Những Ngày Hạnh Phúc (Chương 1)

Những Ngày Hạnh Phúc

Laura Ingalls Wilder
TẬP 8 – CHƯƠNG 1 
LAURA RỜI NHÀ
Chiều chủ nhật quang đãng và những cánh đồng tuyết phủ lấp lánh dưới nắng. Gió nam thổi nhẹ nhưng lạnh tới mức các bàn trượt xe rít lên khi lướt trên những đống tuyết đóng cứng. Móng ngựa khua thành một âm thanh lốp cốp đều đều buồn nản. Bố im lặng.
Ngồi bên cạnh Bố trên tấm ván đặt ngang cỗ xe, Laura cũng nín thinh. Chẳng có điều gì để nói cả. Cô đang trên đường tới trường để dạy học.
Chỉ mới ngày hôm qua, cô còn là một học sinh nhưng lúc này cô đã thành cô giáo. Chuyện xảy ra thật bất ngờ. Laura khó có thể không mong ngày mai cô được đến trường cùng với Carrie và ngồi trên chiếc ghế của cô bên Ida Brown. Nhưng ngày mai cô đã là cô giáo.
Cô thực sự không hiểu mình sẽ xoay sở thế nào. Cô chưa bao giờ dạy học và cũng chưa tròn mười sáu tuổi. Thậm chí so với tuổi mười lăm, cô cũng nhỏ bé và lúc này cô càng thấy mình hết sức nhỏ bé.
Mặt đất đầy tuyết trôi lui nhẹ trải dài hoang vắng ở xung quanh. Laura không nhìn lại phía sau nhưng cô biết thị trấn aã cách xa nhiều dặm đường vào lúc này và chỉ còn là một chấm đen nhỏ trên màu trắng của cánh đồng quạnh quẽ mênh mông. Ở đó có một phòng ăn ấm áp mà Mẹ đang ngồi cùng Carrie và Grace cũng đã thành xa thẳm. Vùng định cư của Brewster còn cách nhiều dặm đường phía trước vì ở xa thị trấn những mười hai dặm. Laura không biết nơi đó như thế nào và cũng không quen biết ai ở đó. Cô chỉ thấy ông Brewster vỏn vẹn một lần khi ông ta tới mướn cô dạy học. Ông ta gầy, nâu sạm giống như mọi chủ nông trại và không nói nhiều về bản thân.
Bố nhìn về khoảng xa phía trước trong lúc nắm dây cương với những bàn tay bọc găng và thỉnh thoảng lên tiếng thúc giục lũ ngựa. Nhưng Bố biết chắc Laura đang cảm nghĩ thế nào. Cuối cùng Bố quay sang phía cô và lên tiếng như đang đáp lời cho sự khiếp hãi của cô vào ngày mai:
– Này Laura! Thế là bây giờ con đã thành một cô giáo rồi. Chúng ta đều biết điều này sẽ đến, phải không?
Nhưng không ai ngờ chuyện đến sớm như vậy.
Laura đáp:
– Bố nghĩ con có làm nổi không? Giả dụ… chỉ giả dụ thôi là… lũ trẻ không nghe lời con vì thấy con còn nhỏ quá.
Bố trấn an cô:
– Đương nhiên là con làm nổi. Con chưa từng chịu thua một việc nào khi con ráng làm, đúng không?
Laura nhìn nhận:
– Đúng là thế. Nhưng con… con chưa bao giờ thử dạy học.
Bố nói:
– Con đã giải quyết xong mọi việc mà con gặp phải. Con không khi nào bỏ cuộc mà luôn bám dính lấy mọi việc cho tới khi con biết phải làm gì với nó. Thành công trở thành một thói quen như bất kỳ việc gì khác mà một người tiếp tục làm.
Im lặng lại trở lại, ngoại trừ tiếng của những bàn trượt xe và tiếng vó ngựa khua lộp cộp trên mặt tuyết cứng. Laura cảm thấy dễ chịu hơn một chút. Đúng là như vậy, cô vẫn luôn nỗ lực và cô phải luôn nỗ lực. Được, bây giờ cô phải dạy học. Bố nói:
– Còn nhớ lúc ở vùng suối Plum không, Bình Rượu Nhỏ? Lúc Mẹ con với Bố ra thị trấn và một cơn bão tuyết nổi lên đó? Con đã mang hết cả đống củi vào trong nhà.
Laura cười lớn và tiếng cười của Bố rung lên như tiếng chuông trong sự lặng trang giá ngắt.
Biết bao điều vụn vặt, kinh hoàng và ngớ ngẩn mà cô đã làm vào những ngày xa xôi đó! Bố nói:
– Đó là cái cách đối đầu với mọi thứ! Hãy tự tin ở mình là có thể chiến thắng tất cả. Con tự tin ở con và đó là cách duy nhất làm cho mọi người ở đây phải tin vào con.
Bố ngưng lại một lúc rồi thêm:
– Còn một điều mà con cần vượt qua.
Laura hỏi:
– Điều gì vậy, Bố?
– Con thường quá mau lẹ, Nhà-kho-vẫy-cánh à. Con thường làm hoặc nói trước rồi nghĩ sau. Bây giờ con cần tập nghĩ trước và nói sau. Nếu con nhớ được điều này con sẽ không khi nào bối rối.
Laura nói một cách hăng hái:
– Con sẽ nhớ, Bố.
Trời quá lạnh không thể nói chuyện được. Hai cha con tiếp tục im lặng để giữ hơi ấm trong lúc tiến về phía nam. Gió buốt thốc thẳng vào mặt họ. Một vết bàn trượt xe mờ nhạt kéo dài về phía trước.
Không có một thứ gì khác để ngắm nhìn ngoài mặt đất thấp trắng toát vô tận và bầu trời nhợt nhạt mênh mông với những chiếc bóng xám xanh của lũ ngựa che mờ những khoảng lấp lánh trên tuyết.
Gió lay động mảnh khăn trùm dày bằng len đen của Laura trước mắt cô. Hơi thở của cô đóng thành một cụm sương giá trên tấm khăn phả vào miệng và mũi cô một làn hơi lạnh ẩm ướt.
Cuối cùng, cô đã nhìn thấy một căn nhà phía trước. Lúc đầu căn nhà rất nhỏ rồi lớn hơn khi họ tới gần. Cách chứng nửa dặm có một căn nhà khác nhỏ hơn và xa hơn về phía bên kia có một căn nhà khác nữa. Sau đó lại một căn nhà khác hiện ra. Bốn căn nhà cả thảy, tất cả chỉ có thế. Những căn nhà nằm riêng biệt và nhỏ nhoi trên cánh đồng trắng toát.
Bố kìm ngựa dừng lại. Nhà của ông Brewster giống như hai căn lều ghép chung để làm thành một chiếc mái nhọn. Lớp giấy lợp phết hắc ín trơ trọi và tuyết tan chảy thành những nhũ băng lớn treo lơ lửng trên mái hiên như những chiếc cột tròn lớn hơn cánh tay Laura. Chúng giống như những chiếc răng vĩ đại lởm chởm. Một vài chiếc cắm sâu vào trong tuyết và một vài chiếc gãy ngang. Những tảng băng rơi xuống đông cứng trong lớp tuyết cáu bẩn quanh cửa ra vào ngay chỗ đổ nước dơ. Cửa sổ không có rèm che nhưng khói bay ra từ ống khói bám vào mái nhà thành những mạng lưới.
Ông Brewster mở cửa. Một đứa nhỏ đang khóc ầm ĩ trong nhà nên ông nói lớn để có thể nghe được:
– Vào nhà chơi, Ingalls. Vào trong cho ấm người.
Bố đáp:
– Cám ơn. Đường trở về dài tới mười hai dặm nên tốt hơn là tôi sẽ đi.
Laura chui ra thật mau từ phía dưới những tấm mền để giữ cho hơi ấm không len vào. Bố đưa cho cô chiếc túi đeo của Mẹ trong đó đựng mấy bộ đồ lót của cô cũng như chiếc áo choàng và sách vở.
Cô nói:
– Tạm biệt, Bố
– Tạm biệt, Laura.
Cặp mắt xanh lơ của Bố như mỉm cười khuyến khích cô. Nhưng mười hai dặm đường là quá xa để có thể lái xe lui tới và cô sẽ không thể gặp lại Bố trong hai tháng.
Cô bước mau vào trong nhà. Trong một lúc, cô không thể nhìn rõ mọi vật vì vừa từ ngoài trời sáng bước vào. Ông Brewster lên tiếng:
– Đây là bà Brewster và đây là cô giáo.
Một người đàn bà có vẻ rầu rĩ đứng bên lò bếp đang khuấy thứ gì trong chảo.
Một đứa con trai đang đeo vào váy của bà và gào khóc. Mặt thằng bé dơ dáy, mũi chảy lòng thòng.
Laura ráng hết sức giữ vui vẻ lên tiếng:
– Chào bà Brewster.
Bà Brewster nói:
– Hãy qua phòng bên kia bỏ đồ choàng ngoài ra. Treo đồ sau tấm màn ở chỗ ghế sô pha.
Bà xoay lưng về phía Laura và tiếp tục khuấy nước thịt trong chảo.
Laura không biết phải nghĩ ra sao. Cô không thể làm điều gì xúc phạm đến bà Brewster. Cô bước qua phòng bên. Vách ngăn đứng thẳng ngay dưới nóc nhà và chia căn nhà thành hai phần đều nhau. Ở bên này tấm ngăn, những chiếc rui và lớp giấy lợp mái phết nhựa hắc ín chạy xuôi xuống các tấm vách thấp lè tè. Vách ván được đóng bít kỹ từng kẽ hở. Căn nhà giống hệt căn lều giữ đất của Bố nhưng nhỏ hơn và không có trần ở phía trên.
Dĩ nhiên phòng bên kia rất lạnh. Nó chỉ có một ô cửa sổ nhìn ra ngoài khu đồng trống phủ đầy tuyết. Sát tường ngay dưới cửa sổ là chiếc ghế sô pha làm bằng cành cây lớn với chiếc tựa lưng bằng gỗ uốn cong và một phía đầu cũng uốn cong lên. Giường ngủ được làm ngay trên ghế sô pha. Những tấm màn bằng vải nâu treo sát vách ở hai phía giường trên một sợi dây chạy ngang qua phía trên cửa sổ để khi kéo lại có thể che kín chiếc ghế. Đối diện là một chiếc giường kê sát vách và sát chân giường có một khoảng trống vừa đủ kê một chiếc bàn và một chiếc rương.
Laura treo áo khoác, khăn quấn, khăn chùm và mũ trên những chiếc đinh móc sau tấm màn vải và đặt chiếc túi của Mẹ trên mặt nền ngay phía dưới. Cô đứng run rẩy trong cái lạnh không mong muốn bước qua phòng bên ấm áp đang có mặt bà Brewster. Nhưng cô phải qua và cô đã làm vậy.
Ông Brewster ngồi sát bên lò bếp đang giữ đứa con trai nhỏ trên đầu gối. Bà Brewster đang vét nước thịt vào một chiếc chén. Bàn ăn đã được bày với các dao, dĩa xô lệch cẩu thả vứt trên tấm khăn trải bàn màu trắng lem luốc; tấm khăn trải nhăn nhúm trên bàn.
Laura thu hết can đảm lên tiếng:
– Tôi có thể giúp bà được không, bà Brewster?
Bà Brewster không trả lời. Bà ta giận dữ trút khoai tây lên đĩa, dằn mạnh lên mặt bàn. Chiếc đồng hồ trên vách rè rè báo hiệu lên tiếng và Laura thấy đã bốn giò kém năm phút. Ông Brewster giải thích:
– Dạo này điểm tâm rất muộn nên chúng tôi chỉ ăn một ngày hai bữa.
Bà Brewster quát lớn:
– Tôi muốn biết đó là lỗi của ai! Giống như tôi không hề có đủ việc làm từ sáng đến tối trong tình huống…
Ông Brewster cao giọng hơn:
– Tôi chỉ muốn nói ngày ngắn quá…
– Vậy thì cứ nói những gì anh muốn nói đi!
Bà Brewster quăng chiếc ghế cao lại bên bàn, chộp đứa con dằn mạnh cho ngồi xuống đó… Ông Brewster nói với Laura:
– Bữa ăn sẵn sàng rồi.
Cô ngồi xuống chiếc ghế trống. Ông Brewster tiếp cho cô khoai tây, thịt heo ướp muối và nước xốt thịt. Thức ăn ngon nhưng sự lặng thinh khó chịu của bà Brewster khiến Laura khó thể nuốt nổi. Cô cố gắng hỏi một cách vui vẻ:
– Trường học có ở xa đây không?
Ông Brewster nói:
– Khoảng nửa dặm, phía bên kia các lô đất. Đó là một căn lều trại. Người được giao cho canh tác khu đất đó không đủ kiên trì theo đuổi nên đã bỏ cuộc và quay về miền Đông.
Rồi, ông cũng im lặng. Đứa nhỏ ngọ nguậy cố thọc vào mọi thứ trên bàn. Thình lình nó liệng chiếc đĩa thiếc đầy thức ăn xuống nền nhà. Bà Brewster tát nó và nó gào lên. Nó tiếp tục gào thét và đá vào chân bàn.
Cuối cùng bữa ăn chấm dứt. Ông Brewster nhấc chiếc thùng sữa khỏi hàng đinh móc trên vách bước ra chuồng bò. Bà Brewster bỏ đứa con ngồi trên nền nhà và dần dần nó ngưng gào khóc trong lúc Laura giúp lau sạch bàn. Sau đó, cô lấy chiếc tạp dề trong túi xách của Mẹ, buộc choàng trên chiếc áo khoác màu nâu và cầm lấy chiếc khăn lau khô những chiếc đĩa mà bà Brewster vừa rửa xong.
– Cậu bé của bà tên gì, bà Brewster?
Cô hỏi với hy vọng lúc này bà Brewster sẽ dễ chịu hơn. Bà Brewster đáp:
– John.
Laura tiếp:
– Cái tên thật hay. Mọi người có thể gọi là Jimmy lúc còn nhỏ và khi lớn lên thì John là một cái tên rất đàn ông. Lúc này bà có gọi cậu bé là Johnny không?
Bà Brewster không trả lời. Sự im lặng mỗi lúc càng trở nên kinh khủng hơn. Laura cảm thấy khuôn mặt của bà Brewster đang nóng hừng hực. Cô tiếp tục lau khô những chiếc đĩa như một cái máy. Khi họ dứt công việc, bà Brewster hắt nước dơ và treo chiếc chảo lên hàng đinh móc. Bà ngồi lên chiếc ghế đu và đung đưa một cách uể oải trong lúc Johnny trườn phía dưới lò bếp và nắm đuôi con mèo kéo ra.
Con mèo cào nó và nó hét lên. Bà Brewster tiếp tục đung đưa.
Laura không dám can thiệp vào. Johnny cứ gào khóc còn bà Brewster ủ rũ đung đưa chiếc ghế đu và Laura ngồi trên chiếc ghế gỗ cạnh bàn nhìn ra ngoài cánh đồng. Con đường cắt ngang mặt tuyết chạy thật xa vượt hẳn khỏi tầm mắt. Mười hai dặm ở phía xa kia là nhà của cô. Lúc này Mẹ đang lo bữa ăn tối và Carrie đã đi học về. Hai người hẳn đang cười nói với Grace. Bố đã bước vào nhà và nhấc Grace lên đung đưa trên cánh tay như Bố vẫn thường nhấc Laura khi cô còn bé. Tất cả tiếp tục chuyện trò bên bàn ăn trong bữa ăn tối. Sau đó, mọi người ngồi dưới ánh đèn sáng thoải mái đọc sách trong lúc Carrie học bài. Rồi Bố choi đàn.
Căn phòng trở nên tối hơn và tối hơn nữa. Laura không còn nhìn rõ con đường. Cuối cùng, ông Brewster mang sữa trở về. Rồi bà Brewster thắp đèn. Bà ta lọc sữa và cất chảo trong lúc ông Brewster ngồi xuống mở một tờ báo. Không ai nói một tiếng nào. Một sự im lặng khó chịu đè xuống nặng trĩu.
Laura không biết làm gì vì còn quá sớm để lên giường. Trong phòng không còn một tờ báo hoặc cuốn sách nào khác. Lúc này cô sực nghĩ tới những cuốn sách học. Bước qua gian phòng bên lạnh buốt và tối đen, cô mò mẫm sục tìm trong chiếc túi xách của Mẹ và sờ thấy cuốn sách lịch sử. Cô cầm sang nhà bếp, lại ngồi bên chiếc bàn và bắt đầu đọc. Cô nghĩ một cách chán nản:
– Ít nhất thì cũng không có gì cản trở việc học của mình.
Cô cảm thấy đau đớn ê ẩm tựa hồ bị đánh đập, nhưng dần dần cô quên bẵng mình đang ở đâu khi bị cuốn vào cuốn sách lịch sử. Cuối cùng cô nghe tiếng chuông đồng hồ điểm tám giờ. Tiếp đó cô đứng dậy lễ phép chào chúc mọi người ngủ ngon. Bà Brewster không trả lời, nhưng ông Brewster đáp lại:
– Chúc cô ngủ ngon.
Trên giường, Laura run lập cập bỏ áo ngoài, áo lót và mặc chiếc áo dài ngủ bằng flanen. Cô luồn vào dưới những lớp mền trên chiếc ghế sô pha và kéo các tấm màn vải che xung quanh xuống.
Gối nhồi lông chim và rất nhiều mền, nệm nhưng chiếc ghế sô pha quá hẹp.
Cô nghe thấy bà Brewster đang nói một cách rất nhanh và giận dữ. Laura chùm mền kín đầu chỉ để hở một lỗ nhỏ ở mũi, nhưng cô vẫn nghe thấy những tiếng cằn nhằn của bà Brewster:
– … hợp với anh nhưng tôi phải lo cho một người ở trọ!
Cô lại nghe tiếp:
– … thật khủng khiếp với cái xứ này! Một giáo viên, thực sự!… chính tôi đã là một giáo viên, nếu tôi không lấy một người chồng là…
Laura nghĩ:
– Rút cuộc là bà ta không muốn nuôi một giáo viên trong nhà. Bà ta như một vật cản của bất kỳ ai khác.
Cô thấy tốt hơn là không nên nghe thêm điều gì và cố ngủ. Nhưng suốt đêm trong giấc ngủ, cô phải cố lo giữ cho khỏi rớt xuống từ chiếc ghế sô pha quá hẹp và khiếp sợ ngày mai khi cô bắt đầu dạy học.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: