Nhà Tiên Tri (1. Con tàu đang tới)

K

Nhà Tiên Tri

Kahlil Gibran

Châu Diên  dịch

Kahlil Gibran 1883-1931) là nghệ sĩ, nhà thơ, nhà văn người Mỹ gốc Lebanon. Ông sinh ra tại thị trấn Bsharri, thuộc đế quốc Ottoman, nay là miển Bắc Lebanon. Ông cùng gia đình nhập cư vào Mỹ năm 1895, học nghệ thuật và bắt đầu sự nghiệp văn chương với các sáng tác bằng cả tiếng Anh và tiếng Ả Rập. Gibran thành danh trong cả hai ngôn ngữ, trở thành nhà thơ có sách bán chạy thứ ba mọi thời đại, chỉ sau Shakespeare và Lão Tử.

Nhà tiên tri là một tập thơ văn xuôi viết bằng tiếng Anh, xuất bản lần đầu năm 1923. Đây cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, được dịch ra 40 ngôn ngữ và liên tục được tái bản trên toàn thế giới.

Nhà Tiên Tri

  1. Con tàu đang tới

Almustapha, vị thánh nhân yêu dấu, kẻ là là bình minh mở đầu thời của chính mình, người đã đợi chờ mười hai năm ở thành Orphalese, đợi con tàu tới đón và đưa người về hòn đảo nơi người đã chào đời.

Thế rồi vào năm thứ mười hai, vào ngày thứ bảy của tháng gặt mùa, người bước lên ngọn đồi cao không có những tường thành rào chắn rồi ngóng về phía biển và trông thấy con tàu của mình lướt tới cùng với sương mờ biển khơi.

Khi ấy, những cánh cửa lòng người bỗng mở toang và niềm vui người bay xa trên biển rộng. Mắt người nhắm lại và người nguyện cầu trong tĩnh lặng tâm hồn.

Nhưng rổi đang khi từ đồi cao bước xuống, người bỗng thấy buồn và người thầm nghĩ trong lòng:

Làm sao ta có thể ra đi thanh thản không chút đau buồn? Làm thế nào rời bỏ thành này ra đi không chút tổn thương trong tâm trí?

Đã bao ngày đăng đẵng khổ đau ta trải qua giữa những tường thành này và cũng đã bao nhiêu đêm đơn độc liệu có kẻ nào lìa xa nỗi đau và nỗi cô đơn của mình mà không luyến tiếc?

Trên những đường phố này ta đã vung vãi biết bao mảnh hồn mình và biết bao con trẻ ta khao khát đã tồng ngồng leo lên những ngọn đồi kia, ta không thể rời xa chúng mà không thấy trĩu nặng và quặn đau.

Hôm nay đâu phải ta rũ bỏ tấm áo manh quần mà tự tay ta lột da mình.

Ta bỏ lại nào phải một suy nghĩ mà là cả một trái tim đã trở nên ngọt ngào nhờ đói nhờ khát.

Song ta chẳng thể chần chừ thêm nữa.

Biển khơi hằng vẫy gọi mọi vật theo mình lại đang gọi ta và ta phải lên tàu.

Bởi chưng nán lại thì cho dù những giờ khắc có nồng cháy trong đêm, rồi cũng sẽ đông cứng lại và kết dính trong cái khuôn chật cứng.

Ta muốn mang theo cùng mọi vật nơi đây. Song làm sao có thể?

Một giọng nói làm sao mang theo cả lưỡi lẫn môi đã chắp cánh cho nó bay lên. Nó phải đơn độc tìm tới thiên không.

Và trong cô đơn không nhà, một mình chim ưng sẽ bay ngang nắng ấm.

Giờ đây, khi  người đã tới chân đồi, một lần nữa hướng nhìn ra biển và người thấy con tàu của mình đang cập dần vào bến cảng, trên mũi tàu những chàng thủy thủ, những con người của đất quê người.

Tâm hồn người lên tiếng với họ và người nói:

Hỡi các con trai của mẹ ta xưa, những người cưỡi trên sóng dữ.

Đã bao lâu ta mơ thấy các người giương buồm ra đi. Và nay các người đã tới vào lúc ta thức tỉnh, đây chính là giấc mơ sâu xa nhất của ta.

Ta đã sẵn sàng lên đường và ta hăm hở cùng những cánh buồm no căng đợi gió.

Chỉ một làn hơi nữa ta hít trong khí trời tĩnh lặng này, chỉ một ngoái nhìn yêu thương nữa.

Và rồi sẽ bước tới bên các bạn, một người vượt biển giữa những người vượt biển.

Và hỡi mẹ biển bao là đang say giấc nồng. Chỉ riêng người là thanh bình và tự do cho sông suối.

Dòng suối này chỉ còn uốn quanh một khúc nữa, chỉ một lời thì thầm nữa thôi trong khóm rừng thưa.

Và rồi con sẽ đến với mẹ, một giọt mênh mông hoà trong đại dương mênh mông.

Thế rồi trong lúc người đi, người bỗng thấy từ xa biết bao đàn ông, đàn bà đang bỏ cả ruộng đồng và vườn nho, hối hả đổ về các cổng thành.

Và người nghe tiếng họ kêu tên mình, gào to lên từ đồng này qua đồng nọ, bảo với nhau về con tàu đang tới đón người.

Thế là người tự nhủ:

Phải chăng ngày chia xa cũng là ngày tụ họp?

Có chăng nói được đêm trước của ta thực sư lại là một bình minh?

Và liệu ta có gì tặng cho kẻ đã buông cày giữa luống, cho kẻ đã ngừng bánh xe máy ép nho?

Liệu rồi tim ta có trở thành cây trĩu quả để hái tặng họ?

Liệu rồi những mong muốn của ta có tuôn như suối để ta rót mời họ đầy ly?

Ta có là cây thụ cầm để bàn tay đấng huyền diệu chạm vào hay cây sáo cho hơi thở người thổi qua?

Là kẻ kiếm tìm những quãng lặng, mà từ trong lặng vắng đã tìm ra kho báu nào để ta có thể vững tâm ban phát?

Nếu như đây là ngày gặt hái của ta, vậy ta dã gieo hạt trên những cánh đồng nào, vào những mùa lãng quên nào?

Và nếu quả đây là giờ khắc ta giơ cao ngọn đèn, ngọn lửa bên trong sẽ chẳng phải ngọn lửa của ta. 

Mà ta sẽ giơ lên một ngọn đèn rỗng không, tăm tối.

Để người canh đêm tới đổ đầy dầu rồi châm lên.

Những điều này người nói thành lời. Song còn vô vàn điều trong lòng không được nói ra. Bởi chính người cũng không nói nổi bí ẩn sâu kín nhất.

Thế rồi khi người vào thành, tất cả dân chúng kéo tới gặp người và tất cả đồng thanh kêu to.

Rồi các bậc cao niên trong thành bước lên và nói:

Xin đừng rời bỏ chúng tôi.

Người từng là ngọn nước triều lúc hoàng hôn chúng tôi, và tuổi xuân người đã mang tới những giấc mơ cho chúng tôi mơ mộng.

Người chẳng phải kẻ xa lạ giữa chúng tôi, cũng không là khách, người là con chúng tòi và được chúng tôi yêu tha thiết.

Nỡ nào dể khoé mắt chúng tôi từ nay đói bóng dáng gương mặt nguôfi.

Và các nam nữ tu sĩ nói với người:

Xin đừng để song bể ngăn cách chúng ta ngay và để tháng năm người sống giữa chúng tôi chỉ còn là ký ức.

Người đã là một tâm linh đi cùng chúng tôi và bóng của người là ánh sáng trên gương mặt chúng tôi.

Chúng tôi yêu người biết bao. Song tình chúng tôi bấy lâu câm lặng, giấu mình sau tấm mạng.

Giờ đây nó lớn tiếng tỏ bày với người và bộc lộ ra trước mắt người.

Tình yêu ấy chưa khi nào thấu biết chiều sâu của chính nó, tận tới thời khắc chia tay.

Rồi những người khác cũng tới và khẩn cầu. Song người không đáp lại. Người chỉ cúi dầu và những ai đứng gẩn thấy nước mắt người tuôn rơi xuống ngực.

Rồi người cùng dân chúng tiến về quảng trường lớn trước đền thờ. 

Khi đó từ trong thánh đường tiến ra một người đàn bà tên là Almitra. Một người thấu thị.

Người nhìn nàng vô cùng âu yếm, đó chính là người đẩu tiên tìm đến người và tin tưởng người từ ngày đầu đặt chân lên đô thành của họ.

 Nàng chào người, nói:

Này hỡi Thiên sứ, kẻ kiếm tìm điều tột đỉnh, từ bao lâu vẫn dõi mắt vào xa xăm tìm kiếm con tàu của mình.

Giờ đây con tàu ngài đã tới và ngài phải ra đi.

Sâu xa biết mấy nỗi ngài khát khao về xứ sở của hồi ức và nơi nương náu của những ước vọng lớn lao; và tình yêu của chúng tòi sẽ không ràng buộc ngài cũng như những nguyện vọng chúng tôi chẳng giữ nỗi chân ngài.

Song chúng tôi muốn trước khi rời đi, xin ngài nói với chúng tôi  và trao giữ chân lý của ngài.

Chúng tôi sẽ truyền lại cho con cháu chúng ta, rồi chúng sẽ truyền lại cho con cháu chúng, và những điều đó sẽ không bao giờ tiêu tan.

Trong cô đơn ngài đã nhìn ngắm cùng những ngày tháng của chúng tôi, trong tỉnh thức ngài đã lắng nghe tiếng khóc tiếng cười của chúng tôi trong giấc ngủ.

Vậy giờ xin hãy phát lộ bản thân chúng tôi cho chính chúng tôi, hãy kể cho chúng tôi mọi điều ngài thấy ở giữa sinh và tử.

Người đáp:

Hỡi bà con thành  Orphalese

Tôi có thể nói gì ngoài những điều giờ này đây đang xáo động trong tâm các bạn?

























































Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: