Phúc Lành Của Đất- Growth of the Soil (Chương 6)

Knut Hamsun

Con bò đực lớn sẽ được bán đi. Nó đã phát triển thành một con thú khổng lồ, và việc nuôi nó quá tốn kém; Isak sẽ đưa nó xuống làng để đổi lấy một con bò một tuổi.

Đó là ý kiến của Inger. Và chắc chắn là Inger có những lý do riêng khi muốn Isak rời khỏi nhà vào đúng cái ngày cụ thể ấy.

“Nếu có đi, thì tốt nhất là anh nên đi ngay hôm nay,” nàng nói. “Con bò đang trong tình trạng tốt; nó sẽ có giá cao vào thời điểm này trong năm. Anh hãy đưa nó xuống làng, và họ sẽ mang nó ra bán ngoài thị trấn – những người thị dân sẽ trả bất cứ thứ gì cho món thịt của họ.”

“Phải,” Isak nói.

“Chỉ mong là con vật không gây rắc rối trên đường.”

Isak không trả lời.

“Nhưng tuần qua nó đã được thả đi quanh quẩn, và đã quen với các thứ.”

Isak im lặng. Anh lấy một con dao lớn, gài nó vào một cái bao ở hông, rồi dẫn con bò đực đi.

Nó là một con thú to lớn, bộ da bóng nhoáng và trông thật kinh khủng, đôi mông lắc lư khi nó bước đi. Nó hơi có tật ở chân; khi chạy, nó nghiền nát các loài cây cỏ thấp với bộ ngực của mình; nó giống như một cái đầu máy xe lửa. Cổ nó to đến mức gần như biến dạng; có sức mạnh của một con voi ở cái cổ đó.

“Chỉ mong nó không nổi điên lên với anh,” Inger nói.

Isak suy nghĩ giây lát. “Sao, nếu nó xử sự kiểu đó, tôi sẽ phải giết nó giữa đường và vác thịt xuống làng.”

Inger ngồi xuống bậc cửa. Nàng đang đau; mặt nàng đỏ ửng. Nàng cố kềm đôi chân mình cho tới khi Isak đã đi khỏi; giờ đây anh và con bò đực đã ra khỏi tầm nhìn, và nàng có thể cất tiếng rên mà không e ngại. Thằng Eleseus đã nói được chút ít, nó hỏi: “Mẹ đau hở?” “Vâng, đau.” Nó bắt chước nàng, đè đôi bàn tay lên hông và rên rỉ. Nhóc Sivert còn đang ngủ.

Inger bế Eleseus vào nhà, đưa cho nó thứ gì đó để chơi trên sàn nhà, và lên giường nằm. Giờ sinh nở đã tới. Nàng hoàn toàn tỉnh táo suốt thời gian đó, luôn để mắt tới Eleseus, liếc nhìn chiếc đồng hồ trên tường để xem giờ. Không hề kêu la và hầu như không cử động; cuộc đấu tranh nằm trong các cơ quan nội tạng của nàng – một gánh nặng nới lỏng và trượt ra khỏi người nàng. Gần như cùng lúc đó nàng nghe thấy một tiếng khóc lạ lùng trên giường, một giọng nhỏ bé thiêng liêng; đứa bé tội nghiệp, đứa bé nhỏ xíu tội nghiệp… lúc này nàng không nghỉ ngơi mà lại nhổm lên và nhìn xuống. Cái gì vậy? Mặt nàng tái nhợt đi giây lát, không còn chút biểu hiện nào của khả năng hiểu biết; một tiếng rên phát ra; một cách không tự nhiên, không thể có – một hơi thở bị tắt nghẽn.

Nàng ngả lưng xuống giường. Một phút trôi qua; nàng không thể nghỉ ngơi, tiếng khóc trên giường ở phía dưới kia lớn dần, nàng nhổm lên lần nữa và nhìn – Ôi Trời, điều kinh khủng nhất! Không vui sướng, không hy vọng – và nó là một bé gái!

Isak chưa thể đi xa quá hai dặm. Anh chỉ mới rời nhà chưa tới một giờ. Chỉ trong chưa đầy mười phút Inger đã sinh ra đứa bé và giết chết nó…

Isak trở về vào ngày thứ ba, dắt theo một con bò một năm tuổi gần chết đói. Con vật hầu như không thể đi được; chuyến trở lên nông trại là một công việc kéo dài.

“Anh đã làm cách nào?” Inger hỏi. Bản thân nàng đang rất ốm yếu khổ sở.

Isak đã xoay xở rất khéo. Thật vậy, con bò đã nổi điên ở khoảng hai dặm cuối, anh phải cột nó lại và đi tìm người làng lên giúp. Thế rồi khi anh quay lại, nó đã dứt đứt dây và phải mất nhiều thời gian để tìm ra nó. Nhưng bằng cách nào đó anh cũng đã xoay xở được và bán nó cho một nhà buôn trong làng với một giá cao. Người này mua để bán lại cho những người hàng thịt trên thị trấn. “Và đây là con bò mới,” Isak nói. “Hãy cho bọn trẻ ra đây nhìn.”

Bất kỳ một sự bổ sung nào cho đàn gia súc đều là một sự kiện trọng đại. Inger nhìn kỹ con bò, hỏi giá nó thế nào; nhóc Sivert được phép ngồi lên lưng nó. “Dù sao thì tôi sẽ nhớ tới con bò lớn,” Inger nói. “Nó thật là đẹp và bóng mượt. Tôi mong là họ sẽ giết nó một cách nhanh gọn.”

Lúc này là mùa bận bịu, có nhiều việc để làm. Những con thú được thả ra; trong căn chuồng trống là những hòm và thùng đựng khoai giống. Năm ấy Isak gieo nhiều lúa hơn năm trước, và cố gieo chúng thật đều. Anh đánh luống để trồng cà rốt và củ cải trắng, và Inger gieo hạt. Mọi thứ lại tiếp tục như trước.

Trong một quãng thời gian, Inger đi lại với một túi cỏ khô bên dưới lớp váy để che giấu bất kỳ thay đổi nào ở thân hình của nàng, rút bỏ dần từng chút một và cuối cùng vứt đi toàn bộ túi cỏ. Rốt cuộc, một hôm Isak đã nhận ra điều gì đó và ngạc nhiên hỏi:

“Nè, cái thai thế nào? Đã xảy ra chuyện gì? Tôi nghĩ…”

“Không. Lần này thì không.”

“Thế à. Sao vậy, có gì không ổn?”

“Tôi cho là chỉ vậy thôi. Isak à, anh nghĩ anh sẽ mất hết bao lâu để làm hết đất của chúng ta?”

“Vâng, nhưng… em muốn nói là em gặp rắc rối, không như thường lệ?”

“Phải, chính thế, phải.”

“Nhưng còn chính em, em có bị tổn thương gì sau đó không?”

“Không. Isak. Tôi nghĩ chúng ta nên nuôi một con heo.”

Isak không thể nhanh chóng thay đổi đề tài theo kiểu đó. Anh im lặng giây lát rồi cuối cùng bảo: “Phải, một con heo. Chính tôi cũng nghĩ tới chuyện đó mỗi mùa xuân. Nhưng trước tiên chúng ta cần có nhiều khoai đã, nhiều củ nhỏ hơn, ngoài ra phải thêm một ít lúa; chúng ta chưa có đủ thức ăn cho một con heo. Chúng ta hãy chờ xem năm nay mọi sự thế nào đã.”

“Nhưng có một con heo là điều tốt.”

“Phải.”

Nhiều ngày trôi qua, mưa xuống, đồng lúa và đồng cỏ trông rất xanh tươi – ồ, năm nay hóa ra lại tốt, đừng lo! Những sự kiện lớn nhỏ, tất cả đều có lượt của mình: thực phẩm, ngủ nghê và làm lụng; những ngày Chủ nhật, với việc rửa mặt và chải đầu, và Isak ngồi chễm chệ với một chiếc áo đỏ mới do Inger dệt và may lấy. Rồi một sự kiện, một sự cố đáng chú ý trong vòng quay bình lặng: một con cừu đi rong với con của nó đã bị mắc kẹt vào một khe hở giữa hai tảng đá. Những con khác trở về nhà vào chiều tối. Inger nhận ra ngay có hai con cừu bị mất và Isak lên đường tìm chúng. Ý nghĩ đầu tiên của Isak là tạ ơn Trời vì hôm đó là Chủ nhật, vì thế anh không phải rời bỏ công việc và phí mất thời gian. Anh lùng sục khắp – có vô số chỗ cần tìm; trong cùng lúc đó cả nhà đang lo lắng. Người mẹ bảo lũ trẻ nín lặng với những lời ngắn gọn; có hai con cừu đang đi lạc và chúng phải ngoan. Tất cả cùng chia sẻ cảm giác; chuyện gì xảy ra đều là một vấn đề cho toàn thể cái cộng đồng nhỏ bé đó. Ngay cả mấy con bò cái cũng biết có gì đó bất thường đang diễn ra và trò chuyện với nhau theo cách riêng của chúng, vì thỉnh thoảng Inger lại bước ra ngoài, hướng về mé rừng và gọi to, dù trời đã gần sụp tối. Đó là một sự kiện ở chốn hoang vu, một chuyện không may. Thỉnh thoảng nàng lại cất tiếng hú dài gọi Isak, nhưng không có lời đáp lại. Hẳn anh đang ở ngoài tầm nghe.

Hai con cừu ở đâu, điều gì đã xảy ra với chúng? Có một con gấu chăng? Hay là lũ sói từ Thụy Điển và Phần Lan đã tràn xuống những dãy đồi? Hóa ra chẳng phải thế này mà cũng không phải thế kia. Isak tìm thấy con cừu cái bị kẹt cứng trong một khe đá, với một cái chân bị gãy và rách toạc. Có lẽ nó đã kẹt ở đó khá lâu, bởi vì, bất chấp những vết thương, con vật tội nghiệp đã gặm tới tận sát gốc những bụi cỏ nằm trong tầm với. Isak nhấc con cừu lên và giải thoát nó; ngay lập tức nó cắm cúi gặm cỏ. Con cừu non chạy tới mẹ nó để bú sữa – việc làm rỗng bầu vú bị thương giờ đây là một sự giải tỏa tốt lành.

Isak thu gom đá và lèn kín cái khe nguy hiểm đó lại; một chỗ tệ hại; nó sẽ không làm gãy thêm chân của một con cừu nào khác nữa! Isak mang dây đeo quần bằng da; anh tháo chúng ra và cột vào giữa người của con cừu để làm chỗ tựa cho bầu vú. Rồi anh nhấc con vật lên vai, lên đường trở về nhà, con cừu non chạy theo anh sát gót.

Sau đó, anh băng nẹp và bó thuốc cho con cừu. Trong vòng vài ngày con cừu bắt đầu co giật bàn chân của cái chân bị thương; chỉ là do cơn đau của chỗ gãy khi nó liền trở lại. Phải, mọi chuyện lại trở nên ổn thỏa – cho tới khi có một sự kiện nào đó vào lần kế tiếp.

Lại là vòng quay mỗi ngày; tất cả mọi chuyện nhỏ nhặt đều quan trọng đối với những cư dân này. Ồ, chúng không hề là chuyện vặt vãnh chút nào, mà là những diễn biến của vận mệnh, mang tới cho họ hạnh phúc, niềm an ủi và sự thịnh vượng, hoặc chống lại họ.

Vào thời gian rỗi giữa hai mùa, Isak bào nhẵn vài thân cây anh đã đốn; chắc chắn chúng sẽ được dùng vào việc này hay việc khác. Anh cũng đào lên một số tảng đá hữu dụng và vác chúng về nhà; ngay khi đã đủ đá, anh dựng một bức tường. Khoảng một năm trước đây, hẳn là Inger đã lấy làm lạ, tự hỏi chồng mình đang dự tính chuyện gì với tất cả những thứ này. Giờ đây dường như nàng cứ bận bịu suốt với những việc riêng của mình, và không hỏi han gì cả. Inger vẫn bận rộn luôn tay như trước, nhưng nàng bắt đầu ca hát, đây là một điều mới mẻ, và nàng đang dạy Eleseus một bài kinh cầu buổi chiều; đây cũng là một điều mới mẻ. Isak thấy nhớ những câu hỏi của nàng; chính sự tò mò và lời khen ngợi của nàng đối với những gì anh thực hiện đã khiến cho anh thấy lòng hồ hởi, thấy mình là một người đàn ông có một không hai. Nhưng giờ nàng chỉ đi ngang, không nói lời nào, hoặc nhiều lắm chỉ là một câu rằng anh đang tự giết mình với công việc. “Cô ấy đã gặp rắc rối sau cái lần cuối cùng đó, theo những gì cô ấy nói,” Isak tự nhủ.

Một lần nữa Oline lại ghé thăm họ. Lẽ ra bà phải được chào đón ân cần nếu tất cả đều như trước, nhưng giờ đây đã khác. Ngay từ phút đầu Inger đã chào bà với vẻ miễn cưỡng; dù sao đi nữa, đã có một điều gì đó khiến Inger xem bà như một kẻ thù.

“Tôi nghĩ rằng tôi lại tới vừa đúng lúc,” Oline nói, với một hàm ý tinh tế.

“Ý của dì là sao?”

“Còn sao nữa, để làm lễ rửa tội cho đứa bé thứ ba. Dạo này nó thế nào?”

“Không,” Inger nói. “Về việc đó có lẽ dì nên tránh gây rắc rối cho chính mình.”

“Thế à?”

Oline quay sang khen ngợi lũ trẻ, chúng đã lớn phổng lên và thật là xinh đẹp; Isak đã khai khẩn thêm nhiều đất và lại sắp sửa xây cất, qua vẻ ngoài của các thứ – với họ thật không bao giờ có chuyện kết thúc; một địa điểm tuyệt diệu và khó mà tìm ra mảnh đất nào như thế. “Thế lần này anh ta định xây cất cái gì vậy?”

“Hãy đi mà hỏi anh ta,” Inger nói. “Tôi không biết.”

“Không,” Oline nói. “Đó không phải là việc của tôi. Tôi chỉ ngó qua để xem mọi sự ra sao với các cháu ở đây; nhìn thấy thế với tôi là một niềm vui sướng. Còn về phần con Sừng Vàng, tôi sẽ không hỏi hay nhắc gì tới nó, nó đã rơi vào đúng chỗ, như ai cũng có thể nhìn thấy.”

Họ trò chuyện thân mật một lúc; Inger không còn có vẻ khó chịu. Cái đồng hồ trên tường gõ những nốt nhạc êm tai. Oline nhìn lên với đôi mắt rưng rưng; trong suốt cuộc đời hèn mọn của mình bà chưa bao giờ nghe thấy một thứ như thế – nó giống như tiếng đàn organ trong nhà thờ, Oline bảo. Inger cảm thấy mình giàu có và trở nên quảng đại đối với người bà con nghèo của nàng, nàng nói: “Hãy đi vào phòng kế bên để xem cái khung cửi của tôi.”

Oline ở lại suốt hôm đó. Bà trò chuyện với Isak, khen ngợi mọi việc anh đã làm. “Tôi nghe nói anh đã mua miếng đất với hàng nhiều dặm về các hướng. Anh không thể lấy không nó được à? Tôi thấy chẳng ma nào có thể đoạt lấy nó từ anh.”

Isak cảm thấy cần được ngợi khen và giờ mọi thứ đã tốt hơn. Lại cảm thấy mình là một đấng trượng phu. “Tôi sẽ mua nó từ Chính phủ,” Isak nói.

“Ờ, Chính phủ. Nhưng chắc chắn là họ chẳng việc gì phải dính vào một cuộc mua bán, phải không? Bây giờ anh đang xây cất thứ gì?”

“Sao, tôi không biết. Dù sao thì cũng không có gì nhiều lắm.”

“Phải, anh đang khấm khá; anh đang xây cất và trở nên khấm khá. Gắn cửa sơn cho ngôi nhà, và một cái đồng hồ trên tường. Tôi đoán là anh đang cất một ngôi nhà lớn mới.”

“Dì, với cách nói ngốc nghếch của dì…” Isak nói. Nhưng anh rất hài lòng, và bảo với Inger: “Em có thể làm món kem sữa trứng cho người khách đến thăm này không?”

“Không được,” Inger bảo, “ Vì tôi đã mang đánh sữa hết cả rồi.”

“Đó không phải là cách nói ngốc nghếch,” Oline vội vàng nêu ý kiến, “Tôi chỉ là một người đàn bà giản dị đang hỏi thăm cho biết. Và nếu đó không phải là một ngôi nhà lớn mới, thì sao chứ, nó sẽ là một kho thóc lớn mới, tôi dám bảo thế; và tại sao không? Với tất cả những đồng lúa và đồng cỏ này, đẹp đẽ và tăng trưởng tốt; phải, và đầy những sữa và mật, như Thánh kinh nói.”

Isak hỏi: “Theo cách nhìn của dì thì sao, về mùa vụ và các thứ?

“Sao chứ, nó vẫn ở đó như hiện giờ. Giả sử như năm nay Thượng đế không thiêu rụi tất cả, xin Chúa Trời tha thứ cho câu nói đó của tôi. Tất cả đều nằm trong bàn tay và quyền năng to lớn của Người. Nhưng về phần chúng ta, không có nơi nào sánh được địa điểm này của anh, và đó là sự thật trang nghiêm.”

Inger hỏi thăm những người họ hàng khác, đặc biệt là cậu Sivert của nàng. Ông là một nhân vật lớn của gia đình, và là chủ những ngư trường giàu cá; thật kỳ lạ khi ông có thể tìm ra cách để tiêu xài tất cả những gì mình có. Hai người đàn bà trò chuyện về cậu Sivert, và theo cách nào đó Isak cùng công việc của anh đã bị gạt ra ngoài lề; bây giờ không có ai hỏi han gì nữa về việc xây cất của anh, vì thế cuối cùng anh nói:

“Ờ, nếu dì muốn biết thì tôi đang thử cất một nhà kho với một cái sân đập lúa.”

“Hệt như tôi đã nghĩ,” Oline nói. “Những người có đầu óc thật sự đều làm theo cách đó. Nghĩ trước đoán sau các thứ như cần phải thế. Chẳng có chuyện lớn bé nào mà anh không nghĩ tới. Anh bảo là một cái sân đập lúa à?”

Isak là một đứa trẻ con. Những lời tâng bốc của Oline luồn vào đầu anh, và anh đáp lại một cách hơi ngốc nghếch với những lời lẽ văn hoa: “Còn về phần căn nhà mới đó, nó cũng cần phải có một cái sân đập lúa giống như vậy. Ý tôi là thế.”

“Một cái sân đập lúa?” Oline lúc lắc đầu.

“Thế ý nghĩa của việc trồng lúa là ở đâu nếu chúng ta chả có chỗ nào để đập chúng?”

“Phải, đó là điều tôi muốn nói, chẳng có việc gì mà anh lại không nghĩ sẵn trong đầu mình.”

Một lần nữa Inger đột nhiên tỏ ra kém vui. Vì lý do nào đó cuộc trò chuyện giữa hai người kia khiến nàng thấy bực bội, và nàng xen vào:

“Lại còn kem sữa trứng! Kem từ đâu ra chứ? Câu nó lên từ sông chắc?”

Oline vội vàng dàn hòa. “Inger, Chúa phù hộ cho cháu, đừng nói thế cháu ạ. Đừng nói gì về kem hay kem sữa trứng. Một mụ già như tôi chả có gì làm ngoài việc lê la từ nhà sang hàng xóm…!”

Isak ngồi một lát rồi đứng lên và đột ngột nói: “Tôi ngồi không ở đây vào giữa ngày trong lúc còn phải vác đá về cho bức tường đó!”

“Phải, chắc chắn là cần tới khá nhiều đá.”

“Đá à?” Isak nói. “Dường như chả bao giờ đủ cả.”

Khi Isak đi khỏi, hai người đàn bà tiếp tục một cách vui vẻ trong một thời gian; họ ngồi hàng nhiều giờ cà riềng cà tỏi về chuyện nọ chuyện kia. Vào xế chiều, Oline phải đi ra để xem gia súc của họ đã tăng trưởng ra sao: mấy con bò cái, một con bò đực, hai con bê, một bầy dê và một bầy cừu. “Tôi không biết đâu là chỗ kết thúc nữa,” Oline nói, mắt hướng lên trời.

Và đêm đó Oline ở lại.

Sáng hôm sau bà lại lên đường. Một lần nữa, bà có một bó gì đó để mang theo. Isak đang làm việc ở chỗ mỏ đá, và bà đi vòng sang lối khác để anh không nhìn thấy.

Hai tiếng sau, Oline quay trở lại, bước vào nhà và hỏi ngay lập tức: “Isak đâu?”

Inger đang giặt giũ. Hẳn Oline đã đi ngang qua chỗ mỏ đá nơi Isak đang làm, và lũ trẻ ở đó với anh; Inger đoán ra ngay đã có chuyện gì đó không ổn.

“Isak? Dì muốn gì ở anh ta?”

“Muốn gì ở anh ta? Sao, không có gì. Tôi chỉ muốn gặp anh ta để chào tạm biệt.”

Im lặng. Oline ngồi xuống một cái ghế không cần đợi mời mọc, gieo người xuống như thể đôi chân bà khước từ không muốn mang bà nữa. Thái độ của bà như định tỏ ra rằng có vấn đề nào đó rất nghiêm trọng; bà đang cố vượt qua nó.

Inger không còn kềm chế nổi. Nét mặt nàng thật kinh khủng và đầy phẫn nộ khi nàng nói:

“Tôi đã thấy thứ mà dì gửi cho tôi qua Os-Anders. Phải, nó đúng là một thứ thật tốt đẹp để gửi đi.”

“Sao… cái gì…?”

“Cái con thỏ đó.”

“Ý của cháu là gì?’ Oline hỏi với một giọng nhẹ nhàng đến lạ.

“Thôi, đừng chối nữa!” Inger hét lên, đôi mắt long sòng sọc. “Tôi sẽ lấy cái muỗng canh này đập vỡ mặt dì ra, chờ đó!”

Đánh bà? Phải, nàng đã làm chuyện đó. Oline nhận cú tấn công đầu tiên nhưng chưa té mà chỉ kêu lên: “Hãy coi chừng điều cô đang làm, cô em! Tôi biết điều mà tôi biết về cô và những việc làm của cô!” Inger lại tấn công, xô Oline té xuống nền nhà, lao tới chỗ bà và ấn hai đầu gối xuống người bà.

“Cô không định giết tôi đấy chứ?” Oline hỏi. Người đàn bà kinh khủng với cái môi sứt đang quỳ gối trên mình bà, một tạo vật khỏe mạnh vũ trang thêm một cái muỗng canh to, nặng như một cái dùi cui. Mặt mày Oline đã bị thâm tím và chảy máu, nhưng bà vẫn không hề hét to lên. “Vậy ra là cô đang cố giết chết cả tôi!”

“Phải, giết bà,” Inger nói, lại đập lần nữa. “Đó! Tôi sẽ nhìn bà chết trước khi xong việc với bà.” Lúc này nàng đã chắc chắn về chuyện đó. Oline đã biết bí mật của nàng, giờ thì chẳng có gì là quan trọng nữa. “Tôi sẽ đập nát cái mặt súc vật của bà.”

“Cái mặt súc vật?” Oline thở hổn hển. “Ôi dào! Hãy tự nhìn lại mặt của mình đi. Với cái dấu của Chúa trên đó.”

Oline cứng cỏi và sẽ không chịu đầu hàng; Inger buộc phải thôi tung những cú đập đang làm nàng kiệt sức. Nhưng nàng vẫn đe dọa – nhìn trừng trừng vào mắt của bà dì và thề rằng nàng còn chưa kết thúc với bà ta. “Sẽ còn nhiều nữa, phải, nhiều nữa. Hãy chờ tới khi tôi lấy một con dao. Tôi sẽ cho bà thấy!”

Nàng đứng lên, và di chuyển như thể đang tìm một con dao, một con dao ăn. Nhưng cơn thịnh nộ của nàng đã qua hồi tệ nhất, và nàng quay lại nguyền rủa, chửi bới. Oline lại cố nhấc người lên chiếc ghế dài, khắp mặt bà tím bầm, sưng lên và chảy máu; bà vén tóc ra khỏi trán, trải tấm khăn trùm đầu ra và nhổ nước bọt; cả miệng bà cũng tím bầm và sưng.

“Cô là đồ quỷ sứ!” Bà nói.

“Bà đã sục sạo trong rừng!” Inger la lên. “Đó là điều mà bà đã làm. Bà đã tìm ra ngôi mộ nhỏ ở đó. Tốt hơn bà nên đào thêm một cái cho mình ngay lúc đó.”

“Phải, cô chờ đó,” Oline nói, mắt bà sáng rực ý định phục thù. “Tôi sẽ không nói gì thêm, nhưng cô cứ chờ xem, sẽ không có ngôi nhà hai phòng xinh đẹp nào, với những đồng hồ âm nhạc và các thứ cho cô đâu.”

“Dù sao thì bà cũng không tước đoạt chúng khỏi tôi được!”

“Phải, cứ chờ xem. Cô sẽ thấy Oline này có thể làm gì.”

Và họ cứ tiếp tục như thế. Oline không chửi rủa, và gần như không hề cao giọng, có một cái gì đó gần như là nhẹ nhàng trong sự độc ác lạnh lẽo của bà, nhưng bà nguy hiểm một cách cay đắng. “Cái bó đó ở đâu à? Tôi bỏ lại nó trong rừng. Nhưng cô sẽ có lại nó. Tôi không giữ len của cô đâu.”

“Thế à, bà nghĩ tôi đã lấy cắp nó sao?”

“Phải, cô biết rõ nhất những gì cô đã làm.”

Thế là họ nói qua nói lại về bó len. Inger đề nghị chỉ cho bà dì thấy con cừu đã bị cắt len. Oline hỏi một cách êm ái, lặng lẽ: “Phải, nhưng ai biết cô lấy từ đâu ra con cừu đầu tiên?”

Inger đưa ra tên những người và địa điểm nơi mà con cừu đầu tiên của nàng ra đời cùng với bầy cừu non. “Và bà nên coi chừng những điều bà nói,” nàng đe dọa. “Hãy cẩn thận cái miệng của mình, không thì bà sẽ phải hối tiếc.”

“Hahaha!” Oline cười khẽ. Oline chưa bao giờ thua cuộc, chưa bao giờ để cho người ta bịt miệng mình. “Miệng của tôi hả? Thế còn miệng của cô thì sao, cô cháu thân mến của tôi?” Bà chỉ vào cái môi sứt của Inger, nói rằng cô là một hình ảnh kinh khủng đối với Thượng đế và con người.

Inger giận dữ đáp trả, và vì Oline béo tốt, nàng gọi bà là một tảng mỡ, “một tảng mỡ chó như bà. Bà đã gửi cho tôi một con thỏ, tôi sẽ đền đáp cho bà về chuyện đó.”

“Lại thỏ nữa à?” Oline nói. “Nếu tôi có bất kỳ tội lỗi nào thì cũng chưa bao giờ có về con thỏ đó. Trông nó như thế nào?”

“Trông nó như thế nào? Sao chứ, một con thỏ luôn luôn trông như thế nào?”

“Như cô. Đúng là hình ảnh đó.”

“Bà cút ra, cút ngay!” Inger gào lên. “Chính bà đã nhờ Os-Anders mang con thỏ đó tới. Tôi sẽ trừng phạt bà; tôi sẽ làm cho bà ở tù vì điều đó.”

“Tù à? Cô nói tới nhà tù phải không?”

“Ồ, bà ghen ghét ganh tị về mọi thứ bà nhìn thấy; bà ghét tôi vì mọi thứ tốt đẹp mà tôi có,” Inger lại nói. “Bà đã nổi lòng ganh ghét vì tôi có Isak và mọi thứ ở đây. Ôi Trời, bà dì ơi, tôi đã làm gì với bà nào? Nào phải là lỗi của tôi khi con cái của bà không thành đạt và trở nên tồi tệ, mọi đứa trong số chúng? Bà không thể chịu được hình ảnh các con của tôi, vì chúng xinh đẹp và mạnh khỏe, và được đặt tên tốt hơn các con của bà. Nào phải lỗi của tôi nếu máu thịt của chúng tốt đẹp hơn máu thịt của con bà?”

Nếu có một điều có thể khiến cho Oline nổi giận thì đó chính là điều này. Bà đã nhiều lần làm mẹ, và tất cả những gì bà có đều là của con cái bà, như trước giờ vẫn thế; bà phóng đại về chúng, khoác lác về chúng, kể những điều to tát mà chúng chưa bao giờ thật sự làm, và che giấu những lỗi lầm của chúng.

“Cô đang nói gì thế?” Oline đáp. “Ồ, sao cô không chìm vào mộ huyệt của mình vì xấu hổ nhỉ! Con cái của tôi! Chúng là một đàn thiên thần so với các con của cô. Cô dám nói với tôi về các con của tôi sao? Chúng là bảy món quà của Thượng đế từ khi chúng còn bé bỏng, và tất cả giờ đây đều trưởng thành. Cô dám nói…”

“Thế còn Lise, người đã bị ở tù, thì sao nhỉ?” Inger hỏi.

“Không bao giờ nó làm điều gì. Nó vô tội như một bông hoa,” Oline đáp. “Và bây giờ nó ở Bergen; sống trong một thị trấn và đội một cái mũ. Nhưng còn cô thì sao?”

“Thế còn Nils. Người ta đã nói gì về anh ta?”

“Ồ, tôi sẽ không tự hạ thấp mình… Nhưng có một đứa trong số các con của cô hiện bị chôn trong rừng ngoài kia. Cô đã làm gì với nó hả?”

“Bây giờ…! Một, hai, ba, bà cút ngay!” Inger lại gào lên và lao tới Oline.

Nhưng Oline không cử động, thậm chí không đứng lên. Sự dửng dưng bình thản của bà khiến Inger bị tê liệt, nàng lùi lại, lẩm bẩm: “Hãy chờ cho tới khi tôi lấy con dao đó.”

“Đừng bận lòng,” Oline nói. “Tôi sẽ đi. Nhưng còn cô, một-hai-ba đuổi người bà con của mình ra cửa… Không, tôi sẽ không nói thêm gì nữa.”

“Đi ra khỏi cái nhà này, đó là tất cả những gì bà cần làm!”

Nhưng Oline chưa đi vội. Cả hai lại rơi vào những lời xỉ vả, lại một lần nữa lời qua tiếng lại hồi lâu, và khi chiếc đồng hồ điểm nửa giờ, Oline phá lên cười khinh miệt, khiến Inger nổi điên hơn bao giờ hết. Cuối cùng cả hai bình tĩnh lại đôi chút, và Oline chuẩn bị lên đường. “Tôi còn cả con đường dài trước mặt,” bà nói, “và trời khá tối để lên đường. Sẽ không có gì sai khi có một chút thức ăn lúc đi đường…”

Inger không đáp. Giờ đây nàng đã tỉnh táo lại, và rót nước ra một cái chậu để Oline rửa mặt. “Đó, nếu bà muốn rửa ráy cho mình,” nàng nói. Cả Oline cũng nghĩ rằng nên tự rửa ráy cho sạch sẽ chỉnh tề, nhưng không thể nhìn thấy máu ở chỗ nào, và rửa không đúng chỗ. Inger quan sát một lúc, rồi giơ ngón tay ra chỉ.

“Đó, rửa ở chỗ đó nữa, phía trên mắt của dì. Không, không phải con mắt đó, con kia; dì không thể thấy tôi đang chỉ chỗ nào sao?”

“Làm sao tôi thấy cháu đang chỉ mắt nào,” Oline đáp.

“Và còn chỗ kia nữa, cạnh miệng dì. Dì sợ nước à? Nó đâu có cắn dì!”

Rốt cuộc, Inger tự tay rửa cho người bệnh, rồi ném cho bà một chiếc khăn.

“Điều tôi muốn nói,” Oline nói trong lúc đang lau, và giờ thì hoàn toàn hòa hoãn. “Là về Isak và lũ trẻ, làm sao họ vượt qua chuyện này?”

“Anh ta biết không?” Inger hỏi.

“Biết à? Anh ta đã đến và nhìn thấy nó.”

“Anh ta nói gì?”

“Còn có thể nói gì nữa? Anh ta không nói được lời nào, cũng như tôi thôi.”

Im lặng.

“Tất cả là lỗi của dì,” Inger hét lên, bắt đầu khóc.

“Lỗi của tôi? Tôi ước gì tôi sẽ không có gì hơn nữa để trả lời!”

“Dù sao thì tôi cũng sẽ hỏi lại Os-Anders để chắc về chuyện đó.”

“Phải, cứ làm đi.”

Họ nói những lời này một cách lặng lẽ, và giờ đây dường như Oline có vẻ ít thù hận hơn. Oline, bà đúng là một chính trị gia tài ba và nhanh chóng tìm ra các mưu chước; lúc này bà nói như thể đang rất cảm thông – thật là một điều kinh khủng đối với Isak và lũ trẻ khi chuyện đó bị phát hiện!

“Vâng,” Inger nói, lại khóc thút thít. “Cháu đã nghĩ tới nghĩ lui về chuyện đó suốt đêm ngày.” Oline nghĩ bà có thể giúp, và trở thành một vị cứu tinh cho họ trong cơn hoạn nạn. Bà có thể tới và ở lại trại này để coi sóc các thứ trong lúc Inger đang ở tù.

Inger ngưng khóc; ngưng một cách đột ngột như thể để lắng nghe và suy nghĩ. “Không, dì không quan tâm tới lũ trẻ.”

“Tôi mà không quan tâm tới chúng? Sao cháu lại có thể nói một điều như thế?”

“À, tôi biết…”

“Sao chứ, nếu có thứ gì đó trên đời mà tôi cảm thấy và quan tâm, thì đó là bọn trẻ con.”

“Phải, đối với con cái của dì,” Inger đáp. “Nhưng làm sao dì có thể quan tâm tới con cái của tôi? Và khi tôi nghĩ tới việc dì đã gửi con thỏ đó tới không vì điều gì khác hơn là để làm tôi sụp đổ hoàn toàn. Ồ, dì chẳng tốt gì hơn một đống những thứ độc hại!”

“Tôi sao?” Oline nói, “Có phải cháu muốn nói tới tôi?”

“Vâng, tôi muốn nói tới dì đó,” Inger nói, và khóc, “dì là một kẻ xấu xa, và tôi sẽ không tin dì. Và dì cũng sẽ lấy trộm hết cả len nữa, nếu dì tới. Và tất cả pho mát sẽ vào bụng con cái của dì thay vì con cái của tôi.”

“Ồ, cháu đúng là một kẻ xấu xa khi nghĩ ra một điều như thế!” Oline đáp.

Inger khóc, lau mắt, nói đôi lời gì đó. Oline không cố ép buộc nàng. Nếu Inger không quan tâm tới ý kiến đó, thì bà cũng thế. Bà có thể tới ở với thằng Nils con trai mình, như vẫn luôn làm thế. Nhưng bây giờ Inger sắp phải đi tù, đối với Isak và bọn trẻ vô tội sẽ là một thời kỳ khó khăn; Oline có thể ở lại và để mắt tới mọi việc. “Cháu có thể suy nghĩ cho kỹ,” Oline nói.

Hôm đó Inger đã chịu thua. Nàng khóc, lắc đầu và nhìn xuống. Nàng đi ra ngoài như người đang bị mộng du, gói một gói thức ăn cho Oline mang theo. “Cháu không phải mất công làm thế,” Oline nói.

“Dì không thể đi suốt quãng đường đó mà không có gì để ăn,” Inger nói.

Khi Oline đã đi khỏi, Inger len lén ra khỏi nhà, nhìn quanh và lắng nghe. Không, không có âm thanh nào từ chỗ mỏ đá. Nàng tới gần hơn, và nghe thấy lũ trẻ đang chơi với những hòn đá nhỏ. Isak đang ngồi, giữ cái xà beng ở giữa hai đầu gối, và tựa lên nó như tựa lên một chiếc gậy. Anh ta ngồi đó.

Inger len lén đi tới bìa rừng. Có một chỗ nơi mà nàng đã cắm một cây thánh giá nhỏ xuống đất; hiện giờ cây thánh giá đã bị ngã, và mặt đất ở chỗ đó đã bị xới lên. Nàng khom xuống và dùng hai tay vun đất lại. Rồi nàng ngồi đó.

Nàng đã đi ra vì thắc mắc, để xem ngôi mộ nhỏ đã bị Oline quấy rầy ra sao; giờ đây nàng ngồi lại đó vì đàn gia súc chưa về ngủ đêm. Nàng ngồi đó khóc lóc, lúc lắc đầu và nhìn xuống.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: