Phúc Lành Của Đất- Growth of the Soil (Chương 14)

Knut Hamsun

Và thời gian tiếp tục trôi.

Vâng, rốt cuộc Eleseus đã được gửi tới thị trấn; Inger lo liệu chuyện đó. Cậu ở đó một năm, thế rồi cậu được xác nhận, và sau đó có một vị trí thường xuyên trong văn phòng của viên kỹ sư, và ngày càng trở nên giỏi giang hơn trong công việc viết lách các thứ. Cứ xem những lá thư mà cậu gửi về nhà – đôi khi viết bằng mực đỏ và đen, trông gần như những bức tranh. Và cách diễn dạt, những từ mà cậu sử dụng trong đó. Thỉnh thoảng cậu hỏi xin tiền để chi tiêu. Một cái đồng hồ đeo tay và dây đeo, chẳng hạn, cậu phải có nó để không ngủ quên vào buổi sáng và ở lại muộn trong văn phòng; tiền cho một cái tẩu và thuốc lá nữa, các viên thư ký trẻ trong thị trấn luôn luôn có những thứ như thế. Và một thứ mà cậu gọi là tiền bỏ túi, một thứ mà cậu gọi là những lớp học thêm, nơi cậu học vẽ, thể dục và những vấn đề khác phù hợp với đẳng cấp và địa vị của cậu. Nói chung, giữ cho Eleseus tiếp tục làm việc trong thị trấn không phải là một vấn đề nhẹ nhàng.

“Tiền bỏ túi à?” Isak nói. ‘Có lẽ đó là tiền để cất giữ trong túi có phải không?”

“Đúng là nó, không còn ngờ gì nữa,” Inger nói. “Để không bị hoàn toàn rỗng túi. Và nó không nhiều lắm, chỉ thỉnh thoảng một Daler thôi.”

“Phải, chỉ có thế,” Isak nói một cách cay nghiệt. “Nay một Daler và mai một Daler…” Nhưng anh cay nghiệt là vì nhớ Eleseus và muốn cậu trở về nhà. “Về lâu dài sẽ tốn khá nhiều đồng Daler,” anh nói. “Tôi không thể tiếp tục như thế này; cô phải viết thư bảo nó rằng nó không thể có thêm nữa.”

“Thế sao, vậy thì rất tốt!” Inger nói với giọng bị xúc phạm.

“Thằng Sivert có khoản tiền bỏ túi nào không?”

Inger đáp: “Anh chưa bao giờ sống trong một thị trấn, và vì thế anh không biết mấy chuyện này. Sivert không cần tiền bỏ túi. Và nói về tiền, Sivert không phải là người thiếu tiền khi ông cậu Sivert của nó chết.”

“Cô không biết đâu.”

“Phải, nhưng tôi biết.”

Và theo cách nào đó điều này khá đúng; ông cậu Sivert đã nói gì đó về việc lập Sivert làm người thừa kế của ông. Ông đã nghe nói về Eleseus và những việc làm to tát của cậu trong thị trấn, và câu chuyện khiến ông không hài lòng; ông gục gặt đầu, cắn môi và lẩm bẩm rằng một đứa cháu họ được đặt theo tên của ông – đặt theo tên ông cậu Sivert – không nên tới nước phải cần tiền. Nhưng khoản gia tài mà ông cậu Sivert được cho là đang sở hữu là gì? Có thật là ngoài cái nông trại lôi thôi và bãi đánh cá của mình ông còn có cả một đống tiền và tài sản như dân làng thường nghĩ? Không ai có thể nói chắc chắn. Và ngoài chuyện đó ra, bản thân ông cậu Sivert là một người cố chấp; ông dứt khoát rằng nhóc Sivert nên tới ở với ông. Điều này là vấn đề danh dự đối với ông; ông có thể đón nhận nhóc Sivert và chăm sóc nó, như viên kỹ sư đã làm với Eleseus.

Nhưng làm sao thực hiện được điều đó? Cho nhóc Sivert sống xa nhà? Việc đó miễn bàn. Giờ đây nó là tất cả sự trợ giúp còn lại đối với Isak. Ngoài ra, bản thân cậu bé cũng không mấy mong muốn tới sống với ông cậu nổi tiếng của nó – nó đã cố một lần, nhưng rồi lại quay về nhà. Nó rắn chắc, đang lớn vụt như thổi; lông tơ lún phún mọc trên đôi má, đôi bàn tay to lớn, một đôi nô lệ tự nguyện. Và nó làm việc như một người đàn ông.

Isak khó mà xoay xở làm xong cái kho thóc mới nếu không có sự giúp sức của Sivert, nhưng giờ thì nó đang đứng đó, với chiếc cầu, những lỗ thông hơi các thứ, to ngang với cái kho ở nhà cha xứ. Đúng, nó chỉ là một công trình nửa phần gỗ che phủ bằng ván bìa, nhưng được xây dựng cực kỳ chắc chắn, với những nẹp sắt ở các góc và được phủ quanh bằng thứ ván dày một in-sơ từ cái máy cưa của Isak. Và Sivert đã đóng nhiều đinh, đã nhấc những chiếc xà nặng để dựng khung nhà cho tới lúc nó gần ngất xỉu. Sivert rất hợp tính hợp nết với cha nó, miệt mài làm việc bên cạnh anh; nó được làm ra từ cùng một chất liệu với Isak. Thế nhưng nó vẫn không vượt lên khỏi những cách thức đơn giản như đi lên đồi tìm cây cúc ngãi để chà xát cho có mùi thơm khi tới nhà thờ. Chính bé Leopoldine mới là đứa có những tưởng tượng phong phú trong đầu, một điều rất tự nhiên, vì nó là con gái, và là đứa con gái duy nhất. Mùa hè đó, nếu bạn muốn biết, nó đã phát hiện ra rằng nó không thể ăn cháo yến mạch vào bữa tối mà không có mật đường – đơn giản là không thể. Và nó cũng chẳng giúp ích gì mấy trong bất kỳ loại công việc nào.

Inger vẫn chưa từ bỏ ý tưởng kiếm một người giúp việc; nàng đưa ra vấn đề vào mỗi mùa xuân, và mỗi lần như thế Isak lại bướng bỉnh phản đối. Nàng có thể làm mọi công việc cắt may và dệt, chưa kể đến làm ra những đôi dép thêu, chỉ cần nàng có thời gian cho mình! Và dần về sau, Isak tỏ ra ít cứng rắn hơn trong lời từ chối của anh dù anh vẫn còn càu nhàu. Trong lần đầu tiên anh đã thốt lên “Thế à!” và nói cả một tràng dài về chuyện đó; không phải là vấn đề đúng sai hay lý lẽ, cũng không phải vì sự kiêu hãnh, mà, lạy Trời! từ sự mệt mỏi, từ sự giận dữ với ý tưởng đó. Nhưng giờ đây dường như anh đang nhượng bộ, như thể thấy xấu hổ.

“Nếu có lúc nào tôi cần đến sự giúp đỡ trong nhà, thì chính là ngay bây giờ,” Inger nói. “Thêm vài năm nữa Leopoldine sẽ đủ lớn để làm việc này việc khác.”

“Sự giúp đỡ?” Isak nói. “Dù sao thì cô muốn được giúp cái gì?”

“Giúp cái gì, thật tình? Chả lẽ không phải chính anh cũng đã được giúp đỡ đó sao? Không phải lúc nào anh cũng có Sivert giúp hay sao?”

Isak có thể nói gì với một cuộc cãi cọ vô nghĩa như thế? Anh trả lời: “Phải, được; khi cô có một cô gái ở đây, tôi ngờ rằng cô có thể cày bừa và gặt và lo liệu mọi thứ một mình. Và khi đó Sivert và tôi có thể đi theo đường của chúng tôi.”

“Cứ cho là thế,” Inger đáp. “Nhưng tôi sẽ nói thế này: tôi có thể cho Barbro đến đây ngay bây giờ; trong thư nó gửi về nhà có viết về việc đó.”

“Barbro nào?” Isak hỏi. “Có phải cô muốn nói con gái của Brede?”

“Phải, hiện giờ nó đang ở Bergen.”

“Tôi sẽ không nhận con gái của Brede tới đây,” anh nói. “Bất kể cô nhận ai, tôi không muốn có nó.”

Thế còn tốt hơn là chẳng được gì; Isak chỉ từ chối không nhận Barbro; anh không còn nói rằng họ sẽ không có người hầu nào cả.

Barbro ở trại Breidablik không phải là loại con gái mà Isak chấp nhận; cô hời hợt và hay dao động hệt như cha mình – có lẽ giống cả mẹ cô nữa – một sinh vật bất cẩn, không có chút tính nết vững vàng nào. Cô không sống lâu tại nhà của vị Lensmand; chỉ một năm. Sau khi làm lễ thêm sức, cô tới giúp việc ở nhà ông chủ tiệm, và ở đó thêm một năm nữa. Ở đây cô trở nên sùng đạo và theo đạo, và gia nhập vào Đội quân Cứu tế khi nó tới làng, đi lại khắp chốn với một cái băng đỏ trên tay áo và vác theo một cây đàn ghi ta. Cô tới Bergen trong trang phục đó, trên con thuyền của người chủ tiệm – đó là hồi năm ngoái. Và cô vừa gửi về nhà một bức ảnh của mình. Isak đã trông thấy nó; một thiếu nữ lạ lùng, với mái tóc uốn quăn và một sợi dây đồng hồ dài lủng lẳng trên ngực. Cha mẹ cô rất tự hào về cô con gái Barbro bé nhỏ, và khoe tấm ảnh với tất cả mọi người tới đó; thật tuyệt khi trông thấy cô đã học hỏi được những cung cách thành thị và tấn tới trong đời như thế nào. Còn về phần cái băng đỏ và cây đàn ghi ta, hình như cô đã từ bỏ chúng.

“Tôi mang theo tấm ảnh và khoe nó với Lensmand phu nhân,” Brede nói. “Bà ấy lại không nhận ra nó.”

“Nó sẽ tới sống tại Bergen chứ?” Isak hỏi một cách ngờ vực.

“Sao, trừ phi nó chuyển tới Christiania [8], có lẽ thế,” Brede nói. “Ở đây có gì cho nó làm đâu? Bây giờ nó có một chỗ làm mới, với tư cách quản gia, cho hai người thư ký trẻ. Họ không có vợ hay phụ nữ của riêng mình, và họ trả cho nó khá tiền.”

“Bao nhiêu?” Isak hỏi.

“Nó không nói chính xác trong thư. Nhưng phải hoàn toàn khác với những gì những cư dân ở đây trả, điều đó là rõ ràng. Sao chứ, nó nhận được quà Giáng sinh, và cả quà trong những dịp khác, chưa kể tới tiền công của nó.”

“Thế à!” Isak nói.

“Anh không thích nó tới đây làm phải không?” Brede hỏi.

“Tôi à?” Isak nói, lùi trở lại.

“Không, tất nhiên rồi, he he! Đó chỉ là một cách nói. Barbro sống khá ổn tại nơi nó đang ở. Tôi định nói gì cà? Anh không nhận thấy có gì không ổn với đường dây đi xuống chứ?”

“Với đường dây điện thoại? Không.”

“Không, không…. Nó không có trục trặc gì nhiều từ khi tôi nhận công việc. Và tôi còn có chiếc máy riêng của mình trên tường để cảnh báo nếu có chuyện gì xảy ra. Vài hôm nữa tôi sẽ đi dọc theo đường dây để xem mọi việc ra sao. Tôi có quá nhiều thứ phải quản lý trông nom, nhiều hơn công việc của một người. Nhưng chừng nào tôi còn làm thanh tra ở đây, và còn giữ một chức vụ chính thức, dĩ nhiên tôi không thể lơ là với những bổn phận của mình. Nếu tôi không có đường dây, dĩ nhiên… và có thể nó sẽ không kéo dài cho lắm…”

“Sao?” Isak nói. “Anh đang nghĩ tới việc từ bỏ nó à, có lẽ thế?”

“Chà, tôi không thể nói đích xác,” Brede nói. “Tôi chưa hoàn toàn quyết định. Họ muốn tôi chuyển xuống làng trở lại.”

“Ai cần tới anh?” Isak hỏi.

“Ồ, tất cả bọn họ. Ngài Lensmand muốn tôi trở lại làm trợ lý ở đó, còn ông bác sĩ thì muốn tôi đánh xe cho ông ta, và vợ của ông mục sư thì nhiều lần bảo rằng bà ta muốn tôi giúp một tay, nếu như đó không phải là một quãng đường quá xa. Cái dải đất đồi đó thế nào, Isak – cái mảnh đất mà anh đã bán đó? Anh có nhận được nhiều như họ nói hay không?”

“Phải, họ không nói dối,” Isak đáp.

“Nhưng dù sao thì Geissler muốn nó để làm gì cơ chứ? Nó vẫn nằm yên ở đó – một chuyện lạ lùng! Hết năm này sang năm khác và chưa có ai làm gì cả.”

Đó là một chuyện lạ lùng. Bản thân Isak vẫn thường tự hỏi về chuyện đó; anh đã nói chuyện với ngài Lensmand về nó, và hỏi địa chỉ của Geissler, nghĩ là sẽ viết thư cho ông ta… Phải, đó là một điều bí ẩn.

“Tôi không thể nói gì được về chuyện đó,” Isak nói.

Brede không giấu diếm sự quan tâm của y tới vụ mua bán này. “Họ nói rằng ở trên kia còn có nhiều loại đá đó hơn,” y nói, “ngoài chỗ đất của anh ra. Có lẽ trong đất có nhiều hơn mức mà chúng ta biết. Thật đáng tiếc khi chúng ta cứ ngồi đây như những con vật câm và chẳng biết gì về nó. Tôi đã nghĩ tới việc hôm nào đó tôi sẽ đích thân lên đó để nhìn thử xem.”

“Nhưng anh có biết gì về kim loại các thứ hay không?” Isak hỏi.

“Sao, tôi biết chút ít. Và tôi đã hỏi một hai người khác. Dù sao thì tôi cũng phải tìm ra thứ gì đó; tôi không thể sống và duy trì cả gia đình trên cái nông trại bé tí này. Điều đó hoàn toàn không thể được. Với anh thì là chuyện khác vì anh có mọi thứ gỗ đó và đất tốt bên dưới. Đất ở đây xấu quá.”

“Đất đồng cỏ khá tốt,” Isak nói vắn tắt. “Bản thân tôi cũng có thứ đất y hệt vậy.”

“Nhưng ở đây không có mương dẫn nước,” Brede nói… “Người ta không thể làm gì được.”

Nhưng người ta có thể làm được. Hôm đó khi đi xuống con đường Isak đã để ý những khoảng đất trống khác; hai trong số chúng thấp và ở gần làng hơn, nhưng có một mảnh ở xa phía bên trên, nằm giữa Breidablik và Sellanraa – phải, hiện nay người ta bắt đầu khai khẩn chỗ đất này; ngày xưa khi Isak lên đây đầu tiên, tất cả chỉ là đất hoang bỏ phế. Và ba người cư dân mới là dân đến từ một huyện khác; những người có đầu óc, thông qua dáng vẻ mọi thứ. Họ không bắt đầu bằng cách mượn tiền để xây nhà; không, họ lên đây một năm, làm công việc trong mùa rỗi của mình và lại ra đi; biến mất tăm như thể họ đã chết. Đó là cách làm đúng đắn; đào rãnh nước trước tiên, rồi mới cày và gieo hạt. Hiện giờ Axel Ström ở gần đất của Isak nhất, là người láng giềng sát bên của anh. Một anh chàng thông minh, chưa vợ, đến từ Helgeland. Anh ta đã mượn cái bừa mới của Isak để bừa đất, và chưa tới năm thứ hai anh ta đã dựng được một kho chứa cỏ và một túp lều cho chính mình cùng một cặp gia súc. Anh ta gọi trại của mình là Maaneland, vì trông nó rất đẹp dưới ánh trăng. Bản thân anh ta cũng không có phụ nữ giúp việc, và khó tìm được sự trợ giúp vào mùa hè khi nằm ở một chỗ quá xa, nhưng anh ta đã tìm cách xoay xở được mọi thứ một cách đúng đắn, không còn ngờ gì về chuyện đó. Không như Brede Olsen đã làm, trước tiên dựng một ngôi nhà, rồi kéo lên cả một gia đình lớn với con cái còn bé các thứ, trong khi không có đất hay gia súc gì để kiếm miếng ăn. Brede Olsen thì biết gì về việc dẫn nước vào đồng cỏ và khai phá đất mới?

Tay Brede này biết cách phung phí thời gian của mình. Một hôm y đi ngang Sellanrra, lên chỗ dãy đồi – chỉ đơn giản là tìm các kim loại quý. Chiều hôm đó y quay trở lại; chẳng tìm được thứ gì cụ thể, y bảo, nhưng có những dấu hiệu nhất định, và y gục gặc đầu. Y sẽ sớm quay lên đó, và đi khắp những ngọn đồi, cho tới tận Thụy Điển.

Và đúng vậy, Brede lại quay lên. Y thích việc này, không còn ngờ gì nữa; nhưng lần này y gọi đó là công việc của đường dây – phải đi lên và xem xét toàn bộ tuyến đường. Trong lúc ấy vợ và các con của y ở nhà coi sóc nông trại, hoặc để mặc nó tự trông nom lấy chính nó. Isak thấy muốn bệnh và mệt mỏi vì những cuộc viếng thăm của Brede nên bỏ ra khỏi phòng mỗi khi y tới; thế là Inger và Brede thường ngồi trò chuyện vui vẻ với nhau. Họ có thể nói về chuyện gì được nhỉ? Brede thường xuống làng, và luôn có những tin mới để kể cho những nhân vật lớn dưới đó nghe; mặc khác, Inger luôn có thể rút ra nhiều chuyện từ chuyến hành trình nổi tiếng của nàng tới Trondhjem và thời gian nàng ở đó. Nàng đã trở nên lắm chuyện trong những năm xa nhà, và luôn sẵn sàng tán chuyện bao đồng với bất kỳ ai. Không, nàng không còn là Inger thẳng thắn, giản dị của ngày xưa nữa.

Nhiều thiếu nữ và phụ nữ tiếp tục đến Sellanrra để nhờ cắt một tấm váy hay may một đường viền dài bằng chiếc máy may, và Inger đã giúp họ tiêu khiển khá tốt. Oline lại tới, không thể ngăn được điều đó, có lẽ; vào cả mùa xuân lẫn mùa thu; nói năng nhã nhặn, mềm như bơ và hoàn toàn giả dối. “Chỉ để xem mọi thứ ở chỗ cô thế nào,” mỗi lần tới bà đều nói thế. “Và tôi rất mong nhìn thấy hai cậu bé, tôi rất mến chúng, chúng là những thiên thần. Phải, giờ chúng đã là những anh chàng to lớn, nhưng thật lạ lùng… tôi không thể quên được lúc chúng còn nhỏ và được tôi chăm sóc. Và hai người lại tiếp tục xây cất ở đây, biến nơi này thành cả một thị trấn. Có lẽ sẽ có một cái chuông để kéo ở mái kho thóc nữa cũng nên, giống như ở nhà vị cha xứ.”

Có lần Oline tới và mang theo một phụ nữ khác, và hai người bọn họ cùng Inger có một ngày thú vị với nhau. Càng có nhiều người ngồi quanh Inger càng cắt may tốt hơn, nàng trổ tài biểu diễn, múa may chiếc kéo và thoăn thoắt đưa chiếc bàn ủi lại qua. Nó nhắc nàng nhớ tới cái nơi mà nàng đã học được những thứ nghệ thuật này; đó là ở Trondhjem. Có vẻ như nàng không hề ở tù gì cả, theo cách thông thường, mà là đã theo học trong một học viện, nơi người ta có thể học cách may, dệt và viết chữ, ủi đồ và nhuộm vải – tất cả những thứ đó nàng đã học được ở Trondhjem. Nàng nói về nơi đó như nói về quê nhà; ở đó nàng quen biết rất nhiều người, những viên giám thị, nữ đốc công và người dự học; trở về đây lại thật là chán chường trống vắng và khổ sở khi tự phát hiện ra nàng hoàn toàn bị cắt rời khỏi cuộc sống và xã hội mà nàng đã trở quen thuộc. Thậm chí có đôi lần nàng còn vờ như bị cảm lạnh – không thể chịu nổi không khí rét buốt ở đây; suốt nhiều năm sau khi quay về nàng ít khi làm các công việc bên ngoài trong tất cả các mùa. Nàng thật sự cần một người giúp việc chính vì những công việc bên ngoài đó.

“Phải, Trời cứu vớt chúng ta,” Oline nói, “và tại sao cô không thể thật sự có một người hầu chứ, khi cô có đủ của cải và học vấn và cả một ngôi nhà đẹp các thứ thế này!”

Thật vui sướng khi tìm được sự đồng cảm, và Inger không từ chối nó. Nàng làm việc ở chiếc máy của mình cho tới khi chỗ đó rung lên và chiếc nhẫn trên ngón tay nàng sáng lấp lánh.

“Đấy, cô có thể tự mình thấy,” Oline nói với người phụ nữ đi cùng bà. “Đúng như tôi đã nói, Inger cô ta đeo một chiếc nhẫn trên ngón tay.”

“Dì có muốn xem nó không?” Inger nói và tháo nó ra.

Dường như Oline vẫn còn ngờ vực; bà xoay xoay nó trong những ngón tay của mình như một con khỉ với một quả hạch, nhìn vào cái nhãn hiệu. “Phải, đúng như tôi nói: Inger với tất cả những của cải và sự giàu có của cô ta.”

Người phụ nữ kia cầm chiếc nhẫn với sự tôn kính và mỉm cười một cách khép nép. “Chị có thể đeo thử nó một lúc nếu muốn,” Inger nói. “Đừng sợ, nó không bị vỡ ra đâu.”

Inger tỏ ra tử tế và tốt bụng. Nàng kể cho họ nghe về ngôi nhà thờ ở Trondhjem, và bắt đầu như thế này: “Có lẽ hai người chưa từng nhìn thấy ngôi nhà thờ ở Trondhjem? Không, hai người chưa từng tới đó!” Và như thể đó là ngôi nhà thờ của riêng nàng, từ cái cách nàng ca tụng nó, khoác lác về nó, kể cho họ nghe chiều cao và chiều rộng; nó là một sự diệu kỳ! Bảy vị linh mục có thể đứng đó giảng đạo cùng một lúc và không bao giờ nghe thấy nhau. “Và tôi cho là hai người chưa hề nhìn thấy cái giếng của Thánh Olaf? Nó nằm ngay chính giữa nhà thờ, về một phía, và đó là một cái giếng sâu không đáy. Khi chúng tôi tới đó, mỗi người chúng tôi cầm theo một hòn đá nhỏ và gieo nó xuống giếng, nhưng nó không bao giờ chạm tới đáy.”

“Không bao giờ chạm tới đáy?” Hai người đàn bà thì thầm, lúc lắc đầu.

“Và ngoài ra còn có cả ngàn thứ khác trong ngôi nhà thờ đó,” Inger cảm thán một cách vui sướng. Bắt đầu là cái rương bạc. Nó chính là cái rương bạc của chính đức Thánh Olaf linh thiêng. Nhưng Thánh đường Cẩm thạch – đó là một thánh đường nhỏ xíu hoàn toàn bằng cẩm thạch nguyên chất – những người Đan Mạch đã cướp nó khỏi chúng ta hồi chiến tranh…”

Đã tới giờ hai người phụ nữ phải đi. Oline kéo Inger sang một bên, dẫn nàng đi vào phòng chứa thức ăn nơi bà biết cất giữ tất cả những thỏi pho mát, và đóng cửa lại. “Gì thế?” Inger hỏi.

Oline thì thầm: “Os-Anders, hắn không dám tới đây nữa. Tôi đã bảo với hắn.”

“Thế à!” Inger nói.

“Tôi đã bảo hắn nếu như hắn dám, sau những gì hắn đã gây ra cho cháu.”

“Phải,” Inger nói. “Nhưng hắn từng đến đây nhiều lần trước đó. Và hắn có thể đến nếu muốn, tôi không sợ.”

“Không, đúng là thế,” Oline nói. “Nhưng tôi biết những gì mình biết, và nếu cháu muốn, tôi sẽ buộc tội hắn.”

“Thế à!” Inger nói. “Không, dì chẳng việc gì phải làm chuyện đó. Không đáng bỏ công đâu!”

Nhưng không phải nàng không vui khi có Oline đứng về phía mình; việc đó làm nàng tốn một thỏi pho mát, chắc chắn, nhưng Oline hết lời cám ơn nàng: “Đúng như tôi nói, đúng như tôi luôn luôn nói: Inger, cô ta cho với cả hai bàn tay; cô ta không hề miễn cưỡng, không hề hà tiện! Không, có lẽ cháu không sợ gì Os-Andres, nhưng tôi đã cấm chỉ hắn không được tới đây nữa. Đó là việc tối thiểu mà tôi có thể làm cho cháu.”

Thế rồi Inger nói: “Dù sao đi nữa, có tổn hại gì nếu hắn tới? Hắn không thể làm tôi tổn thương được nữa.”

Oline vểnh đôi tai lên: “Thế sao, cháu đã học được cách nào đó, có lẽ?”

“Tôi sẽ không bao giờ có con nữa,” Inger đáp.

Tới đó họ ngưng lại, mỗi người đều nắm trong tay con bài chủ tốt không kém người kia: vì Oline đang đứng đó biết rất rõ rằng gã người Lapp Os-Anders đã chết vào ngày hôm trước…

***

Vì sao Inger lại bảo sẽ không có con nữa? Nàng không có gì hục hặc với chồng, cuộc sống giữa họ không hề có gì bất đồng mâu thuẫn – có thể nói như thế. Họ có những cách thức nhỏ nhặt của riêng mình, nhưng hiếm khi cãi vã nhau, và nếu có cũng không kéo dài; chẳng bao lâu họ lại làm hòa với nhau. Và nhiều khi đột nhiên Inger trở lại giống như dạo trước, chăm chỉ làm việc ở chuồng bò hay trên đồng; như thể nàng đã khỏe khoắn trở lại. Và vào những lúc như thế Isak nhìn vợ anh với đôi mắt biết ơn; giá như anh là loại người có thể nói ngay ra những gì mình trong đầu, hẳn là anh đã nói: “Ừm. Vậy là sao hả?” hoặc câu nào đó đại loại, chỉ để chứng tỏ rằng anh cảm kích điều đó. Nhưng anh đợi quá lâu, và lời khen của anh đến quá muộn. Vì thế, không còn ngờ gì nữa, Inger cảm thấy không đáng bỏ công, và không quan tâm tới việc tiếp tục nữa.

Hẳn là nàng có thể sinh con cho tới quá năm mươi; hiện tại, có lẽ nàng đã gần bốn mươi. Nàng đã học hỏi được tất cả mọi thứ ở học viện – chẳng lẽ nàng cũng học được cách tự lừa dối chính mình? Nàng đã quay về, được đào tạo học hành cẩn thận sau mối quan hệ lâu dài với những phụ nữ giết người khác; có lẽ những người đàn ông cũng đã dạy cho nàng đôi điều gì đó – những tù nhân, những vị bác sĩ. Một hôm nàng nói với Isak những gì một y sĩ trẻ từng nói về tội ác bé nhỏ của nàng: “Vì sao giết trẻ con lại là một tội phạm – phải, ngay cả những trẻ con mạnh khỏe? Nói cho cùng, chúng chẳng là gì cả ngoài một đống thịt.”

Isak hỏi: “Vậy không phải bản thân anh ta cũng độc ác một cách khủng khiếp hay sao?”

“Anh ta!” Inger cảm thán, và bảo anh ta đã tốt đến thế nào đối với bản thân nàng; chính anh ta đã nhờ một bác sĩ khác giải phẫu miệng cho nàng và giúp nàng trở lại thành người. Giờ người ta chỉ nhìn thấy một cái sẹo mà thôi.

Phải, chỉ một cái sẹo. Và nàng là một phụ nữ đẹp theo cách của mình, cao ráo, không quá béo, da ngăm, với mái tóc dầy; vào mùa hè hầu như nàng chỉ đi chân không, với mép váy vén cao; Inger không sợ người khác nhìn thấy bắp chân mình. Isak nhìn chúng – vì ai có thể không nhìn chúng cho được!

Họ không hề cãi lẫy nhau, không. Isak không giỏi cãi cọ, và vợ anh đã trở nên nhanh trí hơn trong việc đối đáp lại. Với Isak, một cuộc cãi cọ ra trò phải mất một thời gian lâu mới nổ ra, anh là một kẻ lù đù chậm chạp; anh thấy mình bị mắc bẫy trong những lời nói của nàng, và gần như không nói được gì; ngoài ra, anh rất yêu mến nàng – Isak là một tình nhân mãnh liệt. Và thường là anh không có nhu cầu đối đáp lại. Inger không có gì để phàn nàn; anh là một ông chồng tuyệt hảo theo nhiều cách, và nàng để cho anh yên. Nói cho cùng nàng phải than phiền về điều gì cơ chứ? Isak không phải là một người có thể coi thường; rất có thể nàng đã lấy phải một người tệ hơn. Anh có mệt mỏi không? Đúng, đôi khi anh tỏ ra mỏi mệt, nhưng không có gì nghiêm trọng. Anh vẫn còn cường tráng, đầy sức lực chưa lãng phí, giống như bản thân nàng, và vào mùa thu đó, trong đời sống vợ chồng của họ, ít nhất anh cũng hoàn thành vai trò của mình một cách say đắm không kém gì nàng.

Nhưng phải chăng ở anh không có gì đẹp đẽ hay tôn quý? Không. Và ở đây nàng trở thành người vượt trội. Có lẽ đôi khi Inger cũng thầm nghĩ nàng đã từng gặp gỡ những người đàn ông đẹp hơn; những quý ông đẹp trai với những gậy ba-toong, những khăn tay và những cổ áo hồ cứng – ôi, những quý ông ở thị trấn đó! Vì thế nàng giữ Isak tại vị trí của anh, đối xử với anh, như trong thực tế, không hơn mức anh xứng đáng. Anh chỉ là một nông phu, một anh chàng quê mùa cục mịch của chốn đồng hoang; giá như ngay từ đầu miệng nàng được như bây giờ hẳn nàng sẽ không bao giờ chọn anh; chắc chắn là như vậy! Ngôi nhà anh đã trao nàng, cuộc sống anh đã dâng tặng nàng, khá là nghèo nàn; ít nhất nàng cũng đã có thể lấy ai đó ngay tại làng của mình; và sống giữa những láng giềng bạn hữu, thay vì ở đây như một kẻ bơ vơ giữa rừng hoang. Giờ đây nó không còn là nơi chốn cho nàng; nàng đã học được cách nhìn cuộc đời theo cách khác.

Thật lạ lùng khi một người có thể đi tới chỗ nhìn mọi thứ một cách khác hẳn! Giờ đây Inger không thấy vui thú gì trong việc ngắm nghía một con bê mới đẻ; nàng không còn vỗ tay kinh ngạc khi Isak từ trên đồi đi xuống với một giỏ cá to; không, nàng đã sống suốt sáu năm giữa những điều to tát hơn. Và gần đây thậm chí nàng đã thôi không còn dịu nhẹ ngọt ngào khi gọi anh vào ăn tối. “Thức ăn đã sẵn sàng, anh có vào không?” là tất cả những gì nàng nói bây giờ. Và nghe nó không hay ho chút nào. Thoạt tiên Isak thấy hơi thắc mắc, đó là một cách nói kỳ lạ; một cách nói chịu-hay-không tệ hại, không có chút quan tâm. Và anh đáp: “Sao, tôi không biết là nó đã sẵn sàng.” Nhưng khi Inger chỉ ra rằng dù sao đi nữa ắt hẳn anh phải biết, hoặc có thể đoán ra, bằng vị trí mặt trời, anh không nói thêm gì, và để cho mọi chuyện trôi đi.

A, nhưng có lần anh nắm được thóp của nàng và tận dụng nó – đó là khi nàng cố lấy trộm tiền của anh. Isak không phải là là người bủn xỉn theo cách đó, nhưng rõ ràng đó là tiền của anh. Ái chà, lần ấy suýt chút nàng đã gặp vạ to! Nhưng ngay cả khi ấy, không chính xác Inger là người hoàn toàn xấu xa; nàng cần tiền cho Eleseus – cho đứa con trai Eleseus yêu quý của nàng ở thị trấn, một lần nữa đang hỏi xin đồng Daler của nó. Chả lẽ để cho nó sống ở đó giữa những người sang trọng với những cái túi rỗng không? Nói cho cùng, nàng có trái tim của một bà mẹ. Trước tiên nàng hỏi xin tiền của cha nó, và thấy rằng điều này chẳng hay ho gì, nên đã tự lấy tiền. Không biết Isak đã nảy sinh ngờ vực từ trước hay chỉ tình cờ phát hiện ra – dù sao đi nữa, nó đã bị phát hiện. Và đột nhiên Inger thấy mình bị xiết chặt bởi hai cánh tay, bị nhấc bổng khỏi nền nhà, và ngã đánh oạch lại xuống nền nhà. Đó một chuyện lạ thường và kinh khủng – một kiểu mưa xối xả. Giờ đây đôi bàn tay của Isak không hề yếu ớt, không hề mệt mỏi. Inger rên lên một tiếng, đầu nàng gật ra sau, nàng run rẩy và trả lại số tiền.

Ngay cả khi ấy Isak cũng nói rất ít, dù Inger không cố cản ngăn anh nói. Những gì anh đã nói đều dứt khoát, như thường lệ, trong một hơi thở khó khăn: “Hừ! Cô… cô không xứng đáng ở trong ngôi nhà này!”

Nàng hầu như đã biết về anh trở lại. Ôi chao, nhưng đó hẳn phải là một nỗi cay đắng đã tích tụ từ lâu và không thể đè nén xuống.

Một ngày khổ sở, một đêm dài, và một ngày đi hoang. Isak ra khỏi nhà và nằm ở bên ngoài, vì cần phải đưa cỏ khô vào kho, Sivert cũng ở ngoài với cha nó. Inger có bé Leopoldine và lũ gia súc làm bạn; nhưng nàng thấy lẻ loi vì tất cả những chuyện đó, gần như khóc suốt buổi và lúc lắc đầu với chính mình. Trong suốt đời mình trước đó, chỉ có một lần duy nhất nàng cảm thấy xúc động đến vậy, và ngày đó lại hiện về trong tâm trí; đó là khi nàng nằm trên giường mình và bóp nghẹt một đứa bé mới chào đời.

Isak và con trai đi đâu? Họ không hề ở không; không, họ đã rời khỏi công việc cắt cỏ khoảng một ngày đêm, và đã đóng một con thuyền trên hồ. Ồ, một con thuyền thật thô kệch và xấu xí, nhưng chắc chắn và tốt như những gì họ đã từng làm; giờ họ đã có một con thuyền và có thể đi đánh cá bằng lưới.

Khi họ về tới nhà cỏ đã được phơi khô. Họ đã lừa ý Trời bằng cách tin vào nó, và không mất mát gì; họ đã có được nhờ nó. Và khi Sivert chìa một cánh tay ra và nói: “Ồ! Mẹ đã phơi khô cỏ!” Isak nhìn ra những cánh đồng và nói “Ừm.” Isak để ý thấy rằng một số cỏ khô đã bị chuyển đi; lúc này hẳn Inger phải ở nhà để làm bữa trưa. Thật sự nàng đã làm rất tốt khi đưa cỏ vào kho, sau khi anh đã khinh bỉ nàng ngày hôm trước và nói “Hừ!” Cỏ khô không phải là nhẹ; hẳn nàng phải làm việc khá vất vả, ngoài ra, còn phải vắt sữa mọi con bò cái và dê… “Vào nhà và ăn chút gì đi,” anh nói với Sivert.

“Cha không vào nhà sao?”

“Không.”

Một lát sau, Inger bước ra, đứng khép nép trên bậc cửa và bảo:

“Nếu anh nghĩ tới bản thân mình một chút, hãy vào nhà và ăn chút gì đi.”

Isak càu nhàu khi nghe thấy thế và nói “Ừm.” Dù sao thì cũng thật kỳ lạ khi Inger tỏ ra nhún nhường đến nỗi sự cố chấp của anh bị lung lay.

“Nếu anh có thể gắn thêm vài cái răng vào chiếc cào cỏ của tôi, tôi có thể tiếp tục với mớ cỏ khô,” nàng bảo. Phải, nàng bước tới bên chồng mình, vị chủ nhân của chốn này, để yêu cầu một điều, và biết ơn rằng anh đã không khước từ nó một cách khinh miệt.

“Cô đã làm đủ rồi,” anh nói, “cào cỏ và đánh xe chở về các thứ.”

“Không, chưa đủ.”

“Dù sao thì bây giờ tôi không có thời gian để sửa cái cào. Cô có thể thấy chẳng bao lâu nữa trời sẽ mưa.”

Và Isak đi làm công việc của anh.

Không ngờ gì nữa, tất cả những lời đó là để ngăn nàng khỏi làm việc cực nhọc; vì vài phút bỏ ra để chữa cái cào cỏ sẽ được bù đắp gấp mười lần bằng cách để cho Inger tiếp tục làm việc. Dù sao, Inger cũng bước ra với cái cào cỏ, và làm công việc phơi cỏ với sự hăng say. Sivert tới với con ngựa và cỗ xe, cùng cắm cúi làm, mồ hôi đầm đìa, và cỏ khô đã được đưa hết vào kho. Đó là một việc tốt, và Isak một lần nữa chìm vào suy nghĩ về những quyền năng trên cao đã dẫn dắt tất cả những đường đi nước bước của chúng ta – từ việc lấy cắp một Daler cho tới việc thu hoạch cỏ khô. Ngoài ra, con thuyền đang nằm đó; sau một thời gian dài nghĩ tới nó nhiều lần, con thuyền đã được hoàn thành; nó nằm đó, trên hồ.

“Vâng, tạ ơn Trời đất!” Isak nói.

[8] Tức Oslo, thủ đô của Na Uy ngày nay.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: