Những Ngày Hạnh Phúc (Chương 2)

Những Ngày Hạnh Phúc

Laura Ingalls Wilder
CHƯƠNG 2 
NGÀY ĐẦU DẠY HỌC
Laura nghe tiếng lửa reo trong lò bếp. Trong một thoáng cô ngỡ mình nằm trên giường với Mary và Bố đang nhóm lửa vào buổi sáng. Rồi cô nhìn thấy những tấm màn vải và biết mình đang ở đâu và biết rằng sáng hôm nay cô phải bắt đầu dạy học.
Cô nghe thấy tiếng ông Brewster nhấc chiếc thùng sữa xuống và tiếng cánh cửa sập lại sau lưng ông. Phía bên kia tấm màn che, bà Brewster đã ra khỏi giường. Laura không cục cựa, cảm thấy nếu cô nằm im lìm, cô có thể ngăn không cho ngày tới.
Ông Brewster đã mang sữa về và cô nghe thấy ông nói:
– Tôi phải đi nhóm lửa ở trường học. Tôi sẽ về đúng giờ ăn sáng.
Cánh cửa lại sập lại sau lưng ông.
Lập tức, Laura gạt đống mền ra. Trời lạnh như cắt. Răng cô va vào nhau lách cách và mấy ngón tay cứng ngắc đến nỗi cô không thể đóng nổi nút giầy.
Nhà bếp không lạnh lắm. Bà Brewster đã đập băng trong thùng nước, đang đổ đầy ấm trà và đáp lại lời chào buổi sáng của Laura một cách dễ chịu. Laura đổ đầy nước vào trong thau và rửa mặt và tay ở chiếc ghế dài bên cạnh cửa ra vào. Nước giá băng khiến má cô nhói buốt và mặt cô như sưng đỏ trong chiếc gương soi phía trên chiếc ghế dài khi cô đứng chải tóc.
Những khoanh thịt heo ướp muối đang được chiên và bà Brewster đang xắt những khoanh khoai tây đã luộc chin để nguội trong một chiếc chảo khác trên lò. Johnny làm ầm ĩ trong phòng ngủ và Laura vội vã kẹp tóc, buộc tạp dề, nói:
– Để tôi lo món khoai trong lúc bà mặc quần áo cho cậu bé.
Thế là trong lúc bà Brewster mang Johnny vào trong bếp lo cho nó sẵn sàng ăn sáng, Laura làm xong việc xắt khoai, ướp muối cùng gia vị lên. Rồi cô đảo những khoanh thịt và bày bàn ăn gọn gàng. Cô nói:
– Tôi mừng là Mẹ tôi đã nhắc mang theo chiếc tạp dề lớn này. Tôi thích một chiếc tạp dề thật lớn có thể phủ kín hết quần áo như của bà, bà có thấy thế không?
Bà Brewster không trả lời. Lúc này lò bếp đỏ rực khiến toàn bộ căn phòng rất ấm nhưng cũng rất u ám. Không một lời nói ngắn ngủi, cần thiết nào được trao đổi bên bàn ăn.
Laura như trút được gánh nặng khi khoác áo choàng, cầm lấy sách vở và chiếc xô thiếc đựng bữa ăn trưa bước ra khỏi nhà. Cô băng qua đoạn đường dài nửa dặm dưới trời tuyết để tới trường. Con đường chỉ có dấu chân của ông Brewster với những bước thật dài so với bước chân của Laura.
Khi loạng choạng dấn bước vào những đám tuyết dầy, cô bỗng bật cười lớn tiếng. Cô nghĩ:
– Tốt! Mình đã ở đây. Mình khiếp sợ bước tới nhưng mình không quay lui được. Dạy học không thể nào tệ hơn ở lại căn nhà đó với bà Brewster. Bằng mọi cách, không thể nào tệ hơn thế.
Rồi cô lại kinh hãi thấy mình nói lớn quá:
– Mình sẽ phải cố gắng.
Một làn khói than đen mềm mại bốc lên bầu trời buổi sáng từ chiếc ống khói của căn lều trại cũ. Thêm hai hàng dấu chân dẫn tới trước cửa căn nhà và Laura nghe thấy bên trong có tiếng nói. Trong một thoáng, cô gom hết can đảm và đẩy cửa bước vào.
Những vách ván không được bít kỹ. Những vệt nắng chiếu xuyên qua các kẽ hở in lên một hàng ghế và bàn viết tự đóng đặt ở giữa phòng. Phía bên kia trên vách ván đối diện, những mảnh ván vuông được đóng ghép lại và sơn đen làm thành một tấm bảng đen.
Ngay phía trước hàng ghế ngồi sừng sững một chiếc lò sưởi lớn. Các cạnh tròn và phía trên lò đỏ rực ánh lửa thoát ra từ trong lò và đang đứng xúm quanh lò là một đám học trò mà Laura phải dạy dỗ. Tất cả đều nhìn Laura. Hết thảy có năm học sinh trong đó hai nam và một nữ cao hơn Laura. Cô cố lên tiếng:
– Xin chào.
Tất cả chào đáp lại trong lúc vẫn nhìn cô. Một khối nắng ùa vào phòng từ khung cửa sổ sát bên cửa ra vào. Phía bên kia, trong một góc gần lò sưởi có một chiếc bàn nhỏ và một chiếc ghế.
– Đó là bàn cô giáo.
Laura nghĩ rồi nghĩ tiếp:
– Trời ơi, mình đã là cô giáo.
Tiếng bước chân của cô vang lên thật lớn. Mọi cặp mắt đều hướng theo cô. Cô đặt sách vở và xô thức ăn lên bàn, cởi áo khoác, mũ trùm. Cô treo hết lên chiếc đinh móc trên vách gần chiếc ghế.
Trên bàn có một chiếc đồng hồ nhỏ, kim đồng hồ chỉ chín giờ kém năm phút.
Bằng mọi cách cô sẽ phải xoay xở vượt qua năm phút trước giờ học.
Cô chậm chạp tháo găng tay, nhét vào túi áo khoác. Rồi cô nhìn vào tất cả những cặp mắt và bước tới bên lò sưởi. Cô đưa hai bàn tay lên tựa hồ như để sưởi ấm. Tất cả học sinh nhường đường và vẫn nhìn cô chăm chú. Cô phải nói một điều gì. Cô phải làm thế.
Cô nghe thấy tiếng nói của mình:
– Sáng nay trời lạnh quá, phải không?
Rồi không đợi câu trả lời, cô tiếp:
– Các bạn có đủ ấm với những chỗ ngồi xa lò sưởi không?
Một trong các học sinh nam lớn nói nhanh:
– Tôi sẽ ngồi ở ghế cuối cùng, chỗ đó lạnh nhất.
Cô học trò cao lớn nói:
– Charles và tôi sẽ ngồi cùng với nhau, chúng tôi học chung một cuốn sách.
Laura nói:
– Tốt lắm, bây giờ tất cả các bạn có thể ngồi gần lò sưởi hơn.
Một sự bất ngờ thích thú với cô vì năm phút đã qua! Cô lên tiếng:
– Tất cả có thể ngồi vào chỗ. Lớp học bắt đầu.
Cô gái nhỏ nhất chiếm chỗ ngồi trên cùng, phía sau là một cậu bé rồi tới cô gái lớn ngồi chung với Charles và cuối cùng là cậu trai lớn khác. Laura rập cây viết chì lên mặt bàn:
– Lớp học giữ trật tự. Bây giờ tôi sẽ ghi tên và tuổi của các bạn.
Cô gái nhỏ là Ruby Brewster, chin tuổi. Cô có mái tóc nâu, cặp mắt nâu sáng long lanh và ẻo lả như một con chuột. Laura biết cô bé sẽ dịu dàng và ngoan ngoãn. Cô đã học xong Lớp Một và trong môn toán cô đang học làm toán trừ.
Cậu bé là anh trai của cô, Tommy Brewster, mười một tuổi, đã học xong Lớp Hai và biết làm toán chia đơn giản.
Cặp ngồi chung là Charles và Martha Harrison. Charles mười bảy tuổi, gầy xanh và nói năng chập chạp. Martha mười sáu tuổi, linh lợi hơn và nói thay cả hai.
Học sinh cuối cùng là Clarence Brewster. Cậu ta cũng lớn tuổi hơn Laura. Cặp mắt nâu của cậu ta sáng hơn và linh động hơn cặp mắt của cô em nhỏ Ruby, mái tóc cậu ta màu xậm, dầy và rối bù.
Cậu ta nói nhanh và năng động. Cách nói của cậu ta gần như hỗn xược.
Clarence, Charles và Martha cùng học Lớp Bốn. Cả ba đã học nửa chừng sách đánh vần và đang học phân số trong môn toán. Về địa dư, cả ba đã học về các tiểu bang Tân Anh Cát Lợi và trả lời khá tốt những câu hỏi của Laura khiến cô sắp xếp dạy ngay họ về các bang Trung Tây. Không một học sinh nào từng học về ngữ pháp và lịch sử ngoại trừ Martha mang theo một cuốn ngữ pháp của mẹ và Charles có một cuốn lịch sử. Laura nói:
– Được rồi, các bạn có thể cùng bắt đầu với các bài mở đầu về ngữ pháp và lịch sử và trao đổi sách để học bài.
Khi Laura dạy dứt bài học này và phân xong bài cho tất cả thì đã tới giờ nghỉ. Tất cả choàng khăn áo ra ngoài chơi trong tuyết và Laura thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Một phần tư của ngày dạy đầu tiên đã qua.
Lúc này cô bắt đầu sắp đặt. Cô sẽ dạy tập đọc, toán pháp và các bài đọc thuộc lòng về ngữ pháp vào trước buổi trưa, rồi buổi chiều sẽ lại tập đọc, lịch sử, tập viết và đánh vần. Đánh vần phải chia thành ba lớp vì Ruby và Tommy chưa thể bắt kịp sách đánh vần.
Sau mười lăm phút, cô gõ lên cửa sổ kêu học sinh vào lớp. Từ đó cho tới buổi trưa, cô lắng nghe và kiên nhẫn sửa chữa cách tập đọc lớn tiếng của tất cả.
Giờ trưa nhích đi chậm chạp. Laura ngồi một mình bên chiếc bàn ăn bánh mỳ với bơ trong lúc tất cả học sinh quây quần bên lò sưởi vừa trò chuyện, nô giỡn vừa ăn bữa ăn trưa. Sau đó, đám con trai chạy ra ngoài trời tuyết trong lúc Martha cùng Ruby đứng coi bên cửa sổ và Laura ngồi im tại bàn. Lúc này cô đã là cô giáo và phải xử sự như một cô giáo.
Cuối cùng giờ trưa trôi qua và cô lại thêm một lần gõ lên cửa sổ. Đám con trai hối hả chạy vào, thở ra những đám khói sương và rũ hơi lạnh khỏi khăn, áo khi treo lên. Tất cả đều sôi nổi vì lạnh và những động tác hâm nóng. Laura lên tiếng:
– Lò bớt lửa rồi. Charles có thể vui lòng cho thêm than vào đó không?
Sẵn sàng nhưng chậm chạp, Charles nhấc chiếc xô than nặng và trút gần hết vào lò.
Clarence nói:
– lần sau tôi sẽ làm!
Cậu ta nói có lẽ không phải để tỏ ra xấc xược. Nếu cậu ta tỏ ra như thế thì Laura có thể làm gì? Cậu ta là một chàng trai mập lùn, vạm vỡ, to lớn hơn và nhiều tuổi hơn cô. Cặp mắt nâu của cậu ta nhìn cô sáng rỡ. Cô cố đứng vươn lên thật cao và gõ cây bút chì lên mặt bàn. Cô nói:
– Lớp học giữ trật tự.
Dù lớp học nhỏ bé, cô nghĩ tốt nhất là vẫn giữ theo nề nếp của một trường học ở thị trấn và gọi từng trò lên đọc bài. Ruby chỉ có một mình một lớp nên phải trả lời hoàn hảo mọi câu hỏi vì không có ai giúp cô trả lời bớt một câu hỏi nào. Laura để cô bé đánh vần chậm chạp và nếu cô bị vấp, cô có thể cố làm lại. Cô bé đánh vần mọi từ trong bài học. Tommy chậm chạp hơn, nhưng Laura dành thời gian cho cậu suy nghĩ và cố gắng nên làm cũng tốt.
Rồi Martha, Charles và Clarence đọc bài đánh vần. Martha không mắc lỗi nào nhưng Charles nhầm năm từ và Clarence nhầm ba từ. Vì là lần đầu tiên nên Laura không phạt ai. Cô nói:
– Martha ngồi xuống. Còn Charles và Clarence hãy lên bảng viết lại những từ mà các bạn đã nhầm, mỗi từ ba lần.
Charles đi một cách chậm chạp và bắt đầu viết những từ sai của mình. Clarence liếc xéo về phía Laura một cái nhìn hỗn xược. Rồi quay về phía Laura không đưa tay xin phép nói, cậu ta lên tiếng:
– Cô giáo! Bảng viết nhỏ quá.
Cậu ta đang biến hình phạt không thuộc bài của mình thành trò vui và coi thường Laura.
Một lúc lâu, một lúc kinh hoàng khi cậu ta đứng nhìn cô và cô nhìn thẳng vào cậu ta. Rồi cô nói:
– Phải, bảng nhỏ lắm Clarence. Tôi rất tiếc nhưng trò hãy xóa tất cả những gì trò đã viết và viết lại các từ một cách cẩn thận hơn. Cố viết nhỏ hơn và sẽ có đủ chỗ.
Cậu ta phải làm theo vì cô không biết cô có thể làm gì nếu cậu ta không làm.
Vẫn nhăn nhở nhưng có vẻ ngoan ngoãn, cậu ta quay lại tấm bảng xóa sạch những chữ viết nguệch ngoạc. Cậu ta viết ba từ, mỗi từ ba lần và ký tên mình với một vòng hoa ở phía dưới.
Laura thấy nhẹ hẳn người khi đồng hồ chỉ bốn giờ. Cô lên tiếng:
– Tất cả cất sách vở đi.
Khi mọi cuốn sách đã nằm gọn trong các ngăn bàn, cô nói:
– Giờ học chấm dứt.
Clarence chộp áo khoác, khăn quấn, mũ trên đinh móc và với một tiếng hét lớn, cậu ta là người đầu tiên lao ra cửa. Tommy theo cậu ta bén gót nhưng cả hai chờ ở ngoài trong khi Laura giúp Ruby mặc áo, buộc dải mũ. Chín chắn hơn, Charles và Martha lo choàng áo cẩn thận để chống với cái lạnh khi bước ra. Cả hai phải đi bộ tới một dặm đường.
Laura đứng bên cửa sổ nhìn theo đám học sinh bước đi. Cô có thể nhìn thấy nhà trại của anh trai ông Brewster chỉ cách khoảng nửa dặm. Khói từ ống khói bốc lên và cửa sổ hướng tây của căn nhà phản chiếu ánh mặt trời đang lặn xuống sáng lóa. Clarence và Tommy náo loạn trong tuyết và chiếc mũ trùm màu đỏ của Ruby bập bềnh theo sau. Xa tít tắp bên cửa sổ phía đông nam mà Laura có thể nhìn thấy, bầu trời thật quang đãng.
Trường học không có cửa sổ để cô có thể nhìn về phía tây bắc. Nếu có một cơn bão tuyết nổi lên, cô không thể biết bão đang kéo tới cho tới khi nó ập đến.
Cô lau sạch tấm bảng và cầm chổi quét nền nhà. Không cần có giỏ rác vì những kẽ hở giữa các tấm ván lát nền nhà rất lớn. Cô đóng các ô gió lò sưởi, khoác áo, gom sách vở, xô đựng thức ăn trưa, đóng cẩn thận cánh cửa ra vào rồi theo lối đi ban sáng trở về căn nhà của bà Brewster.
Ngày đầu là cô giáo của cô đã trôi qua. Cô thầm cảm ơn đã được như thế.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: