Bá Tước Dracula (Chương 26)

Bá Tước Dracula

Bram Stoker
CHƯƠNG 26

NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD

Ngày 29 tháng Mười – Phần này được viết trên chuyến xe lửa đi từ Varna đến Galatz. Đêm qua tất cả chúng đã tập hợp lại trước khi hòang hôn một lúc. Mỗi người trong số chúng tôi đã làm tốt mọi phần việc của mình với tất cả khả năng, với tòan bộ tâm trí và nỗ lực, và khi cơ hội đến, chúng tôi đã được chuẩn bị cho tòan bộ cuộc hành trình, cho công việc của mình khi chúng tôi đến Galatz. Khi đến thời khắc thường lệ, bà Harker đang chuẩn bị cho công việc thôi miên, và sau đó Van Helsing bắt đầu phần việc của mình với những động tác có phần lâu hơn và thận trọng hơn lệ thường, nàng bắt đầu chìm vào trạng thái thôi miên. Thường thì nàng nói ngay khi có lời gợi ý, nhưng lần này giáo sư phải hỏi nàng nhiều câu hỏi, và hỏi chúng một cách khá cương quyết, trước khi chúng tôi được sáng tỏ thêm bất kỳ chuyện gì. Cuối cùng câu trả lời của nàng cũng đến.
“Tôi không thể thấy gì. Vẩn như cữ. Chẳng có tiếng sóng vỗ, mà chỉ có tiếng xóay nước nhẹ nhàng khi có tiếng dây cáp. Tôi có thể tiếng người gọi, lúc xa lúc gần, và tiếng lắc lư và và cót két của mái chèo trong những cọc chèo. Đâu đó có tiếng súng nổ, và tiếng vọng của nó vẳng ra xa. Rồi có tiếng chân bước nặng nề phía trên, tiếng dây thừng và xích được kéo lê. Cái gì thế nhỉ? Có một tia sáng. Tôi có thể cảm thấy cả một luồng khí ập vào tôi.”
Đến đây thì nàng ngừng lời. Nàng đã bật dậy, khá là hấp tấp, từ chiếc ghế sofa mà nàng đang nằm, và đưa cả hai tay, lòng bàn tay hướng lên, như thể đang nâng một vật nặng. Van Helsing và tôi nhìn nhau một cách hiểu biết. Quincey khẽ nhíu mày và nhìn nàng chăm chú, trong khi Harker theo bản năng đưa tay xoa quanh chuôi con dao Kukri của ông. Sau đó là một sự ngừng lại khá lâu. Tất cả chúng tôi đều là thời điểm mà nàng có thể nói đã qua, nhưng chúng tôi cảm thấy không thể nói được gì.
Thình lình nàng ngồi xuống, mở bừng mắt và dịu dàng nói, “Có ai trong số các bạn thích một tách trà không? Tất cả các bạn đều trông có vẻ mệt mỏi!”
Chúng tôi chỉ có thể làm cho nàng vui vẻ, và đều ưng thuận. Nàng hối hả đi pha trà. Khi nàng đi khuất Van Helsing nói, “Các bạn đã thấy rồi đó, các bạn của tôi. Hắn đang ở gần đất liền. Hắn đã rời khỏi cái rương đất. Nhưng hắn chỉ mới đến bờ biển thôi. Trong đêm hắn có thể nằm lẩn trốn ở đâu đó, nhưng nếu hắn không được mang đi trên bờ biển, hoặc con tàu không đi vào đó, thì hắn không thể đặt chân lên đất liền được. Trong trường hợp này hắn có thể, nếu như còn trong đêm, thay đổi hình dạng của hắn và nhảy hoặc bay trên bờ biển, thế nhưng, hắn không thể trốn thóat trừ khi hắn được khiêng đi.
Và nếu hắn được khiêng đi, thì những nhân viên hải quan có thể phát hiện ra cái hộp chứa gì. Vì vậy, tóm lại, nếu hắn không trốn được khỏi bờ biển trong tối nay, hoặc trước khi bình minh, thì hắn sẽ bị mất trọn cả một ngày. Chúng ta có thể đến kịp lúc. Còn nếu hắn trốn thóat trong đêm chúng ta sẽ bắt kịp hắn trong thời gian ban ngày, khi hắn bị nhốt trong hộp và phụ thuộc vào lòng từ tâm của chúng ta. Vì hắn không dám trở lại chính bản thân mình, thức giấc và hiện hữu, để hắn không bị khám phá ra.”
Chẳng có gì để nói thêm, và chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi bình minh, đó là lúc chúng tôi có thể biết được thêm qua bà Harker.
Vào sáng sớm chúng tôi, như ngừng cả thở trong âu lo, lắng nghe câu trả lời của nàng trong cơn thôi miên. Trạng thái thôi miên này thậm chí còn chậm đến hơn lần trước, và khi nó đến thì thời gian còn lại cho đến lúc mặt trời hoàn toàn mọc chỉ còn rất ngắn đến nỗi chúng tôi bắt đầu tuyệt vọng. Van Helsing có vẻ như đã dồn toàn bộ linh hồn của ông vào nỗ lực này. Cuối cùng, khi tuân theo lệnh của ông ấy, nàng trả lời.
“Tất cả đều tăm tối. Tôi nghe tiếng nước vỗ ở ngang với tôi, có tiếng cót két của gỗ va nhau.” Nàng ngừng lời, và mặt trời đỏ rực đã hiện lên. Chúng tôi phải đợi đến tối thôi.
Và vì thế nên chúng tôi đến Galatz trong nỗi niềm chờ đợi khắc khỏai. Chúng tôi phải đến vào lúc giữa hai và ba giờ sáng. Nhưng tại Bucharest chúng tôi bị trễ khỏang ba tiếng, và chúng tôi không thể đến đích ngay sau lúc mặt trời mọc. Do vậy chúng tôi sẽ thêm hai thông điệp trong lúc thôi miên của bà Harker! Bất kỳ cái nào trong hai thông điệp đó cũng sẽ soi sáng thêm cho những gì đang diễn ra.
Sau đó – Bình minh đã đến và đi. May mắn là nó không đến vào lúc chúng tôi đang xao động. Vì nếu nó đến trong lúc chúng tôi đang xao động, chúng tôi có thể không bảo đảm được là có sự bình tĩnh và cách ly cần thiết. Bà Harker rơi vào trạng thái thôi miên thậm chí còn chậm hơn vào sáng nay. Tôi sợ rằng năng lực cùa nàng để đọc trong tâm thức của bá tước có thể sẽ mất hẳn đi, ngay khi mà chúng tôi đang cần nó nhất. Từ khi nàng rơi vào trạng thái thôi miên cho đến nay thì nàng vẩn chỉ tự giam hãm trong những sự kiện đơn giản nhất. Nếu đúng như vậy thì điều này sẽ là sự lừa dối tệ hại nhất cho chúng tôi. Nếu như tôi nghĩ rằng khi mà tác dụng ảnh hưởng của năng lực từ bá tước lên nàng mất đi cân bằng với việc năng lực của nàng trong việc nhận biết những hành vi của bá tước thì đó sẽ là một ý nghĩ hạnh phúc. Nhưng tôi sợ rằng nó có thể sẽ không như vậy.
Khi nàng nói, những lời của nàng rất khó hiểu, “Có cái gì đó đang đi ra. Tôi có thể cảm nó truyền qua tôi như một gió lạnh. Tôi có thể nghe từ xa vắng những mớ âm thanh lộn xộn, giống như những con người đang nói chuyện bằng những cái lưỡi lạ, tiếng rẽ nước, và tiếng sói tru.” Nàng dừng lời và một cơn rùng mình chạy xuyên suốt nàng, càng lúc càng gia tăng trong vài giây, và đến khi kết thúc, nàng rùng mình trong trạng thái tê liệt. Nàng không nói gì thêm, thậm chí để trả lời những câu hỏi khẩn thiết của giáo sư. Khi nàng tỉnh dậy sau khi thôi miên, nàng lạnh, kiệt sức, yếu ớt, nhưng tâm trạng của nàng thì hoàn toàn bất an. Nàng không thể nhớ gì, nhưng hỏi lại xem nàng đã nói cái gì. Khi nàng được kể lại, nàng suy nghĩ rất lung trong một lúc lâu và trong im lặng.
Ngày 30 tháng Mười, 7 giờ sáng – Chúng tôi bây giờ đã gần đến Galatz, và tôi có thể có thời gian để viết thêm sau này. Cảnh mặt trời mọc sáng nay nhìn thật đáng lo cho tất cả chúng tôi. Những điều hiểu biết được gia tăng một cách khó khăn trong những cuộc thôi miên, Van Helsing bắt đầu công việc sớm hơn lệ thường. Tuy nhiên nó vẩn không có tác dụng cho đến thời điểm thường lệ, khi nàng bắt đầu chịu thôi miên nhưng còn khó khăn hơn, chỉ một phút trước khi mặt trời mọc. Giáo sư không mất thời gian đặt ngay câu hỏi.
Câu trả lời của nàng diễn ra gấp gáp, “Tất cả đều tối đen. Tôi nghe tiếng nước xóay ngang với tai tôi, và tiếng gỗ khua cót két. Gia súc nằm xa phía dưới. Có những âm thanh khác, một thứ tiếng kỳ quặc giống như…” Nàng ngừng lại và trở nên trắng bệch, càng lúc càng trắng hơn.
“Tiếp tục, tiếp tục! Nói đi, tôi ra lệnh cho cô đấy!” Van Helsing nói bằng một giọng khắc khỏai. Cùng lúc đó có một sự tuyệt vọng trong mắt ông, vì ánh mặt trời đang mọc đang rực hồng khuôn mặt trắng bệch của bà Harker. Nàng mở bừng mắt, và tất cả chúng tôi đều giật mình khi nghe nàng nói, dịu ngọt và gần như là hoàn toàn mất tự chủ.
“Ôi, giáo sư, vì sao lại yêu cầu tôi điều mà tôi không thể? Tôi nhớ gì cả.” Rồi, với một cái nhìn kinh ngạc trên khắp khuôn mặt chúng tôi, nàng nói, trong khi nhìn từng người với cái nhìn bối rối, “Tôi đã nói gì? Tôi đã làm gì? Tôi không biết gì hết, chỉ vì tôi đang nằm đây, nữa mê nữa tỉnh, và nghe ông nói,’tiếp đi! nói, tôi ra lệnh cho cô!’ Điều đó nghe rất buồn cười, ông ra lệnh cho tôi như thể tôi là một đứa trẻ hư!”
“Ôi, bà Mina,” ông ấy nói, buồn bã, “đó là sự chứng minh, nếu sự chứng minh là cần thiết, của tình yêu và sự kính trọng của tôi dành cho bà, khi mà lời nói dành những điều tốt đẹp cho bà, đã được nói nhiệt thành hơn bao giờ hết, lại gần như trở thành lạ lẫm bởi vì đó là lời ra lệnh cho con người mà tôi rất tự hào được tuân lệnh!”
Tiếng còi tàu đã rúc lên. Chúng tôi đã gần tới Galatz. Chúng tôi đang hừng hực với lòng khao khát và hăm hở.
NHẬT KÝ CỦA MINA HARKER
Ngày 30 tháng Mười. – Ông Morris đã đưa tôi đến khách sạn nơi mà phòng chúng tôi đã được đặt trước bằng điện tín, ông ấy là một người dư thừa những điều tốt đẹp nhất, dù ông ấy chẳng nói bất kỳ một ngoại ngữ nào.
Lực lượng chúng tôi được phân tán khi đến Varna, ngoại trừ huân tước Godalming đến gặp ngài Phó Lãnh sự, vì địa vị của ông ấy có thể sắp xếp để có ngay một sự bảo đảm trong một nơi văn phòng như thế, chúng tôi đang rất vội. Jonathan và hai người bác sĩ đi đến chỗ các nhân viên bến tàu để xem có gì đặc biệt về sự cập bến của con tàu Czarina Catherine.
Sau đó – Huân tước Godalming đã trở lại. Ngài Lãnh Sự đã đi và ngài Phó Lãnh sự thì ốm. Dó vậy tòan bộ công việc được bàn thảo với người thư ký. Ông ta rất tốt bụng, và đã đáp ứng tất cả mọi chuyện trong quyền hạn của ông ta.
NHẬT KÝ CỦA JONATHAN HARKER
Ngày 30 tháng Mười – Vào chín giờ bác sĩ Van Helsing, bác sĩ Seward và tôi được gọi đến Messrs. Mackenzie & Steinkoff, gặp những nhân viên của công ty London ở Hapgood. Họ nhận được điện tín từ London, để trả lời cho điện tín yêu cầu của huân tước Godalming, yêu cầu họ đón tiếp chúng tôi bằng tất cả sự lễ độ trong khả năng của họ. Họ đã rất nhã nhặn và dễ chịu, đưa chúng tôi ngay lên boong của Czarina Catherine, đang nằm thả neo ở một cảng ven sông. Ở đấy chúng tôi thuyền trưởng, có tên Donelson, ông ta đã kể với chúng tôi về tòan bộ cuộc hành trình. Ông ta nói rằng trong suốt cả đời mình ông chưa bao giờ có được một chuyến đi thuận lợi như vậy.
“Thế nhân ơi!” ông ta nói, “nhưng hắn làm chúng tôi sợ khiếp, vì chúng tôi đang được chờ đợi là sẽ được trả tiền cho những tình huống bất lợi gặp phải mà vẩn giữ được tốc độ trung bình. Thật là không thận trọng khi chạy thẳng từ London đến Biển Đen chỉ bằng sức gió, nhưng hình như chính bản thân Quỷ đã hỗ trợ cho chiếc thuyền buồm tới đích. Và trong suốt thời gian đó chúng tôi chẳng gặp chuyện gì. Dù cho chúng tôi đang ở trên thuyền, ở cảng, ở mũi biển thì lúc nào sương mù cũng tràn ngập chúng tôi và đi theo chúng tôi, đến sau khi màn sương đó được nhấc đi và lúc đó chúng tôi nhìn ra, thì trời đất quỷ thần ơi.
Chúng tôi đã đi qua Gribaltar mà chẳng nhận thấy một dấu hiệu nào cả. Và tiếp đó chúng tôi vẩn tiến đến Dardanelles và phải đợi để được phép qua, thì chúng tôi chìm ngập trong một cơn mưa chưa từng thấy. Đầu tiên tôi định hạ buồm để chờ sương tan. Nhưng tôi đồ rằng chính Quỷ đang muốn đưa thẳng chúng tôi ra Hắc Hải cho lẹ, hắn chỉ muốn làm cho được ý mình, bất chấp chúng tôi có muốn hay không. Nếu chúng tôi đã có một cuộc hành trình nhanh chóng như vậy thì là do chúng tôi đã không thất tín với chủ, hoặc không có tai nạn nào trong lúc đi đường, và cái tên Lão Nhân ấy đã được phục vụ tốt đến mức hắn đã nhã nhặn cám ơn chúng tôi đã không cản trở hắn.”
Đó làm một hỗn hợp giữa sự mộc mạc và xảo trá, của cuộc tranh luận giữa mê tín và thương mại, được Van Helsing khuấy động lên, ông bảo “Bạn tôi, con Quỷ ấy thông minh hơn là hắn thường suy tính, và hắn biết là hắn đã gặp phải trận đấu của hắn rồi!”
Con người hàng hải kia không hài lòng lắm với lời nhận xét, và tiếp tục, “Khi chúng tôi vượt qua Bosphorus thì một đám người bắt đầu càu nhàu. Một số người trong đám họ, người Roumanian, đến và yêu cầu tôi cho mang lên boong cái hộp to đùng đã được mang lên tàu bởi một lão già trông khá là kỳ quặc ngay trước khi chúng tôi bắt đầu khởi hành từ London. Tôi thấy họ liếc nhìn cái lão ấy, và họ đưa hai ngón tay khi thấy lão, để bảo vệ họ khỏi con mắt của quỷ dữ. Thế nhân ơi! Sự mê tín của cái lũ ngoại quốc ấy kỳ cục thật! Tôi muốn họ giải quyết công chuyện của họ cho lẹ, nhưng ngay sau đó một màn sương đổ ập xuống chúng tôi, và tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi không thấy họ đề cập đến chuyện đó nữa, dù tôi chẳng hề nói điều gì phản đối vụ cái hộp to kia.
Thế đấy, chúng tôi đi tiếp, và sau đó màn sương không phủ quanh chúng tôi khỏang năm ngày, tôi chỉ thấy một cơn gió thổi băng băng chúng tôi đi, bởi vì con Quỷ muốn chúng tôi tới một nơi nào đó, tốt, nó sẽ mang chúng tôi thẳng tới đó. Và nếu nó không muốn, cũng tốt, chúng tôi sẽ cẩn thận quan sát. Và hai ngày trước,khi mặt trời buổi sáng chiếu xuyên qua màn sương, chúng tôi thấy mình đang ở con sông đối diện với Galatz. Những người Roumanian nổi điên lên, và muốn tôi sống chết gì cũng mặc hãy mang cái hộp kia đi và vứt nó xuống sông. Tôi phải giận dữ dẹp loạn họ bằng một cây đòn. Và khi người cuối cùng trong số họ bị đẩy khỏi boong tàu với tay ôm đầu, tôi đã thuyết phục họ rằng, có con mắt quỷ hay là không, hàng hóa và sự tin tưởng của chủ tôi khi giao vào tay tôi sẽ tốt hơn là ném nó vào con sông Danube kia.
Họ vẩn muốn, ngài tưởng tượng không, mang cái hộp lên boong để sẳn sàng ném nó di, và cho rằng chính vì nó mà đã đến Galatz qua Varna, tôi nói rằng tôi sẽ để nó nằm đó cho đến khi chúng tôi đến một cái cảng và có thể tống sạch tất cả đi. Chúng tôi chẳng có được có thời tiết tốt vào ban ngày, và phải dừng lại thả neo tại đó vào ban đêm. Nhưng vào sáng sớm, trong lành và khóang đãng, một giờ trước khi mặt trời lên, một người đàn ông lên boong với một tờ lệnh, viết cho hắn từ nước Anh, nói hắn đến nhận một cái hộp được dán nhãn là của bá tước Dracula. Chắc hẳn là vấn đề đã được giải quyết dưới tay hắn. Hắn đã có tờ giấy cần thiết, và tôi rất vui mừng được giũ bỏ cái của nợ ấy, và bản thân tôi bắt đầu cảm thấy bất an. Nếu Quỷ có bất kỳ hành lý nào trên tàu, tôi nghĩ không có thứ gì hơn vậy!”
“Tên của người đã lấy cái hộp đó là gì?” Van Helsing hỏi với một sự hăm hở cố kìm.
“Tôi sẽ nói với ông ngay đây!” ông ta trả lời và bước xuống cabin, lấy ra một cái hóa đơn ký tên “Immanuel Hildesheim.” Burgen-strasse 16 là địa chỉ. Chúng tôi thấy rằng đó là tất cả những gì thuyền trưởng biết, nên chúng tôi cám ơn và đi.
Chúng tôi tìm gặp Hildesheim ở văn phòng của ông ta, mội mẫu người khiểu Hebrew hay đúng hơn là Adelphi Theatre, với một cái mũi giống như mũi cừu, và một cái mũ Thổ. Hắn đưa ra điều kiện về những đồng tiền, chúng tôi mặc cả và sau một hồi trả giá hắn nói cho chúng tôi những gì hắn biết. Chuyện này hóa ra lại khá đơn giản nhưng quan trọng. Hắn nói hắn nhận được một bức thư từ ông de Ville ở London, nói hắn nếu có thể thì đến trước bình minh để tránh hải quan để nhận một cái hộp được chuyển đến Galatz trên con tàu Czarina Catherine. Rồi hắn giao lại cho một người phụ trách tên là Petrof Skinsky, người đang làm việc với một tóan người Slovak đang buôn bán dọc theo bờ sông xuống cảng. Hắn được trả tiền cho công việc bởi một chi phiếu của ngân hàng Anh quốc, đã được chuyển đổi đầy đủ sang vàng ở Ngân hàng Quốc tế Danube.
Khi Skinsky đế gặp hắn, hắn đưa ông ta ra tàu và chuyển cái hộp, đang được đặt an tòan ở phía trước boong tàu. Đó là tất cả những gì hắn biết.
Chúng tôi liền tìm Skinsky, nhưng không thể tìm ra ông ta. Một trong những người láng giềng của ông ta, người có vẻ như khá là cảm tình với ông, nói rằng ông ta đã đi hai ngày trước, và không ai biết đi đâu. Điều này được chứng thực bởi chủ nhà của ông ta, người đã nhận qua trung chuyển chìa khóa của ngôi nhà cùng với tiền thuê, bằng tiền Anh. Việc đó diễn ra vào khỏang giữa mười và mười giờ hôm qua. Chúng tôi lại một lần nữa bế tắc.
Trong khi chúng tôi đang đứng nói chuyện thì một người chạy ào đến hổn hển nói không kịp thở rằng thân thể của Skinsky vừa được phát hiện bên trong bức tường của nhà thờ St. Peter, và cổ họng đã bị xé toang như thể bị tấn công bởi một con thú hoang. Chúng tôi liền chấm dứt cuộc nói chuyện và chạy đến xem cảnh kinh dị ấy, những người phụ nữ kêu la. “Đó là công việc của những người Slovak!” Chúng tôi vội tránh đi để không bị nhúng sâu vào câu chuyện bi thảm này và sẽ bị cản trở.
Khi chúng tôi về đến nhà chúng tôi đã có một cuộc thảo luận không giới hạn. Tất cả chúng tôi đều nhận thức rằng chiếc hộp đã được chuyển đi, theo đường thủy, đến một nơi nào đó, nhưng nơi đó là đâu thì chúng tôi phải khám phá. Với trái tim trĩu nặng chúng tôi trở về khách sạn gặp Mina.
Khi chúng tôi gặp nhau, điều đầu tiên đáng quan tâm là truyền cho Mina niềm tin của chúng tôi. Mọi chuyện đang diễn ra ở mức tuyệt vọng, và ít nhất chỉ còn một cơ hội, dù rằng đó một cơ hội may rủi. Bước đầu, tôi dã giải phóng khỏi lời hứa với nàng.
NHẬT KÝ CỦA MINA HARKER
Ngày 30 tháng Mười, buổi chiều. – Họ trông mệt, mỏi mòn và mất tinh thần đến nỗi có lẽ họ sẽ chẳng làm được gì nếu không có nghỉ ngơi, nên tôi yêu cầu tất cả họ hãy nằm khỏang nữa giờ trong khi tôi ghi lại những điều quan trọng. Tôi cảm thấy biết ơn người nào đã phát minh ra cái máy đánh chữ “du lịch”, và cũng cám ơn ông Morris đã mua một cái cho tôi. Tôi sẽ lạc lối mất nếu tôi tiến hành công việc bằng một cây viết để viết…
Tất cả đã xong. Anh Jonathan thân yêu tội nghiệp, cái đã làm anh ấy đau khổ, bây giờ lại tiếp tục làm anh ấy đau khổ. Anh ấy nằm trên ghế sofa, thở một cách nặng nhọc và cả con người anh ấy như đã vỡ vụn ra. Lông mày anh ấy nhíu sát lại. Mặt anh ấy chảy dài trong đau đớn. Con người tội nghiệp, có thể anh ấy đang suy nghĩ và tôi có thể ấy mặt anh ấy nhăn lại với sự tập trung ý nghĩ. Ôi! Nếu như tôi có thể giúp anh ấy được dù chỉ một chút gì. Tôi sẽ làm cái gì mà tôi có thể.
Tôi đã hỏi bác sĩ Van Helsing, và ông ấy cho tôi xem tất cả những giấy tờ mà tôi chưa đọc. Trong khi họ nghỉ ngơi, tôi sẽ đọc lại tất cả một cách cẩn thận, và có thể thể tôi sẽ có được một giải pháp nào đó. Tôi sẽ thử lần theo các ví dụ của giáo sư, và cố suy nghĩ không có những thành kiến trên những sự kiện trước mặt tôi…
Tôi tin rằng dưới sự lo xa của Chúa, tôi sẽ khám phá được điều gì đó. Tôi sẽ lấy những cái bản đồ và quan sát chúng.
Tôi càng tin chắc hơn rằng tôi đúng. Kết luận mới mẻ của tôi đã thành hình, nên tôi sẽ đánh thức các đồng đội và đọc nó. Họ có thể nhận xét. Nếu như nó chính xác thì tốt, và mỗi phút đều quý giá.
BẲN GHI NHỚ CỦA MINA HARKER
(GHI TRONG NHẬT KÝ CỦA BÀ TA)
Nền tảng của quá trình điều tra. – Những vấn đề mà bá tước Dracula gặp phải trên con đường trở về cố hương.
(a) Hắn phải được ai đó khiêng đi. Điều này là hiển nhiên.Vì hắn có quyền lực để tự di chuyển theo ý mình, hắn có thể di chuyển như một con người, hoặc chó sói, hoặc dơi, và theo một cách nào đó. Rõ ràng là hắn sợ bị phát hiện hoặc suy luận ra tình trạng bất lực của hắn khi hắn bị buộc phải nhốt trong chiếc hòm gỗ của hắn khỏang lúc giữa bình minh và hòang hôn.
(b) Hắn được mang đi như thế nào? – Ở đây quá trình loại trừ có thể giúp chúng ta. Bằng đường bộ, bằng xe lửa hay bằng đường thủy?
1. Bằng đường bộ. – Ở đây đầy rẫy những khó khăn, đặt biệt khi vào thành phố.
x) Ở đây có người. Và con người thì tò mò và thích khám phá. Một gợi ý, một phỏng đóan, một sự nghi ngờ về cái gì có thể ở trong hộp sẽ hủy hoại hắn.
(y) Ở đây có, hoặc có thể có những nhân viên hải quan và thuế vụ và phải qua được họ.
(z) Những kẻ truy đuổi hắn có thể theo đuổi hắn. Đây là điều hắn sợ nhất. Để ngăn chặn sự phản bội, hắn đã thu hồi lại mọi sự ảnh hưởng mà hắn có thể, thậm chí với nạn nhân của hắn, tôi!
2. Bằng xe lửa. – Sẽ không có ai phụ trách chiếc hộp. Nó có thể gây ra những sự trì hõan, và với những kẻ thừ đang lần theo dấu vết, trì hoãn nghĩa là kết liễu. Đúng là hắn có thể trốn ra vào ban đêm. Nhưng hắn sẽ tồn tại như thế nào ở vùng đất xa lạ không có nơi chốn nào để hắn có thể lẩn vào? Đấy không phải là điều hắn muốn và hắn không muốn mạo hiểm chuyện này.
3. Bằng đường thủy. – Đây là con đường an tòan nhất, nếu quan tâm về chuyện này, nhưng điều nguy hiểm nhất lại ở hướng khác. Ở dưới nước hắn bị mất hết quyền lực ngoại trừ về đêm. Thậm chí rằng có thể chỉ gọi được sương mù, bão, tuyết và chó sói. Nhưng hắn chỉ có thể trôi giạt, cuộc sống trên mặt nước sẽ nhận chìm hắn, vô phương trợ giúp, và hắn thật sự sẽ thất bại. Hắn có thể hướng con thuyền vào đất liền, nhưng nếu đó là một vùng đất không thân thiện, nơi mà hắn không được tự do di chuyển, thì tình thế của hắn là tuyệt vọng.
Chúng ta đã biết qua các tài liệu rằng hắn đang ở trên mặt nước, vì vậy cái chúng ta phải làm là xác định xem đang ở vùng nước nào.
Điều đầu tiên là xác định chính xác xem hắn đã làm gì. Chúng tôi có thể có được một tia sáng từ những chuyện mà hắn đã làm.
Thứ nhất. – Chúng tôi phải phân biệt giữa phần việc hắn làm ở London với tòan bộ kế hoạch hành động chung của hắn, khi mà hắn chịu áp lực của thời gian và phải sắp xếp những điều tốt nhất hắn có thể làm.
Thứ nhì chúng tôi phải biết, cũng như ước đóan được từ những sự kiện chúng tôi đã biết xem hắn đã làm gì ở đấy.
Để bắt đầu, hắn rõ ràng định đến Galatz, và gửi hóa đơn đến Varna để đánh lừa chúng tôi khiến chúng tôi không biết được rằng hắn định trốn chạy từ nước Anh. Mục đích trước mắt và duy nhất của hắn là chạy trốn.
Điều này được chứng minh qua bức thư gửi Immanuel Hildesheim để dỡ chiếc hộp mang nó đi trước khi mặt trời lên. Đó cũng là lệnh gửi đến cho Petrof Skinsky. Những điều chúng tôi chỉ phải đóan là, hẳn đã có một số thư từ thông điệp gì đó khi Skinsky đến gặp Hildesheim.
Như vậy, đến nay, kế hoạch của hắn đã thành công như chúng ta đã biết. Tàu Czarina Catherine đã tiến hành một cuộc hành trình nhanh một cách phi thường. Càng lúc thuyền trưởng Donelson càng trỗi dậy nỗi nghi ngờ. Nhưng sự mê tín kết hợp với sự khôn ngoan của ông đã khiến ông tiếp tục chơi trò chơi mà bá tước đã bày ra cho ông ta, ông ta đã cho tàu lao đi với sự lợi gió xuyên qua sương mù và được mang đi một cách mờ mịt đến tận Galatz. Đấy là những sự sắp xếp của bá tước đã được thực hiện và đã được chứng minh.
Hildesheim đã dỡ chiếc hộp xuống mang nó đi và trao lại cho Skinsky. Skinsky nhận nó, và đến đây thì chúng ta mất dấu. Chúng ta chỉ biết rằng chiếc hộp đang ở đâu đó trên mặt nước, đang được chuyển đi. Những nhân viên hải quan và thuế, nếu có, đã được tránh khỏi.
Bây giờ chúng ta sẽ tiếp đến việc bá tước phải làm gì sau khi đã cập bến trên đất liền ở Galatz.
Chiếc hộp đã được chuyển đến cho Skinsky trước bình minh. Vào lúc hòang hôn bá tước có thể xuất hiện trong nguyên dạng của hắn. Ở đây, chúng ta sẽ hỏi vì sao Skinsky lại chọn việc tham gia vào công việc này? Trong nhật ký của chồng tôi, Skinsky đề cập đến việc làm ăn với những người Slovak. những người này đang buôn bán dọc theo con sông đến cảng. Và theo nhận xét của nhiều người, thì thủ phạm giết người phải là bọn người Slovak, bởi những dấu hiệu gây ra cảm giác chống lại tóan người này. Bá tước muốn được cô độc.
Điều phỏng đóan của tôi là, tại London bá tước quyết định trở lại lâu đài bằng đường thủy, là con đường an tòan và bí mật nhất. Hắn được mang đi từ lâu đài bởi những người Szgany, và có thể họ phân phối hàng hóa cho cho những người Slovaks, những người này lại mang những chiếc hộp đến Varna, từ đây nó được chất lên tàu đến London. Do vậy bá tước hẳn phải biết về những người đã sắp xếp công việc cho hắn. Khi chiếc hộp được mang lên bờ, trước khi bình minh hoặc sau hòang hôn, hắn có thể ra khỏi chiếc hộp ấy, gặp Skinsky và chỉ dẩn hắn những gì phải làm để sắp xếp chuyên chở chiếc hộp theo dòng sông. Khi công việc này đã làm xong, và hắn biết rằng tất cả đã sẳn sàng, hắn bèn xóa đi dấu vết, theo như hắn nghĩ, bằng cách sát hại người nhân viên của mình.
Tôi đã kiểm tra bản đồ và thấy rằng con sông thích hợp nhất cho người Slovaks để vượt về là Pruth hoặc Sereth. Tôi đọc trong những bản ghi trong những cơn thôi miên của tôi rằng tôi đã nghe thấy tiếng bò kêu,tiếng mực nước cuốn ngang mực tai của tôi và tiếng gỗ kêu ken két. Bá tước đang ở trong hộp, vậy thì, hẳn là đang ở trên sông và đang ở trên một chiếc thuyền không mái, được điều khiển bằng mái chèo hoặc sào, vì gần đó có những cánh đồng đang có người làm việc dọc dòng sông. Sẽ không có những âm thanh như vậy nếu như không phải đang trôi dọc dòng sông.
Tất nhiên cũng có thể không phải là Sereth và Pruth, nhưng chúng tôi có thể điều tra thêm. Bây giờ thì có hai lựa chọn, con sông Pruth thì đễ đến hơn, nhưng Sereth thì ở Fundu, rồi đổ vào Bistriza chạy vòng quanh Borgo Pass. Chỗ vòng này rõ ràng là rất gần với lâu đài Dracula để có thể đến đó bằng đường thủy.
NHẬT KÝ CỦA MINA HARKER- TIẾP THEO
Khi tôi đọc xong, Jonathan ôm tôi trong vòng tay anh ấy và hôn tôi. Những người khác lắc tôi bằng cả hai tay, và bác sĩ Van Helsing nói, “Bà Mina thân yêu của chúng ta lại một lần nữa là thầy giáo của chúng ta. Đôi mắt của bà ấy vẩn còn tồn tại trong khi chúng ta đều mù cả. Bây giờ một lần nữa chúng ta lại lần theo dấu vết, và lần này chúng ta có thể thành công. Kẻ thù của chúng ta đang ở trong tình trạng bất lực nhất. Và nếu chúng ta có thể bắt kịp hắn vào ban ngày, trên mặt nước, nhiệm vụ của chúng ta sẽ xong.
Hắn đã khởi hành, nhưng hắn không đủ năng lực để thúc đẩy công việc, vì hắn không thể rời khỏi hộp để những người đang chuyên chở cái hộp ấy khỏi nghi ngờ. Vì nếu để họ nghi ngờ cũng có nghĩa là thúc đẩy họ ném hắn xuống dòng nước, khiến cho hắn phải bỏ xác. Hắn biết điều này, và sẽ không làm như vậy. Nào mọi người, hãy thành lập Hội đồng Chiến tranh của chúng ta, vì từ lúc này và tại đây, chúng ta phải lập kế hoạch xem mỗi người và tất cả sẽ làm gì.”
“Tôi sẽ lấy tàu hơi nước chạy đuổi theo hắn,” huân tước Godalming nói.
“Và tôi, sẽ cưỡi ngựa băng đồng để rượt đuổi trong trường hợp hắn lên bờ,” ông Morris nói.
“Tốt!’ giáo sư nói, “cả hai đều tốt. Nhưng không ai phải đi đơn độc cả. Phải dùng vũ lực chống lại vũ lực nếu cần. Người Slovak khỏe mạnh và cục cằn, và họ có những cánh tay thô lỗ.” Tất cả những người đàn ông đều mỉm cười vì lòng họ đều bừng bừng như một khối thuốc nổ.
Ông Morris nói, “Tôi có mang theo một số khẩu Winchester. Chúng sẽ hữu dụng với đám đông, và có thể với chó sói. Bá tước, nếu các bạn nhớ, có một số sự phòng ngừa khác. Hắn có thể trưng dụng một số thứ khác mà bà Harker có thể không nghe và hiểu được. Chúng ta phải sẳn sàng với tất cả mọi chuyện.”
Bác sĩ Seward nói, “Tôi nghĩ rằng tốt hơn tôi nên đi với Quincey. Chúng tôi đã quen đi săn cùng nhau, và cả hai chúng tôi, nếu được vũ trang tốt, sẽ đủ sức đương đầu với bất kỳ thứ gì gặp trên đường. Cậu cũng sẽ chẳng đơn độc đâu, Art. Có thể cần phải giao tranh với bọn Slovaks, và phải công kích đấy, vì tớ không nghĩ rằng những gã ấy có súng, nếu không thì cả kế hoạch của chúng ta phải hủy bỏ hết. Nếu như vậy thì sẽ không còn cơ hội. Chúng ta sẽ không hề nghĩ ngơi cho đến khi cái đầu và thân mình của bá tước tách rời nhau ra, và chúng ta sẽ đảm bảo cho hắn không thể tái sinh được.”
Ông ấy nhìn Jonathan khi đang nói, và Jonathan nhìn tôi. Tôi có thể con người tội nghiệp thân yêu ấy đang trải rộng lòng mình. Tất nhiên anh ấy muốn ở bên tôi. Nhưng công việc thích hợp nhất cho anh ấy sẽ là người tiêu diệt… diệt… Ma cà rồng (Vì sao tôi lại ngần ngừ khi viết từ này nhỉ?”
Anh ấy đứng yên lặng một lúc, và trong lúc anh ấy lặng thinh thì bác sĩ Van Helsing nói, “Bạn Jonathan, đây là công việc dành cho anh bởi hai lý do. Thứ nhất, bởi vì anh còn trẻ, can đảm và có thể thể chiến đấu với tất cả sức lực của mình đến tận cùng nếu cần thiết. Và một lý do khác là anh chiến đấu để tiêu diệt hắn. Chính hắn là kẻ đã gây ra đau khổ cho anh và những người thân của anh. Đừng lo cho bà Mina. Tôi sẽ chăm sóc bà ấy, nếu tôi có thể. Tôi già rồi. Đôi chân tôi không còn đủ sức chạy cho nhanh nữa.
Tôi không làm được những việc phi ngựa đường dài để săn đuổi khi cần thiết, hoặc để chiến đấu bằng vũ khí chí mạng. Nhưng tôi có thể làm được việc khác. Tôi có thể chiến đấu bằng cách khác.Và tôi có thể chết, nếu cần, cũng tốt như những người trẻ hơn. Bây giờ để tôi nói tôi sẽ làm gì. Trong khi bạn, huân tuớc Godalming và bạn Jonathan của tôi lướt nhanh trên con tàu hơi nước theo dòng sông, và trong khi John với Quincey lo đường bộ nếu nhỡ ra hắn sẽ lên bờ, tôi sẽ đưa bà Mina đi đúng vào tâm điểm của lãnh địa kẻ thù.
Trong khi con cáo già ấy vẩn còn bị buộc chặt trong chiếc hộp, lênh đênh trên dòng nước chảy nơi hắn không thể chạy trốn lên bờ, nơi mà hắn không dám nhấc chiếc nắp quan tài của hắn để khỏi phải khiến cho những người Slovak đang chuyên chở khỏi sợ hãi và để cho hắn mất mạng, chúng tôi sẽ đi theo con đường mà Jonathan đã đi, đi từ Bistriz đến Borgo, và tìm đường đến lâu đài Dracula. Ở đấy, năng lực trong lúc thôi miên của bà Mina hắn nhiên là sẽ có ích, và chúng ta sẽ tìm thấy con đường của chúng ta, tất cả những gì đen tối và chưa ai được biết, sau lần mặt trời mọc đầu tiên chúng tôi sẽ gần vùng đất định mệnh ấy. Sẽ có nhiều chuyện phải làm, và những vùng đất khác phải được linh thiêng hóa, để cho hang ổ của lòai rắn độc kia bị tuyệt diệt.
Đến đây thì Jonathan nóng nẩy ngắt lời, “Như vậy là ông muốn nói, thưa giáo sư Van Helsing, rằng ông sẽ mang Mina, đang trong tình trạng buồn khổ và ốm yếu vì căn bệnh của con quái vật kia gây ra, vào trong hàm của cái bẫy chết chóc đó? Không, với tất cả mọi thứ trên thế giới này! Không với cả Thiên đường và Địa ngục!”
Anh ấy trở nên mất tiếng trong gần cả một phút, và rồi nói tiếp, “Ông đã biết nơi đó là như thế nào chưa? Ông đã bao giờ trông thấy cái hang ổ khủng khiếp của cái địa ngục nhơ nhuốc ấy, khi mà mỗi ánh trăng có thể làm sống dậy những hình nhân rùng rợn, với mỗi đốm bụi quay cuồng trong cơn lốc bụi đều là một con quái vật khát máu còn phôi thai? Đã bao giờ ông có cái cảm giác của một đôi môi Ma cà rồng lướt trên cổ họng của ông chưa?”
Đến đây anh ấy quay sang tôi, và khi mắt anh ấy chạm vào vầng trán của tôi, anh ấy đưa tay lên và kêu lớn, “Ôi, Chúa tôi, chúng con đã làm gì mà những đau khổ này lại trút xuống đầu chúng con?” và anh ấy ngồi vật xuống ghế sofa, gần như vỡ vụn trong đau khổ.
Giọng của Giáo sư vang lên, khi ông ấy nói một cách rõ ràng, với âm sắc dịu dàng, gần như ngân vang trong không khí, khiến tất cả chúng tôi đều bình tâm lại.
“Ôi, bạn tôi, đó là bởi vì tôi sẽ bảo vệ bà Mina từ bất kỳ nơi ghê gớm nào mà chúng tôi sẽ đi. Chúa sẽ ngăn cản tôi mang bà ấy vào nơi ấy. Đây là công việc, một công việc hoang dại, công việc sẽ làm trước khi nơi ấy được trong sạch. Hãy nhớ rằng chúng ta đang đang bị kẹt một cách khủng khiếp. Nếu lần này bá tước trốn thoát khỏi chúng ta, hắn sẽ trở nên khoẻ mạnh, khôn khéo và xảo trá, hắn có thể quyết định là sẽ ngủ một thế kỷ, và đến lúc đó thì con người thân thương của chúng ta, ” ông ấy nắm lấy tay tôi, “sẽ đến gặp hắn để làm bạn với hắn, sẽ giống như những kẻ khác mà anh, Jonathan, đã thấy.
Anh đã nói với chúng tôi về những đôi môi khát máu. Anh đã nghe chúng cười man rợ khi chúng giành giật nhau cái túi còn chuyển động mà bá tước đã ném cho chúng. Anh rùng mình, và như thế là tốt. Hãy tha thứ cho tôi nếu như tôi đã làm cho anh đau khổ đến như vậy, nhưng điều đó là cần thiết. Bạn tôi, chẳng lẽ bây giờ đã không thảm khốc đến mức tôi cần thiết phải dâng hiến, có thể là mạng sống của tôi sao? Nếu vậy thì bất kỳ ai đi vào nơi đó để ở lại, thì chính tôi sẽ là người sẽ đi để bầu bạn cùng họ.”
“Hãy làm như ông muốn,” Jonathan nói, với một cơn nấc làm anh ấy rung động đến toàn thân, “chúng ta đang ở dưới tay của Chúa!”
Sau đó. – Ôi, tôi cảm thấy dễ chịu khi thấy cái cách mà những người đàn ông can đảm này làm việc. Một người phụ nữ có thể cảm thấy yêu mến họ như thế nào khi mà họ tỏ ra đầy hăm hở, thật chân thật, và thật là dũng cảm! Và nó cũng làm cho tôi nghĩ đến quyền lực kinh khủng của đồng tiền! Cái gì mà nó không thể làm được khi được dùng một cách hèn hạ. Tôi cảm thấy biết ơn rằng huân tước Lord Godalming khá giàu, cả ông ấy và ông Morris, người cũng có khá nhiều tiền, và sẳn sàng tiêu nó không do dự.
Vì nếu họ không làm như vậy, thì cuộc thám hiểm của chúng tôi đã không thể khởi hành, thậm chí còn không thể nhanh chóng và được trang bị thật tốt khi mà nó diễn ra trong hoàn cảnh khác. Mọi việc được sắp xếp trong vòng không đầy ba giờ cho mỗi người trong số chúng tôi làm phần việc của mình. Và bây giờ thì Huân tước Godalming và Jonathan đã có được một chiếc tàu hơi nước thật mạnh,đang sẳn sàng khởi hành bất kỳ lúc nào. Bác sĩ Seward và ông Morris đã nữa tá ngựa hay, được trang bị đầy đủ. Tất cả chúng tôi đều có bản đồ và các trang thiết bị đủ loại có thể cần đến. Giáo sư Van Helsing và tôi định đi bằng chuyến xe lửa lúc 11:40 tối nay đến Vetersi, nới chúng tôi sẽ lấy hành lý để đi đến Borgo Pass.
Chúng tôi đã có một hoàn cảnh thuận lợi khi tiền bạc đều sẳn sàng, để chúng tôi thoải mái mua sắm xe và ngựa. Chúng tôi sẽ tự đánh xe, vì trong vấn đề này chúng tôi chẳng có ai có thể tin tưởng được. Giáo sư giỏi nhiều ngoại ngữ một cách khủng khiếp, và chúng tôi sẽ ổn thôi. Tất cả chúng tôi đều có vũ trang, thậm chí tôi cũng có một khẩu súng lục ổ quay cỡ lớn. Jonathan sẽ chẳng vui nếu như tôi không được vũ trang như những người còn lại. Than ôi! Tôi không thể là trang bị như những người còn lại được, vết sẹo trên trán tôi ngăn cản điều đó. Bác sĩ Van Helsing yêu quý an ủi tôi rằng tôi được trang bị đầy đủ như vậy để chống lại chó sói. Thời tiết mỗi lúc một lạnh hơn, và những bông tuyết đang phảng phất như một lời cảnh cáo.
Sau đó – Tôi đã lấy hết can đảm để nói lời chia tay với người yêu. Chúng tôi có thể chẳng bao giờ gặp nhau nữa. Can đảm lên, Mina! Giáo sư nhìn tôi một cách sắc sảo. Cái nhìn của ông ấy là một lời cảnh cáo. Lúc này không được để rơi một giọt nước mắt nào, trừ phi Chúa để cho nó tuôn rơi trong niềm vui.
NHẬT KÝ CỦA JONATHAN HARKER
Ngày 30 tháng Mười, đêm. – Tôi đang viết dưới ánh sáng của cánh cửa lò của dàn động cơ hơi nước. Huân tước Godalming đang đun lửa. Ông ấy khá là có kinh nghiệm trong chuyện này, vù ông ấy đã nhiều năm điều khiển con tàu hơi nước của riêng ông ấy trên con sông Thames, và một chiếc khác ở Norfolk Broads. Xem lại những kế hoạch của chúng tôi, cuối cùng chúng tôi cũng quyết định rằng những phán đoán của Mina là hợp lý, và nếu như có bất kỳ con đường thuỷ nào mà bá tước lựa chọn để trốn về Lâu đài của hắn, con sông Sereth và tiếp đó khi nó nối với Bistritza, chính là con đường đó. Chúng tôi đến đó, nó nằm ở khoảng 47 vĩ độ bắc,và nơi được lựa chọn là nơi cắt ngang đất nước giữa con sông và dãy Carrpathians.
Chúng tôi không sợ phải chạy với tốc độ cao trên sông vào ban đêm. Nước ở đây khá nhiều, và bờ đủ rộng để lấy đủ hơi nước, thậm chí vào ban đêm thì mọi chuyện cũng dễ dàng. Huân tước Godalming nói tôi ngủ một lúc, vì lúc này chỉ cần một người là đủ trông chừng. Nhưng tôi không thể ngủ, khi mà một mối nguy hiểm khủng khiếp đang treo lơ lửng trên đầu người yêu của tôi, và chính nàng cũng đang dấn thân vào cái nơi kinh tởm đó.
Tôi chỉ được an ủi khi nghĩ rằng chúng tôi đang ở trong tay của Chúa. Chỉ có niềm tin đó mới khiến cho việc chết dễ dàng hơn sống, và để thoát khỏi mọi rắc rối. Ông Morris và bác sĩ Seward đã bắt đầu đoạn đường dài của họ trước khi chúng tôi khởi hành. Họ đang ở bên bờ bên phải, đủ xa để lên những vùng đất cao, để họ có thể thấy được hướng chảy của con sông và tránh con đường vòng. Vào giai đoạn đầu này, họ đang có thêm hai người trên mình ngựa và dẩn theo bốn con ngựa rảnh khác, để không gây nên sự nghi ngờ. Khi cần họ có thể giải tán người của mình một cách nhanh chóng và sẽ tự mình trông chừng những con ngựa. Trên mỗi yên ngựa đều có một chiếc sừng có thể di dộng được, để khi cần có thể điều chỉnh cho Mina.
Chúng tôi đang ở trong một cuộc thám hiểm hoang dại. Ở đây, chúng tôi đang lao nhanh xuyên qua bóng đêm, với giá lạnh từ con sông như đang dâng lên và thấm vào chúng tôi, với tất cả những âm điệu kỳ bí của đêm đen đang vây quanh chúng tôi, tất cả chúng đều đến hang ổ. Chúng tôi có vẻ như đang trôi vào một vùng đất không người biết và đang đi trên một con đường chẳng ai biết. Tất cả có thể gói gọn trong một thế giới của những thứ tối tăm và kinh khiếp. Godalming vừa đóng lại cánh cửa lò hơi…
Ngày 31 tháng Mười. – Vẩn tiếp tục lao đi. Ban mai đã đến, và Godalming đang ngủ. Tôi đang trông chừng. Buổi sáng lạnh chói chát, và hơi ấm lò hơi thật là đáng biết ơn, dù chúng tôi đang mặc những chiếc áo lông dày. Chúng tôi đã vượt qua vài chiếc tàu không mái, nhưng không có chiếc nào trong số chúng có trên boong một cái hộp hoặc gói hành lý hoặc bất kỳ cái gì có kích cỡ như chúng tôi đang tìm kiếm. Những người trên tàu đều rất sợ mỗi khi chúng tôi chiếu ánh sáng đèn điện về phía họ, họ quỳ xuống và cầu nguyện.
Ngày 1 tháng Mười Một, chiều tối. – Chẳng có tin tức gì trong suốt cả ngày. Tất cả chúng tôi đều chẳng tìm thấy gì trong cái mà chúng tôi đang tìm kiếm. Chúng tôi bây giờ đã vượt qua Bistritza, và nếu chúng tôi sai lầm trong phỏng đoán của mình thì cơ hội của chúng tôi đã hết. Chúng tôi kiểm tra kỹ lưỡng từng con tàu, lớn hay nhỏ. Vào sáng sớm này, một đội thủy thủ nói chúng tôi đến gặp một chiếc thuyền Chính phủ, và đối xử với chúng tôi dựa trên cơ sở này. Chúng tôi thấy việc này xem ra khá êm thấm, vì ở Fundu, nơi Bistritz chảy vào Sereth, chúng tôi thấy một lá cờ Roumanian bay phấp phới đập ngay vào mắt chúng tôi. Với mỗi chiếc thuyền chúng đều đề phòng xem có một cái bẫy nào không.
Chúng tôi tuân theo những dấu hiệu được đưa ra, và quyết định không đưa ra đòi hỏi hay làm bất kỳ chuyện gì trong chủ đề này. Một số người Slovaks nói chúng tôi rằng có một chiếc thuyền lớn vượt qua họ, di chuyển với một tốc độ rất cao vì trên boong nó có một đội thuỷ thủ đông gấp đôi. Chiếc này đã vượt họ trước khi họ đến Fundu, vì vậy họ không thể nói chiếc thuyền ấy đã quay vào Bistritza hay tiếp tục đến Sereth. Tại Fundu chúng tôi không hề nghe về chiếc thuyền như vậy, nên hẳn là nó đã đi qua vào ban đêm. Tôi cảm thấy rất buồn ngủ. Cái lạnh đã bắt đầu thấm vào tôi, và theo lẽ tự nhiên thì phải nghỉ một chút. Godalming khăng khăng rằng ông ấy sẽ canh phiên đầu. Chúa sẽ ban phước cho lòng tốt của ông ta dành cho Mina tội nghiệp và tôi.
Ngày 2 tháng Mười Một, buổi sáng. – Đây là một ngày sáng đẹp. Con người tốt bụng kia đã không đánh thức tôi. Ông ấy nói đấy sẽ là một tội ác bởi vì tôi ngủ rất ngon và có vẻ đang quên đi những rắc rối của mình. Nó có vẻ là một sự ích kỷ tàn nhẫn cho tôi khi tôi để mình ngủ lâu như vậy, để cho ông ấy thức canh cả đêm, nhưng ông ấy có lý. Tôi trở thànnh một con người mới vào sáng này. Và khi tôi ngồi đây và quan sát ông ấy ngủ, tôi có thể làm tất cả mọi chuyện lẽ ra phải cần đến hai người như xem xét động cơ, lái tàu, và trông chừng. Tôi có thể cảm thấy nhưng sức khoẻ và năng lượng đang trở lại với tôi.
Tôi không biết bây giờ Mina và giáo sư đang ở đâu. Họ có lẽ đã đến Vetersi vào giữa trưa thứ Tư. Ở đấy họ cần một số thời gian để lấy hành lý và ngựa. Vậy nến như họ khởi hành và đi nhanh, bây giờ có lẽ bây giờ họ đang ở Borgo Pass. Chúa sẽ chỉ dẩn và giúp đỡ họ! Tôi sợ phải nghĩ về những điều có thể xảy ra. Chỉ cần chúng tôi có thể đi nhanh hơn. Nhưng chúng tôi không thể. Động cơ đang chạy mạnh và đang hoạt động hết công suất.
Tôi không biết bác sĩ Seward và ông Morris đang tiến hành công việc như thế nào. Nơi này hình như có vô cùng tận những con suối chảy dọc theo sườn núi và đổ vào con sông này, nhưng chẳng có dòng suối nào lớn vào lúc này, và thậm chí, chúng hiển nhiên sẽ rất khủng khiếp vào mùa đông khi mà tuyết tan, các kỵ sĩ có thể sẽ không gặp nhiều trở ngại. Tôi hy vọng rằng trước khi chúng tôi đến Strasba chúng tôi có thể thấy họ.Vì nếu lúc ấy mà chúng tôi không thể lần ra bá tước, thì có thể không còn một chỉ dẩn nào thích hợp để tiến hành công việc tiếp được.
NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD
Ngày 2 tháng Mười Một. – Đã ba ngày đăng trình. Không tin tức, không có thời gian để viết gì, vì mỗi khoảnh khắc đều quý giá. Chúng tôi bây giờ chỉ để đủ cho lũ ngựa đủ thời gian để ngủ. Nhưng cả hai chúng tôi chịu đựng điều đó rất tuyệt vời. Những ngày tháng phiêu lưu của chúng tôi đã tỏ ra rất hữu dụng. Chúng tôi phải cố lên. Chúng tôi sẽ không hề cảm thấy thoải mái cho đến khi một lần nữa chúng tôi có thể dấu hiệu của con tàu lớn.
Ngày 3 tháng Mười Một. – Chúng tôi nghe thấy ở Fundu rằng có một con tàu lớn vừa đến Bristritza. Tôi ước sao đừng có quá lạnh như vậy. Có những dấu hiệu cho thấy tuyết sắp rơi. Và nếu tuyết rơi nặng thì chúng tôi phải dừng lại. Trong trường hợp đó thì chúng tôi phải có một cái búa tạ và tiếp theo là thời trang Nga.
Ngày 4 tháng Mười Một. – Hôm nay chúng tôi đã nghe thấy tung tích về một chiếc tàu lớn đang bị kẹt loại bởi một tai nạn khi đang cố đẩy nhanh tốc độ. Những con tàu của người Slovak đi tiếp được, bởi sự giúp đỡ của dây thừng và kiến thức lái tàu. Một số đến trước chỉ vài giờ. Godalming tự bản thân cậu ta là một thợ lắp ráp máy nghiệp dư, và rõ ràng cậu ta chính là người đưa con tàu trở về trạng thái ổn định trở lại.
Cuối cùngg, họ lại tiếp tục lướt nhanh an toàn, với sự giúp đỡ của địa phương, và lại tiếp tục phục hồi cuộc truy đuổi. Tôi sợ rằng con tàu ấy sẽ không thể nào làm tốt hơn với tai nạn, những người nông dân nói với tôi rằng sau khi con tàu lướt xuống nước trở lại, thỉnh thoảng nó lại dừng lại khi họ vẩn còn thấy nó. Chúng tôi phải tiến lên mạnh mẽ hơn nữa. Hy vọng của chúng tôi có thể muốn đến sớm.
NHẬT KÝ CỦA MINA HARKER
Ngày 31 tháng Mười. – đến Verresti vào giữa trưa. Giáo sư nói với tôi rằng sáng nay vào lúc bình minh ông ấy rất khó khăn để thôi miên tôi, và tất cả những gì tôi có thể nói là, “tối tăm và tĩnh mịch.” Bây giờ ông ấy đã đi mua hành lý và ngựa. Ông ấy nói rằng ông ấy sẽ trở lại sau để cố mua một số ngựa thêm, để chúng tôi có thể thay đổi chúng trên đường. Trước mặt chúng tôi là 70 dặm đường trường. Đất nước này thật là dễ thương, và rất thú vị. Nếu như chúng tôi ở trong hoàn cảnh khác, thì chúng tôi sẽ rất vui được ngắm chúng. Nếu Jonathan và tôi được thong dong duỗi qua nơi đây thì điều đó sẽ thật tuyệt. Để ngừng lại và gặp gỡ mọi người, để biết thêm về cuộc sống của họ, để làm tràn ngập tâm tưởng và trí nhớ của chúng tôi với những sắc màu và những bức tranh sinh động của thiên nhiên hoang dã, của đất nước xinh đẹp và những con người duyên dáng! Nhưng, than ôi!
Sau đó. – Bác sĩ Van Helsing đã trở lại. Ông ấy mang theo xe và ngựa. Chúng tôi phải ăn tối một chút, để bắt đầu trong một giờ. Bà chủ nhà đã cho chúng tôi một túi khổng lồ đồ dự trữ. Nó chắc là đủ cho cả một đại đội lính. Giáo sư cám ơn bà ấy, và thì thầm với tôi rằng nó có thể chỉ chiếm khoảng một tuần trước khi chúng tôi có thể ăn thức ăn trở lại. Ông ấy cũng đi mua sắm, và gửi về nhà thật nhiều những áo khoác và bọc lông thú thật tuyệt vời, và các loại đồ ấm khác. Chúng tôi chẳng còn cơ hội nào để bị lạnh nữa.
Chúng tôi sẽ đi sớm. Tôi sợ phải nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra cho chúng tôi. Chúng tôi thật sự đang ở trong tay Chúa. Chỉ có Người là biết chuyện gì có thể xảy ra, và tôi cầu nguyện Người, với tất cả sức mạnh trong nỗi buồn và linh hồn thấp kém của tôi, để Người có thể trông chừng cho người chồng yêu dấu của tôi. Dù bất kỳ chuyện gì xảy ra, Jonathan có thể biết rằng tôi yêu anh ấy và tôn kính anh ấy hơn là tôi có thể nói ra, và ý nghĩ cuối cùng và thành thật nhất của tôi sẽ luôn dành cho anh ấy.
NHẬT KÝ CỦA MINA HARKER
Ngày 1 tháng Mười Một. – Chúng tôi đi suốt cả ngày dài, và với tốc độ rất nhanh. Lũ ngựa có vẻ biết rằng chúng đang được đối xử tốt, nên chúng sẳn lòng phónng nước đại suốt. Chúng tôi đã có biết bao thay đổi, và cùng có một mục tiêu bất biến khiến chúng tôi như được khuyến khích để nghĩ rằng cuộc hành trình chỉ là một công việc dễ dàng. Bác sĩ Van Helsing rất ngắn gọn với những người tá điền rằng ông ta đang vội đến Bistriz, và trả hậu cho họ để thay đổi ngựa. Chúng tôi ăn súp nóng, hoặc cà phê, hoặc trà, và rồi chúng tôi lại đi tiếp. Đây thật là một đất nước dễ thương.
Tất cả như được phủ đầy bởi những bức tranh tuyệt đẹp, và mọi người thì can đảm, khoẻ mạnh, đơn giản, và có vẻ như toàn là những đức tính tốt đẹp. Họ rất, rất mê tín. Tại căn nhà đầu tiên chúng tôi dừng chân, khi người phụ nữ phục vụ chúng tôi thấy vết sẹo trên trán tôi, bà ấy làm dấu thánh và đưa hai ngón tay về phía tôi, để giữ tôi tránh xa khỏi mắt quỷ dữ. Tôi tin rằng họ gặp vấn đề vì đã cho quá nhiều tỏi vào trong thức ăn, và tôi thì không thể chịu đựng tỏi được. Mỗi lần như vậy tôi đều tập trung vào việc không giở nón và mạng che ra, và nhờ đó tránh được sự nghi ngờ của họ. Chúng tôi đi rất nhanh, và chúng tôi không mang theo tài xế để khỏi phải chuyên chở theo những giai thoại, chúng tôi đã vượt lên các scandal.
Nhưng tôi dám nói rằng nỗi sợ hãi về con mắt quỷ dữ vản theo chúng tôi suốt trên cả đoạn đường. Giáo sư hình như là không hề biết mệt. Cả ngày ông ấy chẳng hề nghỉ ngơi, dù ông ấy đã làm cho tôi ngủ suốt. Vào lúc hoàng hôn ông ấy thôi miên tôi, và ông ấy nói rằng tôi đã trả lời như thường lệ, “bóng đêm, nước vỗ và tiếng gỗ khua.” Như vậy là kẻ thù của chúng tôi vẩn đang ở trên sông. Tôi sợ nghĩ về Jonathan, nhưng lúc này tôi có phần nào không lo cho anh ấy, hay là cho tôi. Tôi viết những điều này trong khi chúng tôi đợi tại một ngôi nhà nông dân chờ khi ngựa được chuẩn bị xong.
Bác sĩ Van Helsing đang ngủ. Con người tội nghiệp thân yêu, ông ấy trông rất mệt, già và xanh xao, nhưng môi ông ấy mím chặt như một người chinh phục. Thậm chí trong giấc ngủ ông ấy cũng đang tập trung tìm giải pháp. Khi chúng tôi khởi hành tôi để ông ấy ngủ trong khi tôi đánh xe. Tôi sẽ nói với ông ấy rằng chúng tôi còn phải đi nhiều ngày, và ông ấy phải không được ngã quỵ vì sức khoẻ của ông ấy là rất cần thiết… Tất cả đã sẳn sàng. Chúng tôi nhẹ nhàng lên đường.
Ngày 2 tháng Mười Một, buổi sáng. – Tôi đã thành công, và chúng tôi đã thay nhau lái xe suốt đêm. Bây giờ thì ban ngày đã đến với chúng tôi, rực rỡ dù lạnh băng. Không khí có vẻ nặng nề một cách lạ lùng. Tôi nói nặng nề để muốn nói về một từ khác tốt hơn. Tôi muốn nói đến áp lực đang đè nặng hai chúng tôi. Trời rất lạnh, và chỉ có những chiếc áo lông ấm áp mới có thể giữ cho chúng tôi dễ chịu. Đến bình minh thì Van Helsing thôi miên tôi. Ông ta nói tôi trả lời “tối tăm, tiếng gỗ khua và nước réo,” vì con sông đang chảy đến đoạn đổ thác. Tôi hy vọng rằng người yêu của tôi không rơi vào một trường hợp nguy hiểm hơn, nhưng chúng tôi đang ở trong tay của Chúa.
Ngày 2 tháng Mười Một, đêm. – Cả một ngày dài đánh xe. Đất nước này nhìn càng hoang dại hơn khi chúng tôi đi, và mũi núi lớn của dãy Carpathians đã hiện ra, làm cho Veresti càng có vẻ như xa khỏi chúng tôi và nằm thấp dưới đường chân trời, bây giờ chúng tôi có vẻ như đang bị vây quanh bởi một ngọn tháp trước mặt. Cả hai chúng tôi đều phấn chấn. Tôi nghĩ chúng tôi mỗi người đang cố vực tinh thần người kia, và làm như vậy chúng tôi đang cỗ vũ chính mình. Bác sĩ Van Helsing nói vào buổi sáng rằng chúng tôi sẽ đến Borgo Pass. Những ngôi nhà bây giờ đã ít thấy, nên chúng tôi không thể thay đổi ngựa.
Ông ấy mang thêm hai con vào hai con chúng tôi đã đổi, nên bâu giờ chúng tôi có trong tay bốn con ngựa một cách khá lạ. Những chú ngựa thân yêu khá kiên nhẫn và tốt bụng, và chúng chẳng gây cho chúng tôi rắc rối gì. Chúng tôi chẳng phải lo gì về những khách du hành khác, vì vậy thậm chí tôi có thể đánh xe. Chúng tôi sẽ vượt qua Pass vào buổi sáng ngày. Chúng tôi không muốn đến đấy trước lúc đó. Vì vậy chúng tôi thong thả, và thay nhau nghỉ ngơi một lúc lâu. Ôi, ngày mai sẽ mang lại cho chúng tôi điều gì? Chúng tôi đang đến vùng đất mà người yêu tội nghiệp đã chịu nhiều đau khổ.
Chúa muốn rằng chúng tôi có thể được chỉ dẩn bởi những điều phải, và Người sẽ rủ lòng thương để trông xuống chồng tôi và những người thân của cả hai chúng tôi, và cho những ai đang ở trong vòng nguy hiểm ghê gớm. Còn cho tôi, tôi không đáng cho Người quan tâm. Than ôi! Tôi không còn trong sạch trong mắt Người, và sẽ còn như thế cho đến khi có thể Người động lòng để cho tôi có thể đứng trước Người như một người không phải gánh chịu những thịnh nộ của Người.
NHỮNG BẲN GHI CỦA ABRAHAM VAN HELSING
Ngày 4 tháng Mười Một. – Những điều ghi này dành cho người bạn cũ và chân thật John Seward, M.D, ở Purefleet, London, trong trường hợp tôi không còn gặp anh ấy nữa. Điều này có thể giải thích được. Đây đang lúc buổi sáng, tôi đang viết bên đống lửa mà tôi đã giữ cho cháy suốt đêm, bà Mina giúp tôi. Trời rất lạnh, lạnh lắm. Lại đến nỗi bầu trời nặng nề màu xám đầy những tuyết, và khi nó rơi nó làm cho mặt đất mùa đông trở nên cứng rắn để đón nhận nó.
Điều này có vẻ đã ảnh hưởng đến bà Mina. Bà ấy trở nên nặng đầu suốt cả ngày và đâm ra cáu kỉnh với bản thân. Bà ấy ngủ, ngủ và ngủ! Bà ấy không tỉnh táo như thường lệ, và hầu như chẳng làm gì trong suốt cả ngày. Bà ấy thậm chí không còn thèm ăn nữa. Bà ấy không ghi thêm một mục nào trong nhật ký, trong khi ở mỗi lần dừng bà ấy đã viết rất đều đặn. Có cái gì đó mách bảo với tôi rằng điều đó không tốt. Tuy nhiên, vào đêm thì bà ấy sống động hơn.
Cơn ngủ dài suốt cả ngày đã giúp bà ấy tươi tỉnh và phục hồi lại, bây giờ bà ấy lại càng dịu dàng và tươi sáng hơn bao giờ. Vào lúc hoàng hôn tôi cố thôi miên bà ấy, nhưng than ôi! không hiệu lực gì. Năng lực đang mất dần đi mỗi ngày, đến đêm nay thì tôi hoàn toàn thất bại. Tốt, Chúa sẽ làm tất cả những gì có thể làm và dẩn mọi chuyện đến bất kỳ nơi đâu Người muốn.
Bây giờ thì trở về lịch sử một chút, vì khi bà Mina không viết bằng phương pháp tốc ký của bà ấy, tôi phải cáng đáng cái công chuyện nặng nề này, vì mỗi ngày trôi qua của chúng tôi không thể không ghi lại được.
Chúng tôi đến Borgo Pass chỉ sau khi mặt trời lên vào sáng hôm qua. Khi tôi thấy dấu hiệu của bình minh tôi đã sẳn sàng để thôi miên. Chúng tôi dừng xe lại, xuống xe để không gây nên một sự xáo trộn nào. Tôi làm một giường bằng lông thú, và bà Mina nằm lên, tự bản thân mình tuân theo như thường lệ, nhưng chậm chạp và trong thời gian ngắn hơn bao giờ hết vào giấc ngủ thôi miên. Như trước đây, câu trả lời đến là, “tối tăm và tiếng nước cuốn.” Rồi bà ấy tỉnh giấc, tươi tỉnh và hớn hở, và chúng tôi tiếp tục đi và nhanh chóng đến Pass. Đến lúc này và ở nơi này, nàng trở nên hừng hực với tất cả nhiệt tình. Có một năng lực mới rõ ràng xuất hiện ở bà ấy, vì bà ấy chỉ vào con đường và nói, “Chính là đường này.”
“Làm sao bà biết được?” tôi hỏi.
“Tất nhiên là tôi biết’ bà ấy trả lời, với một cái ngừng, thêm vào, “Chẳng phải là Jonathan của tôi đã đi qua và viết lại chuyến đi của anh ấy đó sao?”
Đầu tiên tôi nghĩ rằng điều này có phần lạ lùng, nhưng tôi sớm thấy rằng chỉ có một con đường như vậy. Nhưng nó rất ít khi được dùng, và rất khác với con đường xe khách từ Bukoniva đến Bistriz, rộng và chắc chắn hơn, và thường được dùng hơn.
Do đó chúng tôi đi xuống con đường này. Khi chúng tôi thấy những con đường khác, không phải lúc nào chúng tôi cũng chắc chắn chúng là những con đường, vì chúng có vẻ hoang phế và đóng đầy tuyết trắng, lũ ngựa biết và chúng chỉ đi theo con đường đúng. Tôi thả dây cương cho chúng, và chúng tiếp tục kiên nhẫn phóng đi. Chúng tôi lần lần được thấy những điều Jonathan đã mô tả trong cuốn nhật ký tuyệt diệu của anh ta. Và chúng tôi đã đi rất lâu, những giờ dài nối tiếp nhau.
Đầu tiên tôi nói bà Mina đi ngủ. Bà ấy thử và thành công. Bà ấy ngủ suốt, ngủ đến nỗi cuối cùng tôi thấy nỗi nghi ngờ của mình tăng lên, và cố đánh thức bà ấy. Nhưng bà ta tiếp tục ngủ, và tôi không thể đánh thức được dù tôi đã cố. Tôi không muốn thử mạnh tay để không làm bà ấy đau. Bây giờ thì tôi biết là bà ấy rất mệt, và giấc ngủ lúc này là tất -cả – của – tất – cả đối với bà. Tôi nghỉ là bản thân tôi cũng ngủ lơ mơ, vì thình lình tôi cảm thấy sai quấy, như thể tôi đã làm cái gì đó. Tôi thấy tự bản thân mình giật bắn lên, với cương vẩn trong tay, và lũ ngựa khoẻ vẩn đều đều gióng bước, gióng bước như thường lệ.
Tôi nhìn xuống và thấy bà Mina vẩn ngủ. Từ lúc này đến hoàng hôn không còn lâu nữa, và trên nền tuyết trắng sáng rực lên ánh mặt trời làm vàng rực cả một vùng. vì chúng tôi đang đi vào một vùng bóng đen dài của những ngọn núi đang nối nhau vươn cao. Khi chúng tôi đi lên, đi lên, và tất cả thì ôi, đầy hoang dã và toàn là đá, giống như đây là nơi tận cùng của thế giới.
Tôi bèn đánh thức bà Mina. Lần này bà ấy thức dậy mà chẳng gặp rắc rối gì, và tôi cố thôi miên cho bà ấy ngủ. Nhưng bà ấy không ngủ, giống như là tôi chẳng làm gì cả. Tôi vẩn cố thêm, cho đến khi tôi thấy cả tôi và bà ấy đều chìm vào bóng đêm, và tôi nhìn quanh, thấy rằng mặt trời đã lặn mất rồi. Bà Mina phá lên cười, và tôi quay lại nhìn bà ấy. Bà ấy bây giờ trông rất tỉnh táo, và tôi chưa bao giờ nhìn thấy bà ấy khỏe mạnh như vậy kể từ lúc chúng tôi lần đầu đột nhập vào nhà bá tước.
Tôi kinh ngạc và cảm thấy không thoải mái với chuyện này. Nhưng bà ấy trông tươi tỉnh,dịu dàng và trầm lắng với tôi đến nỗi tôi quên đi nỗi sợ. Tôi khơi một ngọn lửa, để chúng tôi đi tìm củi chung quanh, và bà ấy chuẩn bị thức ăn trong khi tôi tháo ngựa và cho chúng ăn trong phạm vi chuồng trại. Sau đó tôi quay về với đống lửa, bà ấy đã chuẩn bị sẳn sàng bữa tối. Tôi giúp bà ấy, nhưng bà ấy mỉm cười, và nói với tôi rằng bà ấy đã ăn rồi. Rằng bà ấy rất đói và bà ấy không đợi được. Tôi không thích chuyện này, và tôi rất nghi ngờ. Nhưng tôi sợ làm bà ấy kinh hoảng, nên tôi giữ im lặng.
Bà ấy giúp tôi và tôi ăn một mình, sau đó chúng tôi cuộn trong những tấm lông thú và nằm cạnh đống lửa, và tôi nói bà ấy ngủ trong khi tôi trông chừng. Nhưng liền đó tôi quên sạch ngay chuyện trông chừng. Và khi tôi chợt nhớ ra chuyện trông chừng, tôi thấy bà ấy nằm lặng lẽ, nhưng tỉnh táo, và nhìn tôi bằng đôi mắt sáng rực. Một, hai lần như vậy, và tôi ngủ thẳng giấc đến tận lúc trời sáng. Lúc tôi tỉnh giấc tôi cố thôi miên bà ấy, nhưng than ôi! Dù bà ấy tuân theo lệnh tôi nhắm mắt lại, bà ấy vẩn không thể ngủ được. Mặt trời mọc lên, và lên cao, cao nữa, và rồi giấc ngủ đến với bà ấy một cách muộn màng, nhưng nặng nề đến nỗi bà ấy chẳng hề thức giấc.
Tôi phải nâng bà ấy lên, và đặt bà ấy vẩn còn ngủ vào xe khi tôi thắng yên cương cho lũ ngựa và chuẩn bị sẳn sàng. Bà ấy vẩn ngủ, và trông giấc ngủ bà ấy trông càng khoẻ mạnh và hồng hào hơn bao giờ hết. Và tôi không thích như vậy. Và tôi sợ, sợ, sợ! Tôi sợ tất cả mọi điều, thậm chí nghĩ đến việc tôi phải tiếp tục công việc của mình. Tiền đặt cọc cho cuộc chơi của chúng tôi là cuộc sống và cái chết, hoặc còn hơn thế nữa, và chúng tôi không được nản chí.
Ngày 5 tháng Mười Một, buổi sáng. – Hãy để cho tôi tường thuật chính xác mọi chuyện, cho dù anh và tôi đã cùng nhau thấy nhiều chuyện lạ, anh có thể lần đầu tiên nghĩ rằng tôi, Van Helsing, đang điên. Có rất nhiều chuyện kinh dị và trạng thái căng thẳng kéo dài trong thần kinh cuối cùng đã đến trong não tôi.
Cả ngày hôm qua chúng tôi đi, luôn luôn tiến gần các ngọn núi, và đi vào một vùng đất càng lúc càng hoang dã và vắng vẻ. Những vách núi khắc nghiệt với những thác nước tuôn chảy, và Thiên Nhiên có vẻ như đang giữ lại cho mình những ngày hội xa xưa. Bà Mina vẩn chỉ ngủ và ngủ. Và dù tôi đã đói và sau đó là tạm lót lòng, tôi vẩn không thể đánh thức bà, thậm chí để ăn. Tôi bắt đầu sợ rằng lời nguyền tiền định của vùng đất này đã tác động lên bà, làm băng hoại bà với lễ đặt tên của Ma cà rồng. “Tốt,” tôi nói với chính mình, ” nếu như bà ấy ngủ suốt cả ngày, thì tôi cũng sẽ không ngủ về đêm.” Và khi chúng tôi đi đến một đoạn đường xấu, suốt cả con đường toàn những thứ cổ xưa và dở dang, tôi gục đầu xuống và ngủ.
Một lần nữa tôi bị đánh thức bởi một cảm giác tội lỗi khi thời gian trôi qua, và thấy rằng bà Mina vẩn đang ngủ, và mặt trời đã lặn. Nhưng tất cả thật sự đang đổi thay. Những vách núi khắc nghiệt như đã xa ơn, và chúng tôi đang lên đến đỉnh của ngọn đồi bậc thang, và trên đỉnh của nó là toà lâu đài như Jonathan đã mô tả trong nhật ký của anh ta. Ngay lập tức tôi cảm thấy hân hoan và lo sợ. Vì bây giờ, dù tốt hay xấu. cái kết cục đã đến.
Tôi đánh thức bà Mina, và một lần nữa thử thôi miên bà ấy. nhưng than ôi, công việc này bất khả cho đến lúc quá trễ. Và tiếp đó, trước khi bóng đêm bao la phủ xuống chúng tôi, và thậm chí sau khi mặt trời lặn bầu trời còn phản chiếu ánh dương quang trên nền tuyết, tất cả tạo nên một quang cảnh nữa sáng nữa tối thật tuyệt vời. Tôi thả ngựa và để cho chúng ăn trong một cái chuồng mà tôi có thể tạo ra. Sau đó tôi dựng một đống lửa, và gần bên nó tôi để cho bà Mina, lúc này đã tỉnh táo và càng hấp dẩn hơn bao giờ, ngồi thật thoải mái giữa những tấm thảm của bà.
Tôi chuẩn bị thức ăn sẳn sàng, nhưng bà ấy không ăn, bà ấy nói đơn giản rằng bà ấy không đói. Nhưng bản thân tôi vẩn ăn, vì tôi tôi cần phải khoẻ mạnh để đương đầu cùng tất cả. Sau đó, với sự sợ hãi về cái có thể xảy ra, tôi vẽ một vòng tròn quanh chỗ bà Mina ngồi, đủ lớn để cho bà ấy vẩn có thể thoải mái. Và trên cái vòng ấy rôi rắc một số bánh thánh, tôi nghiền nó ra để nó có thể bảo vệ tốt. Bà ấy vẩn ngồi suốt thời gian đó, vẩn ngồi lặng như một người đã chết.
Và bà ấy trông càng lúc càng trắng hơn đến nỗi tuyết cũng không thể trắng hơn được nữa, và bà vẩn không nói một lời. Nhưng khi tôi lại gần, bà ấy bám vào tôi, và tôi có thể biết được rằng linh hồn tội nghiệp ấy đang run rẩy từ đầu đến chân với một nỗi sợ hãi thật đau đớn khi phải gánh chịu.
Tôi nói với bà ấy ngay sau đó, khi bà ấy càng lặng lẽ hơn, “Bà có muốn lại bên đống lửa không?” vì tôi muốn kiểm tra những gì bà ấy có thể làm. Bà ấy đứng dậy tuân theo, nhưng khi bà ấy bước được một bước bà ấy đứng lại, và đứng sững lại như đang bị một tác động nào đó.
“Vì sao lại không tiếp tục?” tôi hỏi. Bà ấy lắc đầu, và quay trở lại, ngồi vào chỗ cũ. Rồi, nhìn tôi với đôi mắt mở to, nhưng một người vừa thức dậy sau khi ngủ, bà nói một cách đơn giản, “Tôi không thể!” và trở lại im lặng. Tôi vui mừng, vì tôi biết rằng bà ấy không thể, không thể làm những điều mà chúng tôi đều kinh sợ.
Điều đó có thể nguy hiểm cho thân xác bà ấy, nhưng tâm hồn bà ấy được an toàn.
Sau đó lũ ngựa bắt đầu rên lên, và giật mạnh những sợi dây buộc cho đến khi tôi đếnn bên chúng và làm chúng im lặng. Khi chúng cảm thấy tay tôi đặt trên chúng, chúng hí trầm trầm trong sự vui mừng, liếm tay tôi và im lặng một thoáng. Nhiều lần như vậy trong đêm tôi đến bên chúng, cho đến cái giờ phút lạnh lẽo và mà cả thiên nhiên đều nghỉ ngơi, vào cái lúc bước chân của tôi cũng trở nên yên lặng trong chúng. Trong cái giờ lạnh lẽo khi ngọn lửa sắp tàn, và tôi đi về phía nó và khơi lại, vì lúc này tuyết đã rơi dày và một đám sương lạnh lẽo.
Thậm chí trong đêm vẩn lấp lánh ánh sáng, vì khắp nơi chỉ toàn là tuyết, và có vẻ như là những bông hoa tuyết và những luồng sương đang đọng thành hình những người phụ nữ với những vệt quần áo bên ngoài. Tất cả sự im lặng chết chóc và u ám này càng chỉ khiến lũ ngựa run rẩy và rên rỉ, nhưng thể đang khiếp sợ cùng cực. Tôi cũng bắt đầu sợ, một nỗi sợ kinh dị. Nhưng trong tôi cũng đang dâng lên một cảm giác an toàn từ cái vòng vây quanh nơi tôi đang đứng. Tôi cũng bắt đầu nghĩ rằng đó là sự tưởng tượng của mình trong đêm đen, trong sự u mê, trong sự thiếu nghỉ ngơi mà tôi đã trải qua, và tất cả những sự lo âu khủng khiếp.
Giống như những ký ức khủng khiếp mà Jonahtan trải qua đang hiện lại trước tâm tưởng tôi. Lúc này những bông tuyết và màn sương bắt đầu cuộn lại và vây tròn đến mức tôi có thể nhận ra hình bóng lờ mờ của những người phụ nữ đã muốn hôn anh ta. Và lũ ngựa càng lúc càng sợ hơn, chúng rên lên khủng khiếp như những con người đang bị thương. Thậm chí một cơn sợ hãi khùng điên đang trùm lên chúng, khiến chúng có thể vùng trốn ra. Tôi lo sợ cho bà Mina thân yêu khi những hình bóng man dại kia đang càng lúc càng gần và lượn vòng. Tôi nhìn bà ấy, nhưng bà ấy vẩn ngồi bình thản, mỉm cười với tôi. Khi tôi bước về phía đống lửa để khơi lại chúng, bà ấy nắm lấy tôi và giữ tôi lại, rồi thì thầm, với cái giọng giống như một người đang nói mơ, trầm lắng như thế.
“Không! Không! Đừng đi bất kỳ đâu. Ở đây ông sẽ an toàn!”
Tôi quay lại phía bà ấy, nhìn vào trong mắt bà ấy và nói, “Nhưng còn bà? Chính là tôi đang sợ cho bà!”
Câu này làm bà ta phá lên cười, một tiếng cười trầm và phi thực, rồi nói, “Sợ cho tôi! Vì sao lại sợ cho tôi? Không nơi đâu an toàn hơn trên thế giới này đối với chúng hơn tôi lúc này,” và khi tôi còn đang tư hỏi về ý nghĩa của những lời nói của bày ấy, một cơn gió thổi đến làm ngọn lửa bùng lên, và tôi có thể thấy vết sẹo đỏ trên trán bà. Và than ôi! Tôi biết rồi. Tôi đã không, không biết được sớm để cho những hình bóng lượn vòng kia của sương và tuyết đến gần hơn, chỉ còn bị giữ lại bởi vòng tròn Linh Thiêng. Và chúng đang bắt đầu hiện hiện, nếu như Chúa không lấy đi lý trí của tôi, vì tôi thấy điều đó bằng chính mắt mình.
Đang hiện ra trước mắt tôi bằng da bằng thịt ba người phụ nữ mà Jonathan đã nhìn thấy trong căn phòng kia, khi chúng muốn hôn lên cổ họng anh ta. Tôi biết thế lực của những hình dáng đang lắc lư, của đôi mắt sáng cứng lên, của hàm răng trắng, của những sắc màu hồng hào, của những đôi môi khoái lạc kia. Chúng mỉm cười với bà Mina tội nghiệp thân yêu. Và khi tiếng cười của chúng xuyên qua sự im lặng của bóng đêm, chúng chắp tay lại chỉ về phía bà ấy, và nói bằng một giọng nói dịu dàng với âm sắc náo nức mà Jonathan đã nói là sự dịu ngọt quá đáng của tiếng gương vỡ vụn, “Đến đây nào, em yêu. Đến với các chị nào. Đến đây đi em.”
Tôi sợ hãi quay sang bà Mina tội nghiệp của tôi, và tim tôi bừng lên một niềm vui như một ngọn lửa hồng. Vì ôi, sự kinh sợ đang hiện ra trong đôi mắt bà ấy, sự ghê tởm, sự kinh khiếp, để khiến cho tim tôi lại ngập tràn hy vọng. Tạ ơn Chúa vì bà ấy vẩn chưa thuộc về chúng. Tôi với lấy một số que củi vẩn còn bên tôi, và để lên một ít Bánh Thánh, đưa nó hướng về ngọn lửa. Bọn chúng lùi dần trước mặt tôi, và vẩn cất lên tiếng cười trầm lắng kinh dị của chúng. Tôi khơi lại lửa, và không sợ chúng nữa. Vì tôi biết rằng chúng tôi an toàn trong cái vòng ấy, bà ấy không thể đi ra cũng như chúng không thể vào. Những con ngựa đã chấm dứt rên rỉ, và vẩn nằm trên nền đất. Tuyết đã nhẹ nhàng rơi đầy trên chúng, và trông chúng còn trắng hơn nữa. Tôi biết rằng những con thú tội nghiệp ấy không thể sợ hãi hơn được nữa.
Và chúng tôi vẩn để cho lửa đỏ như thế cho đến khi bình minh bắt đầu rọi ánh sáng xuống màn tuyết ảm đạm. Tôi buồn rầu và sợ hãi, lòng tràn ngập những điều buồn đau và kinh khiếp. Nhưng khi mặt trời xinh đẹp bắt đầu vươn lên trên đường chân trời, cuộc sống như trở lại với tôi. Việc đầu tiên khi bình minh xuất hiện là những hình bóng ấy tan ra thành sương và tuyết. Những vệt chuyển hoá mờ ảo ấy chuyển đi hướng về phía lâu đài, và biến mất.
Theo bản năng, khi bình minh đến, tôi quay về phía bà Mina, định thôi miên bà ấy. Nhưng bà nằm vật ra và ngủ thiếp đi bất thình lình, tôi không thể đánh thức được. Tôi cố thôi miên bà ấy dù bà đang ngủ, nhunưg bà ấy không đáp trả, hoàn toàn không,và ánh sáng ban ngày đã đập tan mọi nỗ lực. Tôi vẩn sợ chưa dám làm động. Tôi đốt lửa và trông sang lũ ngựa, tất cả chúng đã chết sạch. Hôm nay tôi có nhiều chuyện phải làm ở đây, tôi phải đợi cho mặt trời lên cao đã. Có nhiều chỗ tôi phải đi, nơi mà ánh mặt trời xuyên qua sự che phủ của sương và tuyết để mang đến cho tôi sự an toàn.
Tôi sẽ lo cho sức khoẻ của mình trước với bữa sáng, và rồi tôi sẽ tiến hành công việc kinh khủng của mình.
Bà Mina vẩn ngủ, và cám ơn Chúa! Bà ấy vẩn bình lặng cùng giấc ngủ…
NHẬT KÝ CỦA JONATHAN HARKER
Ngày 4 tháng Mười Một, buổi chiều tối – Tai nạn xảy ra với con tàu là một chuyện thật tồi tệ đối với chúng tôi. Nếu không có nó thì chúng tôi đã đưa thuyền đi một quãng xa và bây giờ Mina thân yêu đã được tự do. Tôi sợ để nghĩ về nàng, đang chập chờn gần bên vùng đất kinh khiếp ấy. Chúng tôi có ngựa, và chúng tôi lần theo dấu vết. Tôi chú ý trong lúc đó Godalming đã sẳn sàng. Chúng tôi đã có vũ trang. Bọn Sznagy phải con chừng nếu chúng muốn giao tranh. Ôi, phải chi có Morris và Seward ở đây với chúng tôi. Chúng tôi phải giữ hy vọng! Nếu tôi không còn dịp để viết nữa thì xin Tạm biệt Mina! Chúa sẽ ban phúc và gìn giữ cho em.
NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD
Ngày 5 tháng Mười Một. – Khi bình minh chúng tôi nhìn thấy một toán người Sznagy phía trước chúng tôi, đang lướt nhanh dọc theo con sông với một chuyến xe hàng. Họ bao quanh nó thành một toán, và lướt nhanh dù đang bị bao vây. Tuyết vẩn rơi nhẹ nhàng và có một chuyển biến lạ trong không khí. Có thể đó chỉ là cảm giác của riêng chúng tôi, nhưng tình trạng trì trệ này rất lạ. Từ đằng xa tôi nghe thấy tiếng sói. Tuyết mang nó đi vẳng khắp các ngọn núi, và có vẻ như nguy hiểm đang đến với tất cả chúng tôi, từ tất cả mọi hướng. Ngựa đã gần như sẳn sàng, và chúng tôi sẽ đi sớm. chúng tôi đang lao đến với cái chết đang dành sẳn cho ai đó. Chỉ có Chúa mới biết đó là ai, ở đâu, bởi cái gì, khi nào, và nó diễn ra như thế nào…
BẲN GHI CỦA BÁC SĨ VAN HELSING
Ngày 5 tháng Mười Một, buổi chiều. – Ít nhất tôi vẩn còn tỉnh. Cám ơn Chúa đã ban phúc cho tất cả mọi chuyện, dù chúng có tác dụng khủng khiếp. Khi tôi để bà Mina nằm ngủ trong vòng tròn Linh Thiêng, tôi lên đường tiến về lâu đài. Cây búa thợ rèn mà tôi đã mang đi trong chuyến xe từ Veresti sẽ hữu dụng, dù cho tất cả các cánh cửa đều đã mở toang tôi cũng sẽ đập nó thành bụi, bởi vì khi bước vào tôi có thể sẽ không đi ra nữa. Những kinh nghiệm cay đắng của Jonathan có thể có ích cho tôi ở đây.
Trong những điều được ghi lại trong nhật ký cuỷa anh ấy, tôi có thể tìm thấy con đường dẩn đến nhà thờ cổ, tôi biết rằng công việc của tôi nằm ở đấy. Không khí rất ngột ngạt. Nó giống như một làn hơi lưu huỳnh, làm cho tôi đôi lúc cảm thấy choáng váng. Vẳng đến bên tai tôi tiếng gầm gừ và tôi e rằng từ đằng xa có tiếng sói tru. Đoạn tôi nhớ ra bà Mina, và tôi thấy mình đang ở trong một tình thế khó khăn. Tôi rơi vào một trạng thái tiến thoái lưỡng nan.
Tôi không dám mang bà ấy vào trong này, mà để nàng nằm an toàn nằm an toàn khỏi lũ Ma cà rồng trong vòng tròn Linh Thiêng. Nhưng ở đấy thậm chí còn có sói dữ nữa. Tôi biết rằng công việc của mình đang nằm ở đấy, và ở đấy là lũ sói mà chúng tôi phải qui phục, nếu như đó là ý Chúa. Dù gì đi nữa chỉ có cái chết và tự do đằng sau. Và tôi phải lựa cho bà ấy. Nếu như chỉ là cho riêng tôi thì sự lựa chọn sẽ dễ dàng, dạ dày của lũ sói thì hẳn sẽ nơi yên nghỉ tốt hơn nấm mộ của Ma cà rồng. Vì vậy tôi quyết định sẽ tiếp tục công việc.
Tôi biết rằng ít nhất có ba ngôi mộ để tìm kiếm, những ngôi mộ còn sống. Và tôi lùng sục, lùng sục, lùng sục và tôi tìm thấy một cái trong số chúng. Nàng ta nằm đó, trong giấc ngủ của Ma cà rồng, tràn đầy sự sống và vẻ đẹp hoan lạc đến nỗi tôi rùng mình khi nghĩ rằng có thể tôi đang phạm tội sát nhân. A, tôi nghi ngờ không biết trong những thời gian cổ xưa, khi mà công việc diễn ra như thế này, đã có nhiều lần người đàn ông đứng trước một nhiệm vụ dành cho mình, để rồi cuối cùng anh ta thất bại trước cảm xúc con tim, trước thần kinh cảm nhận của chính mình.
Và anh ta ngừng lại, ngừng lại, ngừng lại, đến lúc mà chỉ đơn thuần là vẻ đẹp và sự quyến rủ dâm đãng của kẻ Chưa Chết kia thôi miên lại anh ta. Và anh ta tiếp tục, cho đến khi hoàng hôn buông phủ, và giấc ngủ Ma cà rồng chấm dứt. Rồi đôi mắt xinh đẹp của người phụ nữ yêu kiều kia bừng mở và nhìn chan chứa yêu thương, và đôi môi hoan lạc kia mang đến một nụ hôn, và con người quỵ ngã. Và lại thêm một nạn nhân nữa của giới Ma cà rồng. Và hàng ngũ rùng rợn và tàn nhẫn của bọn Chưa Chết lại có thêm một nhân vật nữa.
Hẳn nhiên là có một sự quyến rũ, khi tôi bước đến chỉ bởi sự hiện hữu của cảm xúc này, thậm chí là khi nàng ta đang nằm trong một ngôi mộ bị sự gậm nhấm của năm tháng và bị phủ nặng bởi những lớp bụi của hàng thế kỷ, dù rằng cái hương vị kinh khiếp đặc trưng ở những nơi hang ổ của bá tước vẩn còn vương vấn. Vâng, tôi đã bước đến. Tôi, Van Helsing, với tất cả mục đích và với động cơ để căm ghét.
Tôi bước đến với sự ao ước được ngừng lại, dường như nó làm cho năng lực của tôi bị tê liệt và linh hồn của tôi như nghẽn lối. Nó có thể là do sự cần thiết của một giấc ngủ tự nhiên, và sự ngột ngạt kỳ lạ của không khí đã bắt đầu tràn ngập tôi. Chắc chắn rằng tôi đang rơi vào trạng thái ngủ, với đôi mắt đang ngủ mở rộng của kẻ đang tuân theo một sự quyến rũ dịu dàng, thì xuyên qua màn tuyết vẩn đang rơi dài trong không khí, vẳng lên một tiếng khóc trầm lắng, tràn ngập đau khổ và trắc ẩn nó đánh thức tôi như tiếng kèn lanh lảnh. Tôi đã nghe được đó là giọng của bà Mina thân yêu.
Và tôi lại gắng hết sức mình trong cái nhiệm vụ kinh khủng, và với một cái vặn mạnh văng nắm mộ đi tôi lại tìm thấy một kẻ khác trong số chị em của nàng, một kẻ tăm tối khác. Tôi không dám ngừng lại để nhìn nàng như tôi đã làm với chị em của nàg, để tôi không bị một lần nữa mê mệt. Nhưng liền sau đó tôi lại tiếp tục tìm kiếm đến khi tôi thấy một ngôi mộ ngất cao như thể nó được làm để dành cho con người được yêu thương nhiều nhất bởi những người chị em xinh đẹp khác, giống như Honathan tôi đã thấy khi nàng được tạo ra bởi những hạt bụi. Nàng nhìn thật là đẹp, một vẻ đẹp thật hồng hào, một vẻ hoan lạc thật trang nhã, nó làm cho bản năng đàn ông của tôi sống dậy trong tôi, làm cho tim tôi rộn ràng với một cảm xúc mới mẻ.
Nhưng tạ ơn Chúa, rằng tiếng khóc tâm hồn của bà Mina thân yêu vẩn không mất đi trong tai tôi. Và trước khi sự phù phép kia có thể tác động hơn nữa vào tôi, tôi đã tự trấn tĩnh để tiến hành công việc man dại của mình. Vào lúc này tôi tiếp tục tìm kiếm tất cả các ngôi mộ trong nhà thờ, như tôi có thể nói. Và để đề phòng rằng sẽ có một bóng ma Chưa Chết nào đó sẽ lởn vởn quanh tôi trong đêm, tôi đã kiểm tra để chắc chắn rằng không còn một kẻ Chưa Chết nào tồn tại. Có một ngôi mộ lớn nhìn tráng lệ hơn tất cả. Nó thật ra là vĩ đại, và nhìn thật quý phái. Trên đó chỉ có một từ.
DRACULA
Như vậy kẻ Chưa Chết này chính là Ma Cà Rồng Vua, và tất cả phải tuân theo hắn. Cái quan tài trống rỗng càng nói hùng hồn hơn, làm chắc chắn hơn cái mà tôi đã biết. Trước khi tôi bắt đầu phục hồi những người phụ nữ kia về những cái chết nguyên thủ của họ, tôi đã rắc vào ngôi mộ của Dracula một ít Bánh Thánh, để trục xuất nó mãi mãi khỏi ông ta, cái gọi là sự Chưa Chết kia.
Bây giờ thì bắt đầu nhiệm vụ kinh hãi của tôi, và tôi sợ khiếp nó. Để so sánh, tôi đã làm với chỉ một. Nhưng lần này thì ba! Để bắt đầu với lần thứ hai sau cái lần tôi đã làm một công việc đầy kinh dị. Lần đó là một công việc khủng khiếp với cô Lucy, đó không phải là một kẻ xa lạ đã sống sót qua hàng thế kỷ, kẻ có sức mạnh để vượt qua năm tháng. Những kẻ đó sẽ, nếu có thể, lùng tìm cho cuộc sống nhơ nhuốc của họ…
Ôi, bạn John ơi, nhưng đây là một công việc đồ tể. Tôi chưa bao giờ bị dao động tâm thần bởi một người chết nào, và sự sống đang phủ lên một tấm màn sợ hãi như vậy thì tôi không thể tiếp tục. Tôi run rẩy và thậm chí run lật bật đến khi mà tất cả đều qua, cám ơn Chúa, thần kinh tôi phục hồi trở lại. Nếu như tôi không thấy được sự yên nghỉ có ở cái nơi đầu tiên tôi làm chuyện này, khi thấy niềm vui đã bị lấy trộm đi trước khi cái chết tận cùng quay lại, khi nhận ra rằng linh hồn đã chiến thắng, tôi có thể sẽ không thể tiến hành tiếp công việc đồ tể của mình. Tôi có thể đã không chịu được được tiếng rít kinh khiếp khi mà cây cọc xuyên vào cơ thể, đâm thọc vào những cơ thể quằn quại và những đôi môi sủi máu. Tôi tưởng chừng đã bỏ chạy trong kinh sợ và để lại những công việc đang làm dở dang.
Nhưng tất cả đã xong! Và những tâmhồn tội nghiệp kia, tôi bây giờ đã có thể thương khóc cho họ, khi tôi nghĩ rằng mỗi người trong số họ đã có trong mình một giấc ngủ hoàn toàn bình yên trong cõi chết một khoảnh khắc ngắn ngủi trước khi tan biến đi. Vì, bạn John ạ, khi con dao lạnh lùng cứng rắn của tôi cắt đầu của mỗi người ra, thì trước tiên toàn bộ cơ thể bắt đầu tan biến đi và tan thành những lớp bụi tự nhiên, giống như cái chết đáng lý phải đến từ hàng thế kỷ trước cuối cùng cũng quay lại xác nhận chính mình và ngay lập tức kêu lớn lên, “Ta ở đây!”
Trước khi rời lâu đài tôi tôi khoá chặt các lối vào để bá tước không bao giờ có thể đi vào khu vực Chưa Chết này.
Khi tôi đi vào trong vòng tròn nơi bà Mina đang ngủ, bà thức giấc và nhìn tôi, bộc lộ một nỗi niềm đau khổ mà tôi phải trải lòng chịu đựng.
“Đi!” bà ấy nói, “hãy đi khỏi nơi khủng khiếp này! Chúng ta hãy đi gặp chồng tôi, tôi biết anh ấy đang đi về phía chúng ta.” Bà ấy nhìn thật gầy gò, xanh xao và ốm yếu. Nhưng đôi mắt bà ấy thật trong sáng và lấp lánh sự nhiệt tình. Tôi rất vui khi thấy vẻ xanh xao và bệnh tật của bà, vì trong tâm tưởng của tôi đang tràn ngập sự tươi trẻ kinh khiếp trong giấc ngủ khoẻ mạnh của ma cà rồng.
Và với sự thật và hy vọng như vậy, với nỗi sợ hãi tràn ngập, chúng tôi đi về phía đông để gặp các bạn của chúng tôi, để gặp anh ta, người mà bà Mina nói với tôi rằng bà ấy biết đang đến gặp chúng tôi.
NHẬT KÝ CỦA MINA HARKER
Ngày 6 tháng Mười Một. – Trưa nay đã khá trễ khi giáo sư và tôi lên đường đi về phía đông nơi mà tôi biết Jonathan đang đến. Chúng tôi không đi nhanh lắm, dù con đường dẩn xuống tạo thành bậc, vì chúng tôi mang đầy những tấm thảm nặng và quấn quanh người. Chúng tôi không dám đối mặt với khả năng chẳng còn chút hơi ấm nào trong giá lạnh và trong tuyết trắng. Chúng tôi cũng phải mang theo một số đồ dự trữ, vì chúng tôi đang ở trong một nơi hoàn toàn tiêu điều, và từ đằng xa chúng tôi có thể màn tuyết rơi dày, thậm chí không hề có một dấu hiệu nào của sự cư trú.
Khi chúng tôi đi được khoảng một dặm, tôi cảm thấy mệt, bước đi nặng nhọc và ngồi xuống nghỉ ngơi. Đoạn chúng tôi nhìn lại vào nhìn thấy cái đường che phủ của lâu đài Dracula cắt ngang bầu trời. Có nghĩa là chúng tôi đã đi xuống khá sâu dưới đồi trên đó hiện ra góc độ phối cảnh của dãy Carpathians với vùng phong cảnh xa bên dưới. Chúng tôi thấy tất cả vẻ hùng vĩ của nó, từ trên cao hàng ngàn bộ trên đỉnh của những vách núi hầu như thẳng dốc, với sự cảm nhận về khoảng cách ghê gớm với những dốc đứng của những vách núi ở bất kỳ phía nào.
Có một cái gì đó hoang dã và huyền bí ở nơi này. Chúng tôi có thể nghe từ đằng xa tiếng sói tru. Chúng vẳng từ xa, nhưng vang vọng, thậm chí dù là nó đến với sự nghẹn lại khi đi qua những cơn tuyết đổ làm nhẹ đi, nó vẩn chứa đầy sự kinh khiếp. Tôi biết từ các cách bác sĩ Van Helsing đang xem xét khi ông ấy thử xác định một điểm chiến lược, để chúng tôi có thể bớt bị nguy hiểm trong trường hợp bị tấn công. Con đường trắc trở vẩn đang dẩn xuống. Chúng tôi lần theo nó qua làn tuyết rơi.
Trong một thoáng giáo sư ra dấu cho tôi, nên tôi đứng lên và bước tới ông. ông ấy tìm thấy được một chỗ tuyệt diệu, một cái hốc tự nhiên trong vách đá, với một lối vào giống như một cái cửa giữa hai tảng đá. Ông ấy nắm lấy tay tôi và dắt tôi vào.
“Nhìn xem!” ông ấy nói. “ở đây bà sẽ có được chỗ nương náu. Nếu nếu lũ sói đến tôi có thể tiếp chúng từng con một.”
Ông ấy mang áo lông thú của chúng tôi vào, và làm thành một cái tổ tránh gió cho tôi, mang những đồ dự trữ vào và để nó phía trên tôi. Nhưng tôi không thể ăn, dù thậm chí đã cố làm công việc đang khá là đáng gớm đối với tôi, càng nhiều càng tốt để làm làm hài lòng ông ấy, tôi cũng không thể tự mình cố gắng được. Ông ấy trông có vẻ rất buồn, nhưng không trách tôi. Lấy cái kính trường của ông ấy dành cho trường hợp này, ông ấy đứng trên đỉnh của vách đá, và bắt đầu tìm kiếm theo chiều dọc.
Thình lình ông ấy kêu lên, “Nhìn này! Bà Mina, nhìn! Nhìn kìa!”
Tôi nhảy lên và đứng sau ông ấy trên vách đá. Ông ấy đưa tôi cái kính của ông ấy và chỉ. Tuyết lúc này đã rơi nặng hơn, và rít lên lên hung tợn, vì những cơn gió lớn đang bắt đầu thổi. Tuy nhiên vào cái lúc có một khoảng ngừng giữa các bông tuyết tôi có thể thấy một con đường vòng khá dài. Từ trên cao nơi chúng tôi đứng có thể nhìn được ra một khoảng xa. Và từ đằng xa, đằng sau một khoảng trắng mênh mông những tuyết, tôi có thể thấy con sông nhìn giống như một dãi ruy băng đen, xoắn và cuộn lại theo đường uốn của nó. Thẳng ngay trước mặt chúng tôi và không xa lắm, thật sự là nó gần đến nỗi tôi tự hỏi là làm sao chúng tôi có thể không nhận thấy trước đó, là một toán người đang phi ngựa rất gấp.
Trong đám bụi mù của họ là một chiếc xe ngựa chở hàng dài mà họ phi tản quanh từ bên này sang bên kia, giống như chiếc đuôi của một con chó đang ve vẩy, mỗi người trong số họ có một vẻ chăm chú khác nhau trên đường. Nhìn qua đường nét của họ trên nền tuyết, tôi có thể thấy qua quần áo của những người đàn ông rằng họ là những người nông dân hoặc dân gypsy.
Trên chiếc xe để một chiếc rương vuông lớn. Tim tôi đập mạnh khi tôi thấy nó, vì tôi cảm thấy cái kết cục đang đến. Buổi chiều bây giờ đã xế dần, và tôi biết rõ đến lúc hoàng hôn thì cái Vật đến lúc này vẩn còn đang bị cầm tù trong đó sẽ có một sự tự do mới và có thể biến thành nhiều hình dạng để tránh sự săn đuổi. Tôi quay sang giáo sư trong sự sợ hãi. Tuy nhiên, trong sự kinh ngạc của trôi, ông ấy không còn ở đó nữa. Trong một thoáng sau đó, tôi thấy ông ấy đang ở sau lưng tôi. Vòng quanh vách đá ông ấy đang vẽ một vòng tròn, giống như chúng tôi đã làm một cái chỗ trú ẩn trong tối hôm qua.
Khi đã làm xong ông ấy đứng cạnh tôi và nói, “Ít ra thì bà cũng sẽ an toàn trong đây với hắn!” Ông ta lấy lại cái kính khỏi tôi, và chờ đến khoảng lặng tuyết tiếp theo, toàn bộ khoảng cách giữa bọn tôi được quét sạch. “Nhìn đi,” ông ấy nói, “họ đang đến rất nhanh. Họ đang giục ngựa và phi nước đại hết sức mình.”
Ông ấy ngừng lại và nói tiếp với một giọng trống rỗng, “Chúng đang chạy đua cùng hoànn hôn. Chúng ta có thể đã quá trễ. Chúa sẽ làm việc phải làm!” Sau đó là một trận mưa tuyết tuyết mịt mờ khác trút xuống, và toàn bộ phong cảnh trở nên nhạt nhoà. Tuy nhiên nó qua rất nhanh và chiếc kính của ông ấy lại hướng về đồng bằng một lần nữa.
Và lần này là một tiếng kêu thình lình cất lên, “Nhìn này! Nhìn này! Nhìn này! Xem kìa, có hai kỵ sĩ đang phóng theo rất nhanh, đang vượt tới từ hướng nam. Hẳn là Quincey và John. Cầm lấy kính đi. Hãy nhìn trước khi tuyết lại xoá đi tất cả!” Tôi cầm lấy kính và nhìn ra. Hai người đàn ông đó hẳn là bác sĩ Seward và ông Morris. Tôi biết tất cả các sự kiện của họ và Jonathan.
Và cùng lúc tôi biết rằng Jonathan không xa đây. Nhìn quanh tôi thấy từ hướng bắc đang đến một đội hai người khác, đang phóng đến với tốc độ điên cuồng. Tôi biết một trong số họ là Jonathan và người kia tất nhiên là huân tước Godalming. Họ cũng đang săn đuổi cái toán đang đi với cái xe bò kia. Khi tôi nói với giáo sư ông ấy la toáng lên vui sướng như một đứa trẻ, sau khi nhìn chăm chú cho đến khi cơn mưa tuyết làm cho mọi thứ trở nên không thể nhìn được nữa, ông ấy đặt đường rãnh khẩu Winchester sẳn sàng để dùng trên tảng đá tại lối ra nơi trú ẩn của chúng tôi.
“Họ đang đổ về một chỗ, “ông ta nói, “Đến lúc đó chúng ta sẽ thấy dân gypsy ở khắp mọi hướng.” Tôi rút khẩu súng lục ổ quay của tôi ra sẳn sàng, bởi vì trong khi chúng tôi đang nói chuyện tiếng nói tru càng lớn và càng gần hơn. Khi cơn bão tuyết dịu đi trong một thoáng chúng tôi nhìn lại. Thật là kỳ lạ khi thấy tuyết đang rơi ầm đẩy những bông tuyết nặng trĩu về phía chúng tôi, và đằng sau nó, ánh trời càng lúc càng sáng rực khi nó đang lặn dần về hướng đỉnh núi phía xa. Quét chiếc kính trọn vòng tôi có thể thấy thấp thoáng những cái chấm di chuyển đơn độc, rồi thành nhóm hai, ba và ở số lượng lớn hơn. Lũ sói đang tập trung lại cho nạn nhân của chúng.
Mỗi khoảnh khắc lúc này đều giống như hàng thế kỷ trong khi chúng tôi đang chờ đợi. Gió bây giờ thổi điên cuồng, và tuyết rơi trong thịnh nộ như đang quét quanh chúng tôi một vòng tròn xoáy. Lúc đó chúng tôi không thể thấy độ dài của cánh tay trước mặt mình. Nhưng mặt khác, khi những âm thanh trống rỗng của gió lướt quanh chúng tôi, có vẻ như nó đang dọn quang khoảng không gian chung quanh chúng tôi để chúng tôi có thể nhìn thấy ra xa.Chúng tôi gần đây đã quen với việc quan sát mọi chuyện lúc bình minh và hoàng hôn,vì chúng tôi biết chính xác nó sẽ diễn ra khi nào.
Và chúng tôi biết rằng mặt trời còn khá lâu mới lặn. Thật khó mà tin rằng chúng tôi đã quan sát ít hơn một giờ khi chúng tôi đợi trên vách đá trú ẩn trước khi các toán người khác nhau bắt đầu hội tụ về gần với chúng tôi.
Bây giờ gió thổi đến càng lúc càng gay gắt và quét lên những cơn rét buốt hơn, và càng thổi mạnh từ hướng bắc.Nó có vẻ như đang hướng những đám mây tuyết về phía chúng tôi, chỉ cần với một sự bùng nổ nào đó, tuyết sẽ đổ xuống. chúng tôi có thể phân biệt rõ ràng từng người trong nhóm, những kẻ bị săn đuổi và đang săn đuổi. Sự việc lạ lùng đến mức những kẻ bị săn đuổi có vẻ không nhận ra, hoặc ít nhất không quan tâm đến việc họ đang bị săn đuổi. Tuy nhiên họ có vẻ vội vã đang tăng gấp đôi tốc độ khi mặt trời càng lúc càng hạ thấp dần trên những đỉnh núi.
Họ càng lúc càng phóng đến gần hơn. Giáo sư và tôi cúi mình xuống phía sau những tảng đá của chúng tôi, đưa vũ khí ra và chờ đợi. Tôi có thể thấy là ông ấy đã quyết định sẽ không để cho họ qua. Chưa một ai biết được về sự có mặt của chúng tôi.
Ngay lúc đó có hai giọng nói thét to, “Dừng lại!” Một là của Jonathan của tôi, vẳng cao lên đặc tả sự xúc động của anh ấy. Giọng kia vang lên âm sắc cương quyết mạnh mẽ trong sự ra lệnh của ông Morrris. Bọn gypsy không biết ngôn ngữ của chúng tôi, nhưng không thể nhầm lẩn về âm điệu, bất kể cái lưỡi nào đang nói lên những từ ấy. Theo bản năng chúng kềm cương lại, và trong khoảnh khắc huân tước Godalming và Jonathan lướt đến từ một hướng, và bác sĩ Seward và ông Morris đến từ hướng kia. Thủ lĩnh của toán gypsy, một gã bảnh choẹ ngồi trên một con ngựa trông giống một con nhân mã, vẫy họ lui lạ với một giọng nói hung tợn ra lệnh cho các bạn đồng hành của hắn vài lời để tiếp tục công việc.
Chúng vung roi lên lũ ngựa để nhảy vọt tới. Nhưng bốn người đàn ông đã nâng cao nòng khẩu Winchester, theo một cách thức không thể lầm lẩn ra lệnh cho bọn họ dừng lại. Ngay trong khoảnh khắc đó bác sĩ Van Helsing và tôi đứng bật dậy ngay sau vách đá, chĩa vũ khí của tôi về phía chúng. Nhận thấy bị bao vây bọn kia càng siết chặt dây cương và lao lên. Tên cầm đầu quay về phía chúng và nói một tiếng khiến mỗi tên trong lũ gypsy kia đều rút thứ vũ khí mà chúng mang theo, dao hoặc súng ngắn và vung lên bộc lộ sự sẳn sàng tấn công. Kết quả sẽ đến trong khoảnh khắc.
Tên thủ lĩnh, với một động tác giật cương thật nhanh, tung ngựa về phía trước, vf chỉ về phía mặt trời, lúc này đã đã xuống gần đến đỉnh những ngọn đồi, và chỉ về phía lâu đài, nói điều gì đó mà tôi không hiểu. Để trả lời, cả bốn người đàn ông phía tôi đều cho ngựa phóng lên và lao về phía cái xe ngựa. Tôi cảm thấy sợ khiếp khi thấy Jonathan đang gặp nguy hiểm như vậy nhưng máu nóng của chiến trận đã bốc lên đầu toi cũng như những người còn lại. Tôi cảm thấy không còn sợ gì nữa, mà chỉ là một sự cuồng dại, tràn lên mong muốn làm gì đó. Thấy sự chuyển động rất nhanh của phe chúng tôi, tên thủ lĩnh của toán gypsy ra một mệnh lện. Người của hắn ngay tức khắc dàn đội hình quanh chiếc xe ngựa trong một nỗ lực vô kỷ luật, mỗi tên trong đám xô lấn chen đẩy lẩn nhau trong sự hăm hở thực thi mệnh lệnh của chúng.
Trong cái đám mù mịt đó tôi có thể thấy Jonathan từ một hướng trong đám rừng người đó, và Quincey từ một hướng khác, đang nỗ lực mở một đường máu về phía chiếc xe ngựa. Rõ ràng là họ đang nỗ lực kế thúc công việc của họ trước khi mặt trời lặn. không gì có thể ngăn cản hay thậm chí gây trở ngại cho họ. Không một thứ vũ khí nhắm bắn hay đường dao nào của bọn gypsy trước mặt hoặc tiếng sói tru ở phía sau có thể làm xao lãng sự tập trung của họ. Sự hăng hái của Jonathan, và mục đích duy nhất hiển nhiên của anh có vẻ làm cho tất cả bọn phía trước đều kính nể. Theo bản năng chúng hèn nhát dang ra một bên và để anh vượt qua. Trong khoảnh khắc anh ấy nhảy lên chiếc xe ngựa, với một sức mạnh gần như không thể tin được, nhấc cái hộp khổng lồ lên, và ném nó ra khỏi xe văng lên đất. Trong cùng lúc đó, ông Morris phải dùng sức mạnh để vượt qua đám người Szgany ở phía ông ấy.
Trong lúc mà tôi gần như nín thở theo dõi Jonathan, tôi cũng thấy, trong một thoáng ở đuôi măt,sự nỗ lực tuyệt vọng liều lĩnh của ông ấy để tiến lên, và thấy lưỡi dao của những tên gypsy loáng lên khi ông ấy đã mở được một con đường trong số họ, và chúng chém xả vào người ông. Ông ấy đỡ gạt với một cái mác khổng lồ, và thoạt tiên tôi nghĩ ông ấy cũng vượt qua được một cách an toàn. Nhưng khi ông ấy nhảy đến bên Jonathan, lúc này anh ấy đã nhảy xuống từ chiếc xe, tôi thấy từ bên tay trái của ông ấy đang giữ chặt bên sườn, máu đang phun ra qua những ngón tay của ông ấy. Ông ấy chẳng hề ngừng lại hay quan tâm gì đến điều đó, vì lúc này, Jonathan,với một nỗ lực tuyệt vọng, đang phá vào một đầu của cái rương, cố nậy nó lên bằng thanh đao Kukri khổng lồ của anh ấy, ông ấy liền hăng hái tham gia vào với cái mác của ông. Dưới sự nỗ lực của hai người đàn ông, chiếc nắp đã phải chịu thua. Cái khoen bật lên với một tiếng rít, và phần trên của cái hộp bị ném bật ra đằng sau.
Lúc này bọn gypsy, tháy chúng đang bị bao phủ với những khẩu Winchester, dưới quyền của huân tước Godalming và bác sĩ Seward, đã dừng lại và thôi không chống cự nữa. Mặt trời đã gần như lặn xuống sau đỉnh núi, và bóng tối đang phủ lên toàn bộ nhóm người đang đứng trên tuyết. Tôi thấy bá tước đang nằm trong hộp, trên những lớp đất, và một số thứ rơi xuống từ chiếc xe đang phủ trên hắn. Hắn nhợt nhạt chết chóc, giống như một hình nhân bằng sáp, và đôi mắt đỏ đang bừng lên một cái nhìn hận thù kinh dị mà tôi đã từng biết.
Theo cái nhìn của tôi, đôi mắt ấy đang nhìn về phía mặt trời lặn, và sự căm ghét trong chúng đang chuyển sang cảm giác chiến thắng.
Nhưng, ngay trong khoảnh khắc ấy, thanh đao khổng lồ của Jonathan quét đến như một tia chớp.Tôi kêu bật lên khi tôi thấy nó cắt ngang cổ họng của hắn. Và trong cùng lúc đó, cây mác của ông Morris đã cắm thẳng vào tim hắn.
Chuyện này giống như một điều huyền diệu, nhưng ngay trước mắt của chúng tôi, gần như chỉ trong một hơi thở, toàn bộ cả thân hình kia tan ra thành bụi và biến khỏi tầm nhìn của chúng tôi.
Tôi sẽ còn mãi cái cảm giác vui mừng khi mà tôi còn sống thậm chí trong cái khoảnh khắc cuối cùng trước cái chết, cái cảm giác được đối mặt với sự an bình, cái mà tôi không bao giờ có thể tưởng tượng được là có thể có ở đây.
Lâu đài Dracula bâu giờ đứng xa nổi trên bầu trời đỏ rực, và mỗi viên đá của trên bức những bức tường vỡ nát với những lỗ châu mai đang nối liền với những tia sáng của mặt trời đang lặn dần.
Bọn gypsy, từ mọi hướng quanh tôi, trước sự biến mất phi thường của người chết, đã quay đi, không nói một lời, và phóng vụt đi như thể nó là lẽ sống của chúng. Bọn khác nhảy xuống từ chiếc xe ngựa và kêu bọn phi ngựa kia đừng bỏ rơi chúng. Lũ chó sói, đã tản ra ở một khoảng cách an toàn, đi theo chân chúng, để chúng tôi ở lại một mình.
Ông Morris, đang nằm trên mặt đấy, trườn người trên khuỷu tay, giữ một tay ông bên sườn, Máu vẩn trào ra qua những ngón tay của ông. Tôi lao vột đến bên ông ấy, vì cái vòng tròn Linh Thiêng không còn giữ tôi lại nữa, và hai người bác sĩ cũng làm như vậy. Jonathan quỳ cạnh ông ta và người bị thương ngã đầu vào vai anh. Với một cái thở dài ông ấy nắm lấy tay tôi trong bàn tay thanh cao của ông ấy, trong một nỗ lực yếu ớt.
Ông ấy hẳn là đã thấy nỗi đau đớn trong tim tôi lộ rõ trên mặt, nên ông ấy mỉm cười với tôi và nói, “Tôi cũng rất mừng là đã làm xong việc! Ôi. Chúa ôi!” ông ấy thình lình kêu lên, cố gắng để ngồi dậy và chỉ vào tôi. “Đó là cái giá của cái chết! Nhìn này! Nhìn này!”
Mặt trời lúc này vừa lặn xuống sau đỉnh núi, và xuống sáng đỏ của nó chiếy thẳng vào mặt tôi, làm cho nó như được tắm trong một vầng sáng hồng. Với một sự thôi thúc, những người đàn ông quỳ gối xuống, kêu lên sâu lắng và nhiệt tình “Amen” vỡ ra từ trong những đôi mắt của họ khi nhìn theo ngón tay của ông ấy.
Người sắp chết nói, “Nào, bây giờ thì tạ ơn Chúa rằng tất cả đã không đến nỗi vô hiệu! Nhìn xem! Tuyết cũng không thể nào trắng trong hơn vầng trán của nàng! Lời nguyền đã bị xoá bỏ!”
Và, trước sự đau đớn vò xé của chúng tôi, với một nụ cười và trong im lặng, ông ấy chết, người đàn ông quý phái hào hiệp.
GHI CHÚ
Bảy năm trước tất cả chúng tôi đã vượt xuyên qua lửa. Và hạnh phúc một số chúng tôi cũng là, chúng tôi nghĩ rằng, cũng là một cái giá tốt cho những đau thương mà chúng tôi phải chịu. Thêm vào đó một niềm vui cho Mina và tôi rằng ngày sinh nhật của con trai chúng tôi chính là cái ngày Quincey Morris chết. Tôi biết rằng mẹ nó vẩn luôn giữ một niềm tin bí mật rằng rằng cái tinh thần dũng cảm của nhóm bạn bè chúng tôi đã truyền vào cho nó. Cái chuỗi tên của nó liên kết tất cả bọn đàn ông chúng tôi lại với nhau. Nhưng chúng tôi gọi nó là Quincey.
Trong mùa hè năm nay chúng tôi làm một chuyến du lịch về Transylvania, và đi qua vùng đất cũ mà ở đó tràn đầy những kỷ ức sinh động và khủng khiếp cho chúng tôi. Gần như không thể tin được rằng những cái mà chúng tôi thấy bằng mắt mình và nghe bằng tai mình lại là những sự thật sống động. Tất cả mọi dấu vết giờ đã nhạt nhoà. Toà lâu đài vẩn đứng như trước, khuất sau trên khung cảnh hoang tàn rộng lớn.
Khi chúng tôi về nhà chúng tôi lại nói về những ngày tháng cũ, khi mà chúng tôi đã có thể nhìn lại mà chẳng còn tuyệt vọng, vì cả hai Godalming và Seward đều đã có gia đình hạnh phúc. Tôi để những giấy tờ ở một nơi an toàn ở cái nơi mà chúng tôi đã để nó sau cuộc trở về xa xôi ngày xưa. Chúng tôi điểm lại xác sự kiện, và tất cả khối tư liệu được ghi lại đã được biên soạn lại, để trở thành một tài liệu xác thực cao.
Không có gì trong khối văn bản đánh máy, ngoài trừ sổ tay sau này của Minam, Seward và tôi, và những bản ghi của Van Helsing. Chúng tôi có thể sẽ khó khăn khi yêu cầu một ai, thậm chí chúng tôi đã mong ước như vậy, chấp nhập những điều đã được chứng thực trong câu chuyện man dại này. Van Helsing đã tổng kết tất cả khi ông ấy nói, với cậu con trai của chúng tôi bên đầu gối ông.
“Chúng ta không cần chứng minh. Chúng ta không yêu cầu ai tin chúng ta! Thằng bé này một ngày nào đó sẽ biết rằng mẹ nó là một người phụ nữ dũng cảm và hào hiệp như thế nào. Nó đã biết sự dịu dàng và sự chăm chút yêu đường của mẹ nó rồi đó. Sau này nó sẽ sẽ hiểu đã có những người đàn ông đã yêu thương bà ấy đến nỗi họ đã dám làm nhiều chuyện vì những điều tốt đẹp cho bà.
JONATHAN HARKER

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: