đó cho Isak. Không, không phải đường dây điện là thứ cứ nằm suốt trong đầu óc của Brede mà là cái mỏ quặng trên dãy đồi; bây giờ đó là ý tưởng duy nhất của y, một chứng nghiện.

Dạo này y thường xuyên tạt vào Sellanraa, tin chắc rằng y đã tìm thấy kho báu; y thường gật đầu và nói: “Tôi chưa thể nói với anh về nó được, nhưng tôi không ngại nói rằng lần này tôi đã tìm ra một thứ gì đó đáng chú ý.” Tất cả những lãng phí thời gian và năng lượng đó chẳng để làm gì. Và khi quay về ngôi nhà nhỏ của mình vào chiều tối, y sẽ quẳng xuống sàn nhà một bao tải nhỏ đựng những mẫu đá, và phì phèo hút thuốc sau một ngày làm việc, như thể không người nào có thể lao động nhọc nhằn hơn thế cho miếng ăn mỗi ngày của mình. Y trồng một ít khoai tây trên đất chua lẫn than bùn, và cắt những bụi cỏ tự mọc trên mặt đất quanh nhà – đó là công việc nhà nông của Brede. Y chưa bao giờ được sinh ra để làm một nông dân, và chỉ có thể có một kết cục duy nhất cho tất cả chuyện này. Mái nhà của y đã rơi thành từng mảng, và những bậc thềm dẫn tới nhà bếp đã bị hủy hoại do ẩm thấp; một tảng đá mài nằm trên mặt đất, và cỗ xe ngựa vẫn bị bỏ mặc không che chắn ngoài trời.

Có lẽ Brede là người may mắn, vì những vấn đề nho nhỏ như thế không bao giờ khiến y phải bận lòng. Khi lũ con lăn phiến đá mài của y để chơi đùa, y rất tử tế và khoan dung, thậm chí còn đích thân giúp chúng lăn phiến đá. Một con người xuề xòa dễ chịu, lười nhát, không bao giờ nghiêm túc, nhưng cũng không bao giờ nản chí, một tính cách nhu nhược, vô trách nhiệm; nhưng y cũng xoay xở để có thức ăn cho bản thân và gia đình từng ngày một; bằng cách nào đó đã xoay xở được. Nhưng không thể hy vọng rằng người chủ tiệm có thể tiếp tục nuôi sống Brede và gia đình của y mãi được; ông ta đã nói thế nhiều lần với chính Brede, và giờ đây ông ta nói câu đó với sự nghiêm chỉnh. Brede thừa nhận rằng ông ta đúng, và hứa sẽ xoay chuyển tình thế – y sẽ bán nông trại của mình, và rất có khả năng kiếm được một khoản tiền kha khá từ nó – và sẽ thanh toán những gì y mắc nợ ở cửa tiệm!

Ồ, nhưng dù thế nào thì Brede cũng sẽ bán, ngay cả khi lỗ vốn; một nông trại thì có hay ho gì đối với y? Y lại thấy nhớ ngôi làng, nhớ cuộc sống dễ chịu la cà ngồi lê đôi mách ở đó, và nhớ cái cửa hàng nhỏ, nó hợp với y hơn là cắm cúi làm việc ở đây và cố quên đi thế giới bên ngoài.

Làm sao y có thể quên những cây thông Noel và những buổi tiệc tùng, hoặc những buổi đại tiệc quốc gia vào ngày Quốc khánh, hoặc những quầy hàng phúc thiện bày trong những căn phòng họp? Y thích trò chuyện với những người cùng đẳng cấp, trao đổi những tin tức và quan điểm, nhưng ở đây thì có ai để mà trò chuyện? Dường như Inger ở trại Sellanraa là người thuộc loại của y trong một thời gian, nhưng rồi cô ta đã thay đổi – giờ đây không thể moi từ miệng cô ta lấy một từ. Ngoài ra, cô ta từng bị ở tù; và với một người ở địa vị của y – không, điều đó không bao giờ có.

Không, y đã phạm sai lầm khi rời khỏi làng; nó đã thải bỏ y. Y ghi nhớ với lòng ganh ghét rằng vị Lensmand đã có một trợ lý khác, và vị bác sĩ đã có một người khác đánh xe cho ông ta; y đã bỏ chạy khỏi những người cần mình, và giờ đây khi y không còn ở đó, họ đã xoay xở được mà không cần tới y. Nhưng những người đó đã chiếm chỗ của y – dĩ nhiên là họ không giỏi giang cho lắm. Nói một cách chính xác, y, Brede, nên quay về làng trong chiến thắng!

Rồi còn có Barbro – vì sao y ủng hộ ý tưởng đưa con gái lên giúp việc ở Sellanraa? Ờ, đó là sau khi bàn bạc với vợ y. Nếu mọi chuyện diễn tiến tốt, điều này có nghĩa là một tương lai tốt cho cô gái, có lẽ là một tương lai của loại người như họ. Việc làm quản gia cho hai thư ký ở Bergen nói chung là ổn, nhưng ai có thể nói được về lâu dài nó sẽ nhận được từ việc đó cái thứ gì? Barbro là một thiếu nữ xinh xắn, và thích làm đẹp; nói cho cùng, ở đây có thể là một cơ hội tốt hơn cho nó. Vì ở Sellanraa có hai cậu con trai.

Nhưng khi Brede thấy rằng kế hoạch này sẽ không bao giờ tiến triển, y nhắm vào một kế hoạch khác. Nói cho cùng, việc kết hôn với nhà Inger không phải là một mẻ cá lớn – Inger, người đã từng ở tù. Và còn có những chàng trai khác có thể nghĩ tới ngoài hai cậu con trai ở Sellanraa, chẳng hạn như Axel Ström. Cậu ta có một nông trại và một túp lều riêng. Cậu ta là một người biết cóp nhặt dành dụm và xoay xở từng chút một để làm chủ một số gia súc và các thứ đại loại, nhưng chưa có vợ và không có người phụ nữ nào giúp đỡ. “Được, tôi không ngại nói với cậu, nếu cậu nhận Barbro, nó sẽ là tất cả sự trợ giúp cậu cần,” Brede đã nói với cậu ta. “Nhìn xem, đây là hình của nó; cậu có thể thấy đó.”

Và sau khoảng một tuần, Barbro tới. Axel đang vào giữa mùa cắt cỏ khô và phải cắt cỏ vào ban ngày và phơi cỏ vào ban đêm, tất cả chỉ một mình. Thế rồi Barbro tới! Đây là một thứ của Trời cho. Barbro sớm chứng tỏ rằng cô không ngại làm việc; cô giặt quần áo, lau chùi rửa ráy các thứ, nấu ăn, vắt sữa và giúp việc ngoài đồng cỏ – cô giúp vác cỏ khô về kho. Axel đã quyết định trả cho cô một khoản tiền công cao và không hề mất mát về chuyện đó.

Ở đây cô không chỉ là một bức ảnh của một thiếu nữ xinh đẹp. Thân hình Barbro thẳng và thanh mảnh, giọng hơi khàn, tỏ ra có đầu óc và kinh nghiệm trong nhiều cách khác nhau – cô không phải là một đứa trẻ con. Axel tự hỏi điều gì đã khiến cho mặt cô gầy và hốc hác đến thế. “Tôi đã biết em nhờ nét mặt,” anh nói; “nhưng trông em không giống bức ảnh.”

“Đó chỉ là vì chuyến đi,” cô đáp, “và việc sống trong thị trấn trong suốt thời gian đó.”

Và thật thế, chẳng bao lâu cô đã trở nên tròn trịa và dễ nhìn trở lại. “Hãy ghi nhớ lời tôi về chuyện này,” cô nói, “một cuộc hành trình và nếp sống trong thị trấn như thế sẽ làm anh bị giảm sức khỏe chút đỉnh.” Cô cũng nói bóng gió về những thứ cám dỗ của cuộc sống ở Bergen – người ta phải cẩn thận khi ở đó. Nhưng trong khi họ ngồi trò chuyện, cô nài xin anh mua một tờ báo – một tờ nhật báo Bergen – để cô có thể đọc chút ít và xem tin tức của thế giới. Cô đã quen với việc đọc, nhà hát và âm nhạc, và một nơi như thế này thật là buồn tẻ.

Axel hài lòng với những kết quả của sự trợ giúp mùa hè này, và đặt mua một tờ báo. Anh cũng thấy chán với những cuộc thăm viếng thường xuyên của gia đình Brede, những người thường tạt vào chỗ của anh và ăn uống. Anh nôn nóng chứng tỏ rằng anh cảm kích cô gái giúp việc này. Và còn có điều gì có thể xinh đẹp hơn, chất phác hơn là hình ảnh Barbro ngồi đó trong một chiều Chủ nhật, dạo những sợi dây đàn và ca hát đôi chút với giọng khàn khàn? Axel cảm động vì mọi thứ, vì những bài ca lạ lùng, êm ái, vì cái thực tế giản đơn rằng đã có ai đó thật sự ngồi đó hát trong cái nông trại nghèo nàn của anh.

Đúng, trong suốt mùa hè anh đã học cách biết thêm những khía cạnh khác trong tính cách của Barbro, nhưng nhìn chung anh thấy hài lòng. Cô có những mê thích của mình và đôi khi có thể trả lời một cách hấp tấp; hơi quá nhanh trong việc đáp lời. Chẳng hạn chiều thứ Bảy đó, khi Axel phải xuống làng để mua sắm vài thứ, Barbro đã làm sai khi rời khỏi túp lều và đàn gia súc, bỏ mặc trang trại. Họ có đôi lời qua lại về chuyện đó. Và cô đã đi đâu? Chỉ là về nhà cô, về Breidablik, nhưng vẫn… Khi Axel trở về lều đêm đó, Barbro không có ở đó; anh kiểm lại đàn gia súc, tự nấu thứ gì đó cho mình rồi đi ngủ. Tới sáng Barbro mới về đến. “Tôi chỉ muốn xem việc bước trở lại trên một sàn gỗ nó như thế nào thôi,” cô khinh khỉnh nói. Và Axel không thể nghĩ ra điều gì để nói, thấy rằng anh chỉ có một túp lều cỏ với một cái sàn nhà đất nện. Tuy nhiên anh cũng nói rằng nếu thế thì anh có thể kiếm vài mảnh ván, và chắc chắn anh sẽ có một ngôi nhà với một cái sàn gỗ khi có thời cơ! Barbro có vẻ ăn năn khi nghe anh nói thế; cô không phải hoàn toàn không tốt. Và vì hôm đó là Chủ nhật, cô đi ngay vào rừng và hái những cành bách xù tươi để trải lên sàn đất nện.

Và rồi, khi thấy cô tốt bụng và xử sự một cách dễ thương đến thế, Axel còn có thể làm gì khác hơn là lôi ra chiếc khăn trùm đầu mà anh đã mua cho cô vào chiều hôm trước, dù anh đã nghĩ tới việc giữ nó thêm một thời gian, để nhận được đôi chút lòng tôn trọng đền đáp lại từ cô. Và trông kìa! Cô rất hài lòng với nó, trùm thử nó ngay – phải, cô quay sang anh và hỏi trông cô trùm nó có đẹp không. Vâng, thật sự trông cô rất xinh đẹp; và cô có thể đội cái mũ lông cũ của anh nếu thích, và trông cô rất đẹp với cái mũ! Barbro cười rộ và cố nói đôi điều thật sự tốt đẹp để đáp lại; cô nói: “Tôi thích đi nhà thờ và họp nhóm đạo với chiếc khăn này hơn nhiều so với đội một cái mũ. Ở Bergen, dĩ nhiên, chúng tôi luôn luôn đội mũ – tất cả ngoại trừ những người hầu gái đến từ miền quê.”

Lại là bạn của nhau, một cách tốt đẹp.

Khi Axel đưa ra tờ nhật báo anh đã nhận ở trạm bưu cục, Barbro ngồi xuống đọc các tin tức trên thế giới: một vụ trộm ở một cửa hàng trang sức trên một đường phố ở Bergen, một cuộc cãi lộn giữa hai người gipxi ở một phố khác; một phát hiện kinh khủng ở cảng – thi hài của một trẻ sơ sinh gói trong một chiếc áo sơ mi cũ với hai tay áo đã bị cắt rời. “Tôi tự hỏi ai có thể làm chuyện đó?” Barbro nói. Và cô cũng đọc bản giá cả thị trường, như cô luôn làm thế.

Ông Mùa hè cứ thế trôi đi.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: