Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai (Chương 36 – 40)

Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai

Colleen McCullough

Chương 36

Xong rồi, Justine nói với mẹ, con đã quyết định. Con biết sẽ theo nghề nào.

– Mẹ tưởng rằng chuyện xong lâu rồi chứ. Con sẽ theo học nghành mỹ thuật ở trường Đại học Sydney phải không?

– Không đâu mẹ, con nói dối để mẹ yên tâm khi con chuẩn bị kế hoạch. Bây giờ tất cả đã xong, con có thể tiết lộ hết bí mật với mẹ.

Meggie mệt mỏi nhìn Justine, sốt ruột và bất lực. Trước một đứa con cứng đầu, bướng bỉnh như Justine, Meggie đành chịu thôi.

– Vậy con nói hết bí mật của con đi, mẹ sốt ruột quá. Meggie vừa nói vừa tiếp tục chọn từng cái bánh chuẩn bị nướng.

– Con sẽ trở thành diễn viên.

– Sao?

– Diễn viên.

– Chúa ơi! (Meggie tạm ngưng công việc của mình.) Justine con nghe đây, mẹ không thích làm con kỳ đà và cũng không có ý định làm buồn phiền con. Nhưng bộ con tưởng con có được nhan sắc để theo nghề đó?

– Không phải như vậy đâu mẹ! Justine tỏ vẻ hơi nản. Không phải tài tử màn ảnh đâu! Mà là diễn viên! Con không chịu làm những cái trò uống éo mông, phô bày bộ ngực hay nút lưỡi đâu. Con muốn đóng kịch. Con có đủ tiền để theo học bất cứ ngành nào con thích chứ?

– Phải! Nhờ sự giúp đỡ của Hồng Y De Bricassart.

– Vậy thì con không bàn lui nữa. Con sẽ theo học lớp kịch của Alber Jones trên sân khấu Culloden và con viết thư cho viện kịch nghệ Hoàng gia ở Luân Đôn để đăng ký vào danh sách chờ đợi.

– Con đã suy nghĩ kỹ chưa, Justine?

– Vâng, con đã suy nghĩ từ lâu.

– Mẹ vẫn không hiểu, Meggie vừa lắc đầu vừa nói một mình. Diễn viên.

Justine nhún vai.

– Mẹ nghĩ coi, con tìm ra nơi nào cho phép con la hét, gầm lên như trên sân khấu? Ở đây thì không thể được rồi, ở nhà trường hay ở một nơi nào khác cũng thế! Con lại thích la hét, chỉ có thế thôi!

– Nhưng con làm thế nào để được chấp nhận học sân khấu Culloden?

– Con đã qua một kỳ trình diễn thử.

– Và con đã trúng tuyển?

– Đúng là mẹ tin cậy ở con gái mình. Đúng thế, con đã trúng tuyển! Con diễn rất tốt mẹ biết không. Một ngày nào đó con sẽ nổi tiếng.

– Con không định lấy chồng?

– Con chẳng nghĩ đến điều ấy nhưng con không thích cuộc sống lại mất thì giờ vào việc lau mũi, rửa đít cho trẻ con. Hoặc chiều chuộng vuốt ve một thằng đàn ông không ra gì mà cứ tưởng mình ngon lắm. Nhất định không.

– Con nói quá đáng Justine ạ. Ma quỷ nào đã dạy con nói cái giọng đó? Con không khác ba con chút nào!

– Cứ mỗi lần con làm sai ý mẹ là mẹ nói giống hệt ba con. Thế thì con phải đành tin lời mẹ vì rằng con chưa bao giờ được gặp con người hào hoa phong nhã ấy.

– Khi nào con đi? Meggie nói sang chuyện khác.

Justine cười:

– Mẹ muốn con đi sớm cho khuất mắt mẹ phải không? Con thông cảm mẹ và không giận mẹ chút nào. Mẹ biết không, con không kìm chế được mình trêu chọc người khác, nhất là với mẹ. Mẹ nghĩ sao nếu con xin mẹ đưa con ra sân bay ngày mai?

– Mẹ đề nghị ngày mốt. Ngày mai, mẹ đưa con ra ngân hàng. Con cần biết con có bao nhiêu tiền. Và, này Justine…

Justine đang phụ mẹ làm bánh. Giọng nói đột ngột thay đổi của Meggie khiến cho Justine ngừng tay lại ngước mắt lên nhìn mẹ.

– Mẹ nói đi…

– Nếu một mai con gặp những chuyện buồn phiền, con hãy quay trở về nhà, đừng do dự con nhé. Ở Drogheda luôn có chỗ dành cho con; mẹ muốn con nhớ điều đó. Dù sau này con có làm chuyện gì tồi tệ mấy đi nữa thì điều đó cũng không cản ngăn con trở về đây.

Ánh mắt Justine dịu xuống.

– Cảm ơn mẹ

Chương 37

Trở lên Sydney, Justine lo chăm sóc ngay sắc đẹp của mình, trước hết tìm cách phá những vết tàn nhang trên mặt, tiếp đó đi mướn một căn hộ riêng gồm hai phòng ở phố Neutral Bay, trong chung cư Bothwell Gardens, giá năm bảng mười xu mỗi tuần. Chung cư Bothwell Gardens gầm năm căn tất cả. Anh chàng thanh niên người Anh Peter Wilkins ở sát vách tìm mọi cách chinh phục Justine nhưng không thành công. Một hôm anh ta mời Justine sang phòng anh uống trà, lợi dụng dịp này tấn công Justine. Những năm lao động ở Drogheda đã cho Justine sức mạnh phi thường, hơn nữa cô cũng không ngần ngại vi phạm luật lệ của môn quyền Anh dùng những cú đấm dưới thắt lưng để tự bảo vệ mình.

– Chúa ơi! Justine! Peter hét lên, đau điếng đến chảy nước mắt. Giữ gìn để làm gì cái quái ấy! Trước sau rồi cũng phải mất thôi! Thời đại nữ hoàng Victoria xưa rồi. Đâu cần gìn giữ cái tiết trinh kín bưng như đóng hộp để làm gì!

– Tôi không có ý định đóng hộp chờ ngày cưới, Justine vừa trả lời vừa sửa lại chiếc váy. Nhưng tôi chưa biết phải dành cho ai vinh dự ấy. Chỉ có thế thôi.

Các bạn trai của Justine tò mò hỏi, khi nào và với ai, Justine sẽ quyết định trở thành một người đàn bà thật sự. Nhưng Justine vẫn không hấp tấp.

Cho đến một hôm Justine lọt vào cặp mắt của Arthur Lestrange. Arthur Lestrange, một diễn viên chuyên đóng vai kép mùi của đoàn kịch Alber Jones, hơn bốn mươi tuổi, gương mặt rất đàn ông, mái tóc dợn sóng, luôn gặt hái sự tán thưởng của khán giả mỗi khi xuất hiện trên sân khấu. Arthur Lestrange chú ý Justine khi Justine diễn một đoạn trong vở Lord Jim của Conrad.

Arthur mời Justine đi uống cà phê. Cuộc nói chuyện giữa hai người dẫn đến đề tài vốn sống cần thiết đối với một kịch sĩ. Justine tự cho mình hiểu gần hết các mặt của cuộc sống. Arthur đề cập đến kinh nghiệm sống, Justine trả lời cho đến nay tôi chỉ cần quan sát.

– Ồ! Nhưng nếu là chuyện tình yêu? Arthur hỏi ngược lại, cố tình chuyển giọng nặng xuống ở chữ cuối cùng – thì làm sao cô có thể đóng vai Julliette mà không biết tình yêu là gì?

– Anh đã thắng một điểm. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh.

– Cô có yêu bao giờ chưa?

– Chưa?

– Cô có biết điều gì về tình yêu chưa?

Lần này Arthur nhấn mạnh biết điều gì chứ không phải tình yêu.

– Chưa biết điều gì cả.

– Tôi rất muốn giúp cô biết được thế nào là một người đàn bà – Arthur đột ngột nói.

– Tại sao không? Được rồi, anh đừng dông dài nữa, coi chừng tôi đổi ý bây giờ.

Và chuyện biết được thế nào là một người đàn bà đã xảy ra ngay tối hôm đó tại khách sạn Metropole. Giữa hai người không có tình yêu. Với Justine chủ yếu là tò mò và để có vốn sống mà đóng vai Juliette. Trong suốt quá trình tìm hiểu Justine đòi nhờ Arthur hướng dẫn từng động tác một.

Sáng hôm sau Justine gặp Dane. Trong nhiều mặt, Justine gần gũi với Dane nhiều hơn là mẹ cô gần gũi với cô hay Dane. Mối liên hệ mật thiết giữa Justine và Dane hình thành rất sớm và ngày càng được củng cố. Justine thường kể lể dài dòng với Dane chuyện này chuyện nọ, nên cậu ta hiểu chị mình nhiều hơn là Justine hiểu được em mình. Trong chừng mực nào đó, Dane cho rằng Justine hơi bốc đồng về phương diện đạo đức, mình có nhiệm vụ cảnh giác Justine những điều mà người chị không chú ý đến. Thế là cậu ta chấp nhận đóng vai người nghe kiên nhẫn với một thái độ dịu dàng và một tình thương sâu kín dành cho Justine. Nếu Justine khám phá được những suy nghĩ thầm kín của Dane, cô ta có thể nổi khùng lên.

– Em nói xem tối hôm qua chị làm gì?

– Biểu diễn trong một vai chính? Dane đoán mò.

– Đần! Em tưởng chị cần nói chuyện đó để kéo em tới nhà vỗ tay khen chị à? Ráng động não đi.

– Chị nhận lãnh một cú đấm của Bobbie định tặng cho Billie?

– Em thật ngớ ngẩn!

Hai chị em đang ngồi trên thảm cỏ dưới bóng mát của nhà thờ Đức Mẹ đồng trinh. Dane đã gọi điện thoại yêu cầu gặp Justine để báo cho biết mình sắp dự một lễ đặc biệt trong thánh đường.

Dane vừa kết thúc năm học cuối cùng ở Riverview tốt nghiệp thủ khoa toàn trường, là thủ quân của các đội quần vợt, bóng ném, bóng bầu dục và cricket. Mười bảy tuổi và cao một mét tám mươi lăm.

Hôm nay là một ngày đẹp trời, nắng ấm.

– Thế thì chị đã làm gì đêm qua, Justine?

– Chị đã không còn trinh tiết…, hình như thế.

Dane mở to hai mắt.

– Chị điên rồi!

– Hùm! Chị nghĩ cũng đã đến lúc rồi. Làm sao chị có thể trở thành một diễn viên giỏi nếu chị vẫn mù tịt về những chuyện xảy ra giữa người đàn ông và người đàn bà?

– Đáng lý chị nên dành cho người đàn ông mà chị sẽ lấy làm chồng.

Justine nhìn Dane nhăn mặt tỏ vẻ bực bội.

– Chị nói thật Dane nhé, em bảo thủ đến mức chị phải khó chịu. Nói như em, lỡ như chị không gặp người đàn ông ấy trước bốn mươi tuổi thì sao? Em muốn chị phải làm gì? Chị chỉ được dùng cái mông của chị để ngồi thôi trong suốt thời gian ấy? Em muốn thế phải không? Hay giữ cái đó cho đến ngày em lấy vợ?

– Có lẽ em sẽ không bao giờ lấy vợ.

– Vậy thì chị cũng thế. Trong trường hợp này, tại sao lại gói cái đó cẩn thận, thắt ru-băng màu xanh và cất kỹ trong một cái tủ sắt với những hy vọng hão huyền? Chị chẳng muốn chết một cách ngu đần như thế.

Nhưng rồi cái vẻ bất cần đời ấy bỗng mất đi trên gương mặt của Justine.

– Nhưng bây giờ chị thấy mình xấu xa. Nếu không hiểu rõ em, chị có thể nghĩ rằng em coi thường chị… hay ít ra cũng coi thường động cơ thúc đẩy chị làm chuyện đó.

– Chị rất hiểu em mà. Không khi nào em coi thường chị. Dù cho lý do chị nêu lên quả thật là kỳ cục và ngu ngốc. Em là tiếng nói của lương tâm chị, Justine O” Neill.

– Nhưng em cũng là một thằng ngốc!

– Ồ, Justine…! Dane nói giọng buồn bã.

Nhưng Dane chưa kịp kết thúc câu nói thì Justine lại nói tiếp thật nhanh:

– Mãi mãi, mãi mãi, chị sẽ không yêu bất kỳ ai! Nếu mình yêu người khác, người khác sẽ hủy diệt mình. Nếu mình cần người khác, người khác sẽ hủy diệt mình. Đúng thế, chị đoan chắc với em như thế.

– Sao mẹ im lặng thế? Dane hỏi. Mẹ đang nghĩ gì? Nghĩ về Drogheda phải không?

– Không, Meggie trả lời lạc giọng. Mẹ nghĩ là mẹ đã già rồi. Sáng nay khi chải đầu mẹ vừa phát hiện nhiều sợi tóc bạc. Các khớp xương của mẹ bắt đầu cứng lại.

– Mẹ sẽ không bao giờ già, Dane khẳng định một cách tự nhiên.

– Mẹ mong con nói đúng, con yêu quí của mẹ. Nhưng tiếc thay sự thật lại không như thế. Mẹ bắt đầu thấy cần nước nóng ở suối Borehead, đó là một dấu hiệu của tuổi già.

Hai mẹ con đang phơi nắng trên cỏ gần suối nướng nóng Borehead.

– Con có nghĩ đến chút nào về phụ nữ không Dane? Meggie hỏi giọng băn khoăn.

Dane mỉm cười.

– Chim và bướm, có phải mẹ muốn nói thế?

– Về chuyện này, con không dốt đâu, nhất là khi có một người chị như Justine! Mỗi khi cô ta khám phá điều gì đó trong quyển sinh lý học thì cô ta la ầm lên. Không phải chuyện đó. Mẹ muốn hỏi con đơn giản thôi, con có từng áp dụng trong thực tế những bài học của Justine?

Dane lắc đầu và trườn lên bãi cỏ đến sát bên mẹ. Cậu ta nhìn thẳng vào mắt:

– Thật cũng lạ khi mẹ hỏi con chuyện này. Lâu rồi con muốn đề cập vấn đề này với mẹ nhưng con không biết phải nói thế nào.

– Con chỉ mới mười tám tuổi. Cũng còn hơi sớm để vận dụng những hiểu biết ấy vào thực tế.

– Đó chính là điều con muốn nói với mẹ. Dứt khoát sẽ không bao giờ con làm như thế!

Gió lạnh như thổi lại từ giữa hai làn nước! Lạ thật, thế mà trưóc đây không bao giờ Meggie để ý hiện tượng đó. Chiếc áo choàng đâu rồi?

– Không áp dụng lý thuyết vào thực tế. Dứt khoát không áp dụng, Meggie lặp lại bằng một giọng đều đều mà không đặt câu hỏi về ý nghĩa của những lời lẽ ấy.

– Thưa mẹ, đúng như thế. Con không muốn. Không phải vì con không nghĩ tới, hay vì không muốn có vợ. Cũng có lúc con có nghĩ tới đó chứ, nhưng con không thể thực hiện được, vì rằng con không còn chỗ để yêu thương vợ và con cùng một lúc với Chúa. Con nhận ra điều này từ lâu. Con nghĩ rằng con vẫn thấy rõ điều đó và càng đi tới, tình yêu dành cho Chúa càng lớn hơn. Yêu Chúa, đó là một bí ẩn vĩ đại.

Meggie vẫn nằm dài, nhìn chăm chăm vào đôi mắt xanh ấy, đôi mắt bình thản và xa vắng. Đúng là đôi mắt của Ralph không khác một chút nào. Nhưng nó lại ánh lên một thứ lửa hoàn toàn không có ở Ralph. Phải chăng năm mười tám tuổi, đôi mắt của Ralph cũng đã từng ánh lên một thứ lửa ấy. Có phải đây là sự hưng phấn chỉ xuất hiện ở tuổi mười tám? Ngày Meggie bước vào cuộc đời của Ralph thì tuổi mười tám của Ralph đã trôi qua đến mười năm rồi. Nhưng con trai của Meggie là một người sùng tín, Meggie biết rõ điều đó từ lâu.

… Meggie thấy nghẹn ở cổ. Nàng kéo chiếc áo choàng sát vào người.

– Thế là, con đã tự hỏi con có thể làm gì để chứng minh với Chúa rằng con yêu thương Người đến mức nào, Dane nói tiếp. Trước đây con muốn có một cuộc sống của một người đàn ông bình thường. Con rất muốn giữ cuộc sống đó. Nhưng con lại hiểu Chúa chờ đợi gì ở con. Con đã biết… Chỉ có một điều duy nhất mà con có thể hiến dâng cho Người để chứng minh với Người rằng trong trái tim con chỉ có Người mà thôi, ngoài ra không thể có ai khác. Con phải hiến dâng cho Người sự hy sinh mà Người đòi hỏi ở con. Con phải chọn lựa. Người vẫn để cho con hưởng mọi lạc thú, ngoại trừ chuyện ấy. Con cần chứng tỏ với Người rằng con hiểu tại sao Người ưu đãi sự ra đời của con. Con cần chứng tỏ với Người rằng con ý thức về sự vô nghĩa của cuộc sống đàn ông nơi con.

– Không! Con không thể làm thế! Mẹ không bao giờ để cho con làm điều như thế! Meggie kêu lên, bàn tay bấu vào cánh tay con trai.

Làn da của Dane mịn làm sao! Dấu hiệu của một sức lực căng tràn giống như Ralph, hoàn toàn như Ralph! Thế mà từ nay sẽ không có một thiếu nữ nào có thể đặt bàn tay lên làn da ấy.

– Con muốn trở thành linh mục, Dane lại nói tiếp. Con biết không dễ dàng nhưng con đã nhất quyết như vậy.

Đôi mắt Meggie biến sắc! Nàng có cảm giác như Dane đã giết chết mình, đã nghiến nát mình dưới gót giày. Dane không ngờ rằng cậu ta phải hy sinh cả mẹ. Trước đó cậu ta tưởng rằng mẹ mình sẽ vô cùng hãnh diện về con trai, về hạnh phúc được hiến dâng đứa con trai cho Chúa. Thực tế trái lại, Meggie coi cái viễn ảnh Dane trở thành linh mục như một bản án tử hình đối với mình.

– Con không ước muốn điều gì khác mẹ ạ. Dane nói trong thất vọng khi nhìn thấy ánh mắt tắt lịm của mẹ. Mẹ ơi, chẳng lẽ mẹ không hiểu? Con đã không muốn gì và chẳng muốn gì hơn là trở thành linh mục! Con không thể khác hơn là linh mục!

Meggie để bàn tay mình buông thả, không đủ sức nắm cánh tay của con nữa; Dane nhìn xuống và thấy những vết tái hình cung nhỏ do móng tay để lại sâu trên da.

Meggie ngước đầu lên và cười điên dại, những tràng cười cuồng loạn, chua chát, mỉa mai.

– Trời ơi, Có lẽ nào đó là sự thật! Một lúc khá lâu Meggie mới nói được trong hơi thở dồn dập, một tay run rẩy lau những giọt nước mắt đọng lại trên má. Thật là trơ trẽn không thể tưởng tượng được! Hồng tro! Anh ấy đã gọi như thế chiều tối hôm phi ngựa đến vũng Borehead. Quả thật lúc đó mình không hiểu anh ấy muốn nói gì khi đề cặp hai tiếng ấy. Con chỉ là tro bụi và con hãy trở về tro bụi. Con thuộc vê Giáo hội, phải trả con về với Giáo hội. ôi! Chúa đáng nguyền rủa! Chúa xấu xa! Kẻ thù tệ hại nhất của những người phụ nữ. Chúa là thế đó! Tất cả những gì mình nỗ lực xây dựng, Người làm mọi cách để phá đổ!

– ôi, không phải thế đâu, không phải thế đâu mẹ ạ. Con van lạy mẹ!

Dane ôm mẹ khóc. Trong sự đau khổ của Meggie cậu ta không hiểu được lý do, cũng như không hiểu được ý nghĩa những gì mà Meggie đã nói. Nước mắt chảy dài xuống, trái tim thắt lại; thế là sự hy sinh đã xảy ra rồi mà cậu ta không hề nghĩ đến. Nhưng, dù khó vì nỗi đau mẹ, cậu ta vẫn không từ bỏ ý nghĩ hiến mình cho Chúa, không thể vì mẹ mà từ bỏ sự chọn lựa của mình. Sự hiến dâng cho Chúa phải được thực hiện, thực hiện càng khó khăn thì nó càng có giá trị trước Người.

Meggie đã làm cho con tai khóc; cho tới nay Dane chưa từng khóc do lỗi lầm của chính cậu ta gây ra. Thật là bất công nếu đổ trút lên con hình phạt mà mình phải gánh chịu. Dane không thể nào khác hơn con người mà những gien của nó đã hình thành hoặc Chúa đã hình thành. Chúa của Ralph. Đứa con trai yêu dấu ấy là ánh sáng của đời nàng. Không thể để nó đau khổ vì nàng, không thể được.

– Dane, con đừng khóc, Meggie thì thầm vừa vuốt ve những vết bầm hằn sâu trên cánh tay đầy lông tơ của Dane, hậu quả của một lúc giận dữ. Mẹ rất ân hận. Mẹ ăn nói lung tung. Mẹ bị bất ngờ quá có thế thôi. Tất nhiên là mẹ vui sướng vì con, vui sướng thật sự. Tại sao mẹ lại không vui nhỉ? Con dội cho mẹ cái tin ấy mà không chuẩn bị trước gì cả, con biết không?

ánh mắt của Dane sáng lên, nhìn mẹ không chút nghi ngờ. Tại sao Dane lại tưởng tượng một cách vô lý rằng mình đã giết chết mẹ? Bây giờ thì đúng là đôi mắt của mẹ, đôi mắt Dane quen thuộc và tràn đầy yêu thương, đôi mắt thật sinh động. Dane ôm mẹ trong vòng tay khỏe mạnh của cậu, siết mạnh mẹ vào lòng ngực.

– Mẹ nói thật là việc này không làm mẹ ưu phiền chứ?

– Sao lại ưu phiền? Một người mẹ công giáo tốt lại ưu phiền khi hay con mình muốn trở thành linh mục sao? Hoàn toàn không thể có chuyện đó (Meggie đứng phắt lên). Trời lạnh rồi đó! Mẹ con mình về đi.

Hai mẹ con đã đến đây trên chiếc Land Rover; Dane ngồi vào tay lái, Meggie kế bên.

– Con tính sẽ đi học ở đâu? Nuốt nước mắt, Meggie hỏi.

– Có thể ở tu viện Thánh Patrick. Dù sao cũng còn phải chờ lúc con có quyết định dứt khoát. Con cũng thích trở thành tu sĩ dòng Tên, nhưng bây giờ con vẫn chưa thấy thật chắc chắn.

Meggie nhìn đăm đăm những lớp cỏ ngà màu nâu lần lượt rạp xuống trước đầu xe, kính chắn gió trước mặt lấm tấm đầy xác côn trùng.

– Mẹ có một ý kiến rất hay, Dane ạ.

– ý kiến gìthưa mẹ?

– Mẹ sẽ gởi con đến La Mã, đến Hồng Y De Bricassart. Con nhớ Ngài chứ?

– Con nhớ Ngài không ạ – Sao mẹ lại hỏi lạ lùng vậy? Không thể nào con quên được Ngài. Với con, Ngài là hiện thân của một con người hoàn thiện Nếu con phấn đâu được theo gương của Ngài thì con mãn nguyện vô cùng.

– Sự hoàn thiện cũng chỉ là tương đối con ạ, Meggie nhận xét không giấu được chút cay đắng. Nhưng mẹ giao con cho Ngài vì mẹ biết rằng Ngài sẽ chăm sóc con chu đáo, như thế đủ cho mẹ vui lòng. Con có thể vào một tu viện ở La Mã.

– Có thật không mẹ? Thật chứ? ánh mắt Dane rực sáng niềm vui mờ nhạt tất cả nỗi âu lọ Nhưng mà nhà mình có đủ tiền cho con vào tu viện ở La Mã không? Sẽ tốn kém hơn nhiều so với việc hoc. tại úc.

– Tiền bạc cũng lại nhờ vào chính Đức Hồng Y De Bricassart. Con yêu thương của mẹ, con không bao giờ thiếu tiền đâu.

Về đến nhà, người đầu tiên Meggie gặp là bà Anne.

Từ mười tám năm nay, vợ chồng Luđie hàng năm đều đến nghỉ hè ở Drogheda và họ nghĩ rằng sẽ còn rất lâu như thế. Nhưng vào mùa thu năm trước Luđie Mueller đột ngột qua đời. Meggie đã viết thư đề nghị. Anne đến sống hẳn ở Drogheda; ở đây thật sự có thể đùm bọc cùng một lúc cả ngàn người khách. Nhưng để tránh cho Anne tự ái, Meggie gợi ý nếu bà muốn có thể góp một số tiền nào đó. Thật tâm, Meggie muốn trả ơn gia đình Mueller về những năm nàng sống cô độc ở miền Bắc Queensland.

– Có chuyện gì đó Meggie, Anne hỏi.

Meggie ngồi phịch xuống ghế.

– Em có cảm tưởng như vừa bị quật ngã bởi một tia chớp xử tội em.

– Sao?

– Chị và mẹ em, hai người đều có lý. Hai người đã tiên toán rằng mình sẽ mất nó. Em đã không tin. Em thật sự tưởng rằng em mạnh hơn Chúa, nhưng không bao giờ một người phụ nữ lại có thể đối đầu với Chúa được. Chúa là một người đàn ông.

Fiona rót một tách trà cho con gái.

– Con uống đi, bà nói như ra lệnh. Con đã mất nó như thế nào?

– Dane muốn trở thành linh mục.

Một tiếng cười gằn chen lẫn trong những tiếng khóc. Anne với lấy hai cây gậy, đi khập khiễng đến chiếc ghế bành của Meggie, vụng về ngồi lên trên tay ghế và vuốt mái tóc vàng hung óng ả của nàng.

– Ồ, Em của chị! Như thế có gì là ghê gớm đâu!

– Cô có biết chuyện của Dane không? Fiona quay qua Anne hỏi.

– Cháu biết từ lâu, Anne đáp.

Meggie dịu xuống:

– Không có gì ghê gớm lắm phải không mẹ? Đây là điểm khởi đầu của một sự kết thúc. Con đã cướp Ralph của Chúa và bây giờ con phải trả lại cho Chúa chính đứa con trai của con. Mẹ đã nói với con rằng đó là sự cướp đoạt, mẹ có nhớ không? Lúc đó con không chịu tin mẹ nhưng bây giờ mẹ có lý như đã từng có lý trước bao nhiêu điều khác.

– Nó sẽ vào tu viện Thánh Patrick? Fiona hỏi, bà luôn luôn thực tế.

Meggie cười vang, mẹ ạ. Không, con sẽ gởi Dane cho Ralph. Phân nửa con người Dane là của Ralph. Nó có thể dựa vào Ralph. Đối với con, Dane quan trọng hơn Ralph. Con biết Dane muốn đến La Mã.

– Em có thú nhận cho Ralph biết ông ấy là cha của Dane không? Lần đầu Anne đề cập đến vấn đề này.

– Không, không bao giờ em nói cho Ralph biết điều đó. Không bao giờ chị ạ.

– Hai người rất giống nhau đến mức không thể không nhận ra.

– Ai? Ralph à? ông ấy chẳng hề hay biết gì cả! Em sẽ giữ bí mật của em. Em gởi đến cho ông ấy đứa con của em. Chứ không phải đứa con của ông ấy.

– Coi chừng, đó lại là sự ghen tuông với thánh thần, Meggie – Anne nói thật nhỏ. Thánh thần chưa để em yên đâu.

– Em còn phải chịu hành phạt nào khác nữa? Meggie hỏi lại trong tiếng thở dài.

Chiếc xe hơi của Vatican đến rước Dane tại sân bay và đưa Dane đi qua các con đường ngập nắng đông đúc những người đi dạo.

Vừa ăn kem Dane vừa thích thú tò mò khám phá những bức tượng mà trước đây cậu ta chỉ nhìn thấy trong ảnh, những cột thời La Mã, những lâu đài xưa, Thánh đường Saint Peter, niềm tự hào của phục hưng.

Và tại đây, Ralph đón Dane, lần này từ đầu đến chân ông mặc toàn màu đỏ thắm. Ralph chìa bàn tay ra, chiếc nhẫn lấp lánh. Dane sụp quỳ xuống, hôn viên hồng ngọc.

– Con hãy đứng lên, để cha ngắm nhìn con một chút nào?

Dane đứng dậy, nụ cười trên môi, nhìn con người to lớn, có chiều cao như mình. Cả hai có thể nhìn nhau trong mắt. Với Dane, ở Hồng Y De Bricassart tỏa ra vầng hào quang chứa đựng một quyền lực tinh thần đặt ông vào tư thế một giáo chủ hơn là một vị thánh. Thế nhưng, đôi mắt ấy lại ngập tràn một nỗi buồn u uẩn, lại càng không phải là đôi mắt của một người giáo chủ. Ôi, ông đã trải qua biết bao đau khổ khiến cho đôi mắt còn đọng lại nỗi buồn ấy, nhưng ông đã vượt lên sự đau khổ một cách cao thượng để trở thành vị linh mục hoàn toàn giữa chúng ta.

Trong khi đó Hồng Y De Bricassart nhìn đứa con trai mà ông không biết đó là con mình. Ông yêu thương Dane vì ông nghĩ rằng đó là con của Meggie yêu dấu. Nếu ông có một đứa con trai, ông rất muốn nó giống như chàng trai đứng trước mặt ông, cũng cao lớn, có một nét đẹp thu hút và có duyên.

Nhưng ông bằng lòng hơn tất cả là những nét hấp dẫn về thể hình, ở Dane hiện rõ cái đẹp từ sự giản dị của tâm hồn. Dane có sức mạnh của những thiên thần và phần nào đó là sự cao cả của họ. Bản thân ông có được như thế ở tuổi mười tám không? Ralph cố nhớ lại và khơi dậy trong trí nhớ biết bao sự kiện của mọt cuộc đời đã về chiều… Không. Ông không hề có những gì như Dane hôm nay. Phải chăng vì con người này đã thật sự đến với Chúa do sự chọn lựa của chính mình? Còn với ông, thì không phải như thế, dù cho ông có thiên hướng. Về điều này ông nhớ rất kỹ.

– Con hãy ngồi xuống, Dane. Con có làm theo lời cha căn dặn, đã bắt đầu học tiếng chưa?

– Con đã đạt trình độ có thể nói trôi chảy nhưng chưa sử dụng thành thạo các thành ngữ. Con đọc rất dễ dàng, vì đây là sinh ngữ thứ tư của con nên việc học cũng thuận lợi. Vài tuần lễ ở àsẽ giúp con làm quen với ngôn ngữ bình dân.

Em giao cho anh trách nhiệm chăm sóc Dane – thư của Meggie viết. – Cuộc sống yên vui và hạnh phúc của nó tùy thuộc vào anh. Em đã lấy cắp cái gì, em xin trả lại cái đó. Người ta buộc em như thế. Chỉ xin anh hứa với em hai điều để em yên tâm là anh hết lòng lo cho Dane. Thứ nhất, anh hứa với em trước khi Dane có một sự chọn lựa dứt khoát, chính anh phải hiểu rõ một cách chắn chắn thiên hướng thật sự của Dane. Thứ hai, nếu thiên hướng của Dane là đúng như vậy, anh hãy trông nom làm sao cho sự lựa chọn ấy không bị chao đảo. Còn ngược lại, em muốn Dane trở về với em. Vì trước hết, nó thuộc về em. Chính em đã trao nó vào tay anh.

– Dane, con có tin chắc vào thiên hướng của con?

– Chắc chắn thưa Đức cha.

– Tại sao?

– Vì tình yêu mà con dành cho Chúa; con muốn được phục vụ Chúa, suốt đời là người chăn dắt con chiên cho Chúa.

– Con có hiểu điều gì đòi hỏi ở người làm tôi tớ của Chúa?

– Con hiểu.

– Rằng không có một tình yêu nào khác được chen vào giữa Chúa và con? Con hoàn toàn thuộc về Chúa và từ bỏ tất cả

– Thưa vâng.

– Rằng mọi việc đều hành xử theo ý muốn của Người; khi trở thành tôi tớ của Người, con phải từ bỏ nhân cách, cái nhân của con, từ bỏ ý nghĩ cho rằng bản thân con là quan trọng?

– Thưa vâng.

– Rằng con sẵn sàng đối đầu với cái chết, tù tội, cái đói nhân danh Người? Rằng con sẽ không sở hữu bất cứ cái gì, không để cho bất cứ cái gì ảnh hưởng xấu đến tình yêu của con hiến dâng cho Người?

– Thưa vâng.

– Con có nghị lực không Dane?

– Con là một người đàn ông. Con biết rằng sẽ rất khó khăn nhưng con cầu nguyện Người giúp con.

– Con có thật sự tin ở con không Dane? Không có điều gì khác có thể làm con sa ngã?

– Thưa vâng.

– Và nếu sau này, con thấy cần thay đổi ý kiến con sẽ làm thế nào?

– Con sẽ xin rời khỏi nơi đây, Dane trả lời, vẻ ngạc nhiên. Nếu con thay đổi ý kiến, duy nhất chỉ vì con sai lầm khi định ra thiên hướng của mình, chứ không do một nguyên nhân nào khác. Trong trường hợp này, con sẽ xin rời khỏi nơi đây. Con sẽ tiếp tục yêu Người nhưng con hiểu ra rằng không phải bằng cách này Người muốn con phục vụ cho Giáo hội.

– Nhưng khi con đã phát nguyện và đã được thụ phong, con phải biết rằng con không trở lui lại được nữa, con sẽ không có cách nào để giành lại sự tự do của con.

– Thưa Đức cha con hiểu, Dane kiên trì khẳng định. Nhưng nếu phải lấy một quyết định thì con sẽ làm việc đó trước khi con phát nguyện.

Hồng Y De Bricassart ngả lưng vào ghế bành, thở ra. Xưa kia ông đã từng có một quyết tâm như thế. Có bao giờ ông đã chứng tỏ một nghị lực như thế?

– Tại sao con tìm đến ta hở Dane? Tại sao con lại mong muốn đến La Mã? Tại sao không ở Úc?

– Mẹ con đã có ý nghĩ đưa con đến La Mã nơi mà chính con cũng mơ ước từ lâu. Nhưng trước kia con không tin rằng gia đình có đủ tiền gửi con đến đây.

– Mẹ con rất sáng suốt. Và mẹ con đã nói cho con biết rõ chứ?

– Biết chuyện gì thưa Đức cha?

– Biết rằng hằng năm con có một khoản tiền năm ngàn bảng và hiện trong ngân hàng con có một số tiền dành dụm lên đến vài chục ngàn.

Dane giật mình.

– Không, mẹ con chưa bao giờ nói với con điều đó.

– Đúng là mẹ con rất thận trọng. Nhưng bây giờ con đã biết con có sẵn một số tiền như thế, vậy con có muốn ở lại La Mã không?

– Thưa vâng.

Điện thoại reo, Hồng y thản nhiên nhấc ống và trả lời bằng tiếng Ax.

– Vâng cảm ơn. Chúng tôi sẽ đến ngay (Hồng Y đứng lên). Đã đến giờ uống trà, chúng ta sẽ uống trà với một trong những người bạn già thân nhất của cha. Sau Đức Thánh cha, ông ấy là người quan trọng nhất trong Giáo hội. Cha đã báo cáo với Đức ngài về sự có mặt của con và Ngài có ý muốn gặp con.

Vittorio Scarbanza tức Hồng Y Di Contini Verchese đã sáu mươi sáu tuổi, bị phong thấp nặng nhưng đầu óc vẫn bén nhạy như ngày nào. Con mèo cái của ông – Natasha – đang nằm ngủ trên đùi. Ông không thể đứng lên chào khách nhưng tươi cười và dùng đầu ra dấu mời khách đến gần. Đôi mắt ông nhìn bắt gặp vẻ gì đó rất quen thuộc. Đôi mắt ông mở to rồi nhíu lại. Ông cảm thấy tim ông như ngừng lại và đưa tay lên ngực với một cử chỉ có vẻ tự trấn an. Một lúc sau miệng há hốc và ánh mắt vẫn nhìn thẳng anh thanh niên có gương mặt giống hệt De Bricassart như một bản sao.

– Vittorio, có sao không? Hồng Y De Bricassart vừa âu lo vừa cầm lấy tay của Di Contini Verchese để xem mạch.

– Không sao. Một cơn đau nhẹ thoáng qua, thế thôi. Hai người ngồi xuống đi, xin mời.

Dane quỳ xuống, áp mạnh môi lên chiếc nhẫn.

– Con hãy ngồi. Một lát nữa hãy pha trà. Ồ, ông bạn thanh niên, con muốn trở thành linh mục phải không và con tự đặt mình dưới sự che chở của Hồng Y De Bricassart?

– Thưa Đức cha, vâng.

– Sự chọn lựa của con thật đúng. Được Hồng Y De Bricassart bảo trợ con khỏi phải e ngại điều gì không hay xảy ra. Nhưng sao cha thấy con có vẻ âu lo, phải chăng vì con chưa quen nơi này.

Dane mỉm cười, cũng lại nụ cười duyên dáng của Ralph mà chính anh không hề biết. Nụ cười ấy giống Ralph đến đỗi khiến cho trái tim già nua và mệt mỏi nhói lên như vừa bị một mũi nhọn kẽm gai đâm vào.

– Con bối rối, thưa Đức cha. Con hoàn toàn bất ngờ và xúc động vì đứng trước các Hồng Y. Con không bao giờ dám mơ ước được có người đón ở phi trường và càng không dám nghĩ được uống trà với Đức cha.

– Đúng thế, đây là chuyện bất thường. Ồ, đã có trà… Ông theo dõi vị nữ tu đang đặt tách đĩa bằng ánh mắt vui vẻ, rồi đưa ngón tay lên để ngăn Ralph lại. Ồ, không! Hãy để cho tôi đóng vai chủ nhà. Dane, con thích uống trà thế nào?

– Thưa cũng như Ralph, trả lời xong cậu đỏ mặt. Xin lỗi Đức cha, con không có ý định gọi như thế…

– Không sao Dane à, Ralph cắt ngang. Hồng Y Di Contini Verchese không bắt lỗi con đâu. Chúng ta đã gặp và quen nhau bằng cách gọi nhau Dane và Ralph. Và như thế chúng ta sẽ thân thiết nhau hơn nhiều, phải không? Nghi thức chỉ tạo sự xa lạ hoàn toàn trong các quan hệ giữa chúng ta. Tôi muốn chúng ta vẫn là Dane và Ralph trong thân tình; Đức cha không thấy gì bất tiện chứ?

– Không. Ralph là người ủng hộ việc gọi nhau bằng tên. Nhưng, trở lại chuyện đang nói dở dang lúc nãy cha nghĩ đến việc con có những người bạn có chức vị cao – chẳng hạn như mối quan hệ tình bạn lâu ngày với Ralph – sẽ gây phiền phức cho con khi con đặt chân vào tu viện nào đó mà Ralph sẽ chọn lựa cho con. Thật là bực bội nếu phải luôn luôn giải thích dài dòng mỗi khi mối quan hệ giữa hai người gây nên sự chú ý. Đôi khi, Chúa của chúng ta cho phép nói láo một cách thành khẩn. Vì lợi ích chung, ta thấy tốt hơn nên bẻ cong một chút sự thật. Do rất khó giải thích cho suông sẻ các mối quan hệ tình cảm riêng tư, tốt hơn là nên nêu ra mối liên hệ dòng họ. Như thế chúng ta có thể nói với mọi người rằng Hồng y De Bricassart là cậu của con, Dane và chúng ta dừng lại ở mối quan hệ đó. Hồng Y Di Contini Verchese kết thúc bằng một giọng ngọt ngào.

Dane hơi bị khó chịu về những điều vị Hồng Y nói, còn Ralph thì cúi đầu im lặng.

Hồng Y Di Contini Verchese dịu dàng nói tiếp:

– Con đừng thất vọng vì các tên tuổi nổi tiếng cũng có những đôi chân bằng đất sét và có khi họ cũng cần nói láo để giữ được một sự yên ổn nào đó. Con vừa học được một bài học rất bổ ích. Tuy nhiên con phải hiểu, các Hồng Y là những nhà ngoại giao rất sâu sắc. Thật ra, ta chỉ nghĩ đến con, chỉ vì con thôi, Dane ạ. Lòng ghen tị và sự thù ghét cũng phổ biến trong các tu viện chẳng khác nào các trường học ngoài đời. Con sẽ phải chịu đựng một chút vì người ta cho rằng Ralph là cậu của con, anh của mẹ con, nhưng con sẽ phải chịu đựng nhiều hơn nếu người ta nghĩ rằng giữa hai người không có một mối liên hệ bà con nào cả. Chúng ta trước hết là những con người, vì thế mà phải đối đầu với con người trong môi trường này hoặc môi trường khác.

Dane cúi đầu, rồi chồm ra phía trước định đưa tay vuốt ve con mèo cái nhưng anh kịp dừng lại.

– Con xin phép… Con rất yêu mèo, thưa Đức cha.

Thái độ của Dane khiến tấm lòng trung thực của Hồng Y Di Contini rộng mở:

– Vâng. Ta phải thú nhận rằng bây giờ nó hơi nặng ký vì ăn hơi nhiều… Phải không Natasha?Con qua Dane đi, hãy đến với thế hệ mới.

Hai tháng sau khi Dane đi La Mã, Justine cũng đi Anh. Mùa kịch ở Culloden kết thúc, Justine rời chung cư Bothwell Gardens không luyến tiếc. Meggie chỉ đến Sydney hai lần. Lần đầu để đưa Dane và lần nãy tiễn Justine. Đến giây phút cuối cùng chia tay, Meggie vẫn nhìn thấy có quá nhiều khác biệt giữa bản thân mình với con gái. Tính tình Justine ngổ ngáo. Nếu bị trách phiền, Justine trêu chọc mẹ: “ Như mẹ vẫn nói, con giống ba chớ đâu giống mẹâ€. Trên boong tàu nhìn xuống, Justine không nghĩ rằng mẹ mình đã năm mươi tuổi.

Do có tiền bạc dư dả, Justine cảm thấy Luân Đôn trở thành một nơi đặc biệt hấp dẫn. Nhất định cô không chọn một cuộc sống nghèo nàn ở khu Earl” s Court – mệnh danh “Kangaroo Valley†– nơi có rất nhiều người Úc.

Justine mướn một căn hộ tiện nghi ở Kensington, gần Knightsbridge và ký hợp đồng với đoàn kịch Clyde Daltinham – Roberts.

Mùa hè đến, Justine đi tàu hỏa sang La Mã. Con tàu đi xuyên qua Pháp và ànhưng Justine không nhớ mình đã nhìn thấy những gì vì đầu óc của cô chủ yếu tập trung ôn lại những chuyện sẽ kể cho Dane nghe. Và đúng là có quá nhiều điều để nói.

Có phải Dane đó không? Chàng thanh niên cao lớn, tóc vàng đứng ở sân ga chính là Dane?

Dane không khác xưa bao nhiêu, nhưng cũng không còn là đứa em trai bé nhỏ. Cuộc sống của Dane tạo ra một khoảng cách với Justine, xa lạ cứ như là hiện giờ Justine đang ở Drogheda.

Khi về đến khách sạn, cậu em trai nói với chị:

– Chị có cảm thấy phiền hà không nếu em mời chị chiều nay uống trà với vài người bạn của em? Em hơi vội vàng lỡ nhận lời trước rồi. Họ rất muốn được biết mặt chị…

– Đồ ngu! Tại sao lại phiền hà? Nếu hai đứa mình ở Luân Đôn, chị cũng sẽ nhận chìm em qua giữa bạn bè của chị thôi. Chị rất vui được biết bạn bè của em ở tu viện ra sao, dù có thể sẽ chẳng có thú vị lắm. Chắc chắn là không mê được một chàng trai nào đâu.

Trong phòng ngủ khách sạn, đứng gần cửa sổ, nhìn qua bên ia trong cảnh lặng im và buồn, xa xa là bức tường bao quanh một nhà thờ, Justine gọi khẽ.

– Dane!

– Chuyện gì?

– Chị thông cảm em. Chị thông cảm em thật sự.

– Vâng, em biết. Em rất mong mẹ cũng hiểu em, Justine ạ.

– Với mẹ thì khác. Mẹ có cảm tưởng là chúng ta đã bỏ rơi mẹ, nhưng em đừng âu lo vì mẹ, trước sau gì mẹ cũng chấp nhận thôi.

– Em hy vọng như thế – cậu ta cười – Thật ra chiều này những người chị gặp không phải là bạn em ở tu viện. Không bao giờ em đẩy chị và các bạn em vào một thứ bẫy cám dỗ như thế. Chị sẽ gặp Hồng Y De Bricassart. Em biết chị không có cảm tình với ông ấy nhưng chị hãy hứa với em là chị sẽ tỏ ra dễ thương.

Trong mắt của Justine thoáng một ánh tinh nghịch.

– Chị hứa với em. Chị sẽ hôn lên tất cả những chiếc nhẫn mà ông ấy chìa ra.

– Cả Hồng Y Di Contini Verchese cũng có mặt.

Chương 38

Trong phòng, những người đàn ông mặc toàn áo đỏ! Chưa bao giờ trong cuộc đời của Justine, cô ta lại ý thức rõ ràng sự thừa thãi của những người phụ nữ trong cuộc sống của một số đàn ông khi bước vào thế giới này. Justine vẫn mặc bộ đồ màu ôliu khi vừa đến La Mã. Dane thúc hối khiến Justine không kịp thay quần áo.

Trong cuộc gặp gỡ, Justine có dịp biết mặt Hồng Y Di Contini Verchese mà trước đây cô chỉ nghe nhắc đến tên. Khi cô quỳ gối xuống hôn chiếc nhẫn trên bàn tay nhăn nheo, ánh mắt Justine bất chợp gặp đôi mắt u buồn của Hồng Y và lạ lùng thay cô đọc thấy trong đó một thứ tình thương ở một người mà Justine chưa từng gặp. Từ năm mười lăm tuổi đến nay, Justine không có cảm tình với các Hồng Y qua hình ảnh một De Bricassart, vậy mà mới nhìn ông già này lần đầu, lòng cô đã cảm thấy được sưởi ấm.

Cũng trong buổi uống trà, Justine quen một nhân vật ngoài Giáo hội do Hồng Y Di Contini Verchese giới thiệu là người bạn rất tốt của ông, Herr Rainer Moerling Hartheim. Khi buổi uống trà tan, chính Rainer đề nghị đưa Justine về khách sạn sau khi xin phép Dane. Sau đó, anh ta lại tự nguyện làm người hộ tống cho Justine trong buổi tối đầu tiên Justine ở La Mã với lý do Dane bận không đưa chị đi chơi.

Rainer dáng người vạm vỡ, vai rộng và to, hai cánh tay dài như tay của thợ cắt lông cừu, trông anh ta hơi giống con vượn nhưng thông minh và nhanh nhẹn. Nước da Rainer sậm, tóc dày và dợn sóng.

Biết bao biến cố đã xảy ra trong cuộc đời của Rainer Moerling Hartheim từ sau lần gặp Ralph tháng bảy năm bốn mươi ba. Một tuần sau, đơn vị của anh bị đưa ra mặt trận phía Đông, nơi mà anh trải qua suốt thời gian còn lại trong chiến tranh. Đau khổ, lạc lõng, chân đứng trong tuyết, không còn đạn ở một chiến tuyến tan tác đến đỗi cách nhau cả trăm mét mới có một người lính, anh có đủ thời giờ để nghiền ngẫm các hậu quả của chế độ Hitler. Trước chiến tranh bùng nổ, anh còn quá trẻ để bị tuyển vào tổ chức thanh niên của Quốc xã.

Chiến tranh chỉ để lại cho anh hai kỷ niệm: một cuộc hành quân khốc liệt trong giá lạnh cũng khốc liệt không kém và gương mặt của Ralph. Sự ghê tởm và cái đẹp; ác quỷ và Chúa.

Nửa điên nửa khùng, nửa bị cóng rét, hoàn toàn không còn khả năng tự vệ, anh run sợ chờ đợi các du kích Nga xuất hiện. Anh đấm tay vào ngực, miệng lâm râm đọc kinh, nhưng anh không biết anh cầu nguyện gì.

Mùa xuân năm 1945, anh tháo chạy xuyên qua Ba Lan, với mục đích duy nhất đến được vùng lính Anh và lính Pháp chiếm đóng. Anh xé và đốt giấy tờ tùy thân, chôn hai huy chương chữ thập sắt, đánh cắp vài bộ quần áo và ra trình diện với giới chức trách Anh tại biên giới Đan Mạch. Người ta đẩy anh và một trại di dân ở Bỉ. Tại đó, suốt một năm, anh sống bằng bánh mì với cháo bột, đó là tất cả những gì mà nước Anh kiệt quệ có thể cung cấp nuôi hàng chục ngàn con người họ có trách nhiệm gánh vác.

Rainer căm thù Hitler nhưng không căm thù nước Đức và anh không hề thấy nhục vì mình là người Đức. Dưới mắt anh, nước Đức vẫn là quê hương. Đầu năm 1947, anh rảo bước trên các con đường ở Aachen không một xu dính túi. Thân xác và cả tâm hồn anh đều sống sót nhưng nhất định không phải để trở lại sự nghèo đói và tối tăm. Vì rằng Rainer không chỉ là một con người đầy tham vọng mà còn là một loại thiên tài. Anh làm việc cho Grundig và nghiên cứu một thứ đã làm anh say mê từ những ngày đầu tiếp xúc với rada, đó là điện tử. Đầu của anh ngùn ngụt sáng kiến, nhưng anh từ chối bán những sang kiến đó cho Grundig. Thay vào đó, anh đánh giá kỹ thị trường, rồi cưới một góa phụ trước đây có chồng làm chủ hai xưởng nhỏ về radio, từ đó anh lao vào làm ăn cho riêng mình. Nước Đức sau chiến tranh dành vô số cơ hội cho những người trẻ dám nghĩ dám làm.

Năm năm mươi mốt, anh ly dị vợ, bồi thường cho bà Annelise Hartheim số tiền gấp đôi trị giá các xưởng của ông chồng thứ nhất để lại.

Bốn năm sau anh trở thành một trong những người giàu và có thế lực nhất ở Tây Đức. Vừa được bầu vào Quốc hội Bonn, anh trở lại La Mã, tìm gặp lại Hồng Y Bricassart và cho ông biết kết quả cuối cùng của những lời cầu nguyện năm xưa.

Nhưng sau cuộc gặp gỡ, anh chỉ nhớ lại một điều duy nhất là anh đã làm Ralph thất vọng. Câu nói của Ralph với Rainer khi chia tay:

– Cha đã cầu nguyện để con trở thành người tốt hơn cha, vì lúc đó con còn trẻ. Không có một cứu cách nào có thể biện minh cho phương tiện. Nhưng cha cho rằng tất cả những nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của chúng ta đều được nén xuống trước khi chúng ta chào đời.

Về đến phòng khách sạn, anh đã khóc nhưng rồi dịu xuống với suy nghĩ: quá khứ coi như đã đi qua, từ nay về sau mình sẽ trở thành con người mà ông ấy muốn. Và có khi anh làm được, có khi không thành, nhưng anh luôn nỗ lực. Tình cảm của anh với các vị chức sắc ở Vatican trở thành một trong những điều quí giá nhất trên đời và mỗi khi cần chống chỏi lại sự chán nản là anh bay sang La Mã.

Trong buổi tối nóng nực của La Mã, đi bộ một mình sau khi đã đưa Justine về khách sạn, đầu óc Rainer lảng vảng ý nghĩ biết ơn người thiếu nữ. Vì rằng, trong lúc quan sát thái độ chịu đựng của Justine trong cuộc gặp gỡ các chức sắc cao nhất trong giáo hội, anh đã nghe trong lòng dân lên một tình cảm hướng về cô gái này.

Con quái vật nhỏ bé đáng yêu ấy, dù bị thương, đầu vẫn giữ bình tĩnh. Người con gái ấy đủ sức đối đầu với các vị chức sắc mà không hề nhường bước.

Trong một lần đi dạo ở La Mã, đứng trước đài nước Trevi, Justine hỏi Rainer:

– Rain, anh có đến Úc lần nào chưa?

Một cảm giác lạnh chạy dài xuống xương sống của Rainer:

– Sau chiến tranh, ở trong trại người Anh quản lý có hai lần tôi suýt bị đưa đi Úc, nhưng cả hai lần tôi đều tránh được. Nhưng tại sao Justine lại gọi tôi là Rain?

– Nếu anh đã đến Úc, anh sẽ hiểu rằng anh có một cái tên kỳ diệu và người ta sẽ gọi anh theo cách của tôi. Rain chứ không phải Rainer. Anh biết rõ tiếng Anh Rain có nghĩa là mưa. Đó là sự sống giữa sa mạc.

Sững sờ, anh buông rơi điếu thuốc.

– Justine, có phải cô yêu tôi?

– Đàn ông bọn anh thật là kiêu ngạo. Rất tiếc phải làm anh thất vọng, nhưng chuyện ấy không có.

Như để làm dịu lại những điều đã lỡ nói ra, nàng nắm tay Rainer siết mạnh và nói:

– Dường như giữa chúng ta có điều gì đó hay hơn.

– Điều gì lại hay hơn là yêu?

– Theo tôi, có nhiều thứ. Tôi cần một người như thế và không bao giờ yêu.

– Rất có thể cô có lý. Rõ ràng đó là thứ xiềng xích nếu nó đến quá sớm. Vậy thì cái gì hay hơn?

– Tìm một người bạn (nàng vuốt nhẹ tay Rainer). Anh là một người bạn của tôi phải không?

Lần này, không phải Dane chờ Justine ở nhà ga như những lần trước. Anh rút lại, để cho Rainer thay mình. Rainer không đón mừng Justine bằng một cái hôn – Anh không thích cái trò biểu diễn kiểu ấy – mà vòng tay qua vai Justine và siết mạnh.

– Anh giống hệt con gấu, Justine nhận xét.

– Con gấu?

– Lúc đầu khi mới biết anh, em thấy anh giống con khỉ Gorilla hơn là con gấu. So sánh con khỉ Gorilla xem ra không được dễ thương phải không anh?

– Vậy là con gấu dễ thương hơn?

– Thật ra loài gấu cũng kết liễu cuộc đời nạn nhân của nó rất mạnh, nhưng chúng siết… dịu dàng hơn (Justine nắm tay Rainer). Dane thế nào?

– Dane vẫn thế.

– Em ăn mặc theo thời trang kiểu ba mươi mốt của em. Em đã phải lùng sục tất cả các hiệu may ở Luân Đôn mới có được cái vỏ thế này. Anh có thích chiếc váy này không? Người ta gọi nó là mini.

– Em đi nhanh tới trước rồi anh sẽ trả lời.

Chiếc váy dài không quá nửa đùi. Đi trở ngược lại về phía Rainer, nàng hỏi.

– Anh thấy thế nào? Có quá đáng không? Em nhận thấy ở Paris các cô không mặc ngắn như thế này.

– Với đôi chân đẹp như chân em, mặc một chiếc váy dài hơn một li nữa là gây ra xì-căng- đan ngay. Anh tin chắc rằng thanh niên ở đây đều đồng ý với anh.

– Anh chọc ghẹo em phải không? – nàng vứa nói lí nhí, chân bước lên chiếc Mercedes có cắm lá cờ ở phía trước đầu xe. Cờ gì thế?

– Anh vừa được bổ nhiệm vào thành phần chính phủ mới.

– Do đó không còn đáng ngạc nhiên về việc tên em được nhắc đến trong một bài báo trên tờ News of the World. Anh có đọc bài báo đó chứ?

– Em dư biết anh không bao giờ đọc loại báo lá cải.

– Em cũng vậy. Nhưng một người nào đó đã đưa cho em xem. Tờ báo đặt câu hỏi: Cô đào nước Úc ăn khách tóc màu carot có những quan hệ mật thiết với một thành viên của chính phủ Tây Đức là ai?

Rainer không trả lời chỉ mỉm cười. Đi chơi bằng xe hơi với Rainer là một trong những phút êm đềm đối với Justine ở La Mã. Sau đó họ đi thăm Hồng Y De Bricassart và Hồng Y Di Contini Verchese. Vài ngày sau đến phiên đoàn người từ Drogheda đến. Rainer mướn một xe nhỏ sang trọng đón họ về khách sạn. Justine kín đáo theo dõi phản ứng của Rainer khi đối diện với gia đình nàng gồm chủ yếu các người cậu. Cho đến phút cuối cùng Justine vẫn còn hy vọng mẹ nàng sẽ thay đổi ý kiến đến La Mã. Meggie vắng mặt gây cho Justine sự khó chịu. Tuy không phân tích được chính xác tâm trạng của mình: đau buồn cho Dane hay sự vắng mặt của mẹ gây buồn khổ cho chính nàng. Nhưng dù thế nào, những người cậu đã đến và nàng có trách nhiệm tiếp họ.

Ồ! Họ rụt rè làm sao! Khó mà phân biệt bởi càng già họ lại càng giống nhau. Tại La Mã, họ hoàn toàn khác với xung quanh, đúng là những nhà chăn nuôi Úc đi nghỉ hè ở La Mã. Cuối cùng Rainer đã có mặt. Anh ấy tỏ ra rất tốt đối với họ. Mình chưa từng thấy ai có thể gợi chuyện được với Patsy, thế mà anh ấy làm được. Anh quả là một ẩn số đối với em, Rainer, bạn của Hồng Y và cũng là bạn của Justine O” Neill. Phải chi anh ấy bớt xấu trai một tí, mình sẽ hôn anh ấy cho đúng với lòng biết ơn của mình. Chúa ơi, bây giờ mới thấy nếu ở La Mã một mình với các ông cậu mà không có Rain thì sẽ vơ vơ biết chừng nào. Rainer ơi… đúng là anh mang đến sự tốt lành như cơn mưa.

Nhà thờ có thể chứa đến hai ngàn con chiên, do đó vẫn còn chỗ trống. Không một nơi nào trên thế giới người ta lại dành nhiều thì giờ, suy nghĩ và sáng tạo như thế cho việc xây dựng một thánh đường. Các công trình ngoài tôn giáo thời thượng cổ đều trở thành vô nghĩa. Đại giáo đường của Bramante, nóc tròn của Michelangelo, hàng cột của Bernini. Đó không chỉ là công trình cung hiến cho Chúa mà còn để ngợi ca con người.

Trong lễ thụ phong linh mục, Dane nằm dài trên các bậc, mặt úp xuống, như người chết. Anh đang nghĩ gì? Ẩn giấu trong một niềm đau sâu kín vì mẹ anh đã không đến? Hồng Y De Bricassart nhìn anh qua hàng nước mắt và hiểu rằng không có nỗi đau nào giày xéo anh hơn. Thân xác anh lúc này như hòa nhập trong phép lạ. Không còn một chỗ nào dành cho bất cứ điều gì và ai khác hơn là Chúa. Một ngày như mọi ngày, không có gì quan trọng hơn là nhiệm vụ phải hoàn thành, đó là hiến dâng cuộc sống và linh hồn cho Chúa. Rất có thể anh sẽ đạt mục đích nhưng liệu rằng mấy người thật sự đạt mục đích này? Hồng Y De Bricassart thì không rồi, dù ông nhớ rất rõ ngày thụ phong ông như ngập tràn trong một sự lo nghĩ thần thánh. ông đã thử vận dụng tất cả những gì có thể rung động ở trong ông lúc ấy, những ông vẫn không thể hóa thân một cách trọn vẹn.

Lễ tấn chức linh mục của mình không long trọng bằng hôm nay nhưng qua người bạn trẻ này mình thấy lại cái ngày đó. Mình phải tự hỏi đích thật anh ta là ai, bất kể những lo âu của mình, anh ta đã trải qua bao nhiêu năm dài ở đây mà không gây ra một mối ác cảm nào, đừng nói chi là một kẻ thù thật sự. Anh được mọi người thương và anh thương mọi người. Vậy mà không bao giờ anh ta nghĩ đó là một điều phi thường.

Khi anh mới đến đây, Dane thiếu tự tin; chính chúng mình đã mang đến cho anh cái ân sủng ấy, rất có thể điều đó chứng minh sự hiện hữu cần thiết của chúng mình. Có rất nhiều linh mục được phong chức ở đây, có hàng ngàn, hàng ngàn. Tuy nhiên với Ralph, buổi lễ này thật đặc biệt. Meggie ơi! Tại sao em không đến đây để ngắm nhìn tặng vật em đã hiến dâng cho Chúa? Tặng vật mà anh không thể hiến dâng cho Người khi bản thân anh đã hiến dâng.

Một lúc sau, ông quay đầu lại, nhìn thấy hàng ghế dành cho những người ở Drogheda đến trong những bộ quần áo khác thường: Bob, Jack, Hughie, Jims, Patsỵ Một ghế trống của Meggie, rồi đến Frank. Justine với mái tóc rực rỡ che khuất dưới cái khăn vuông đăng ten đen là người phụ nữ duy nhất trong dòng họ Cleary đến đây. Rainer ngồi kế bên nàng.

Ngày hôm nay, hoàn toàn khác; ngày hôm nay, một ngày đặc biệt đối với ông. Hôm nay, gần như ông có cảm giác là chính ông đã cho ra đời một đứa con trai. ông mỉm cười và thở dài. Hồng Y Di Contini Verchese đã cảm nhận gì khi phong chức linh mục cho Danẻ Dane rất đau khổ vì mẹ anh khống đến La Mã nhưng anh không buồn giận mẹ vì anh tin rằng có một nguyên nhân nào đó mà anh chưa rõ, anh sẽ về Drogheda hỏi cho biết. Dane có đúng thai tháng để tự do suy nghĩ sẽ làm gì. Anh có ý định về Drogheda, trong những lúc phi ngựa qua các bãi chăn cừu, anh sẽ suy nghĩ thật chín chắn vấn đề ấy. Anh cảm thấy rằng không thể lấy quyết định trước khi trao đổi với mẹ. Nhưng trước đó, khi gặp mẹ anh sẽ nói thế nào? Anh cần tập trung can đảm trước khi trở về. Dane rủ Justine cùng đi Hy Lạp nghỉ ngơi trong mười lăm ngày, hy vọng Justine sẽ có cách làm cho Dane thêm can đảm để lên máy bay về Drogheda gặp mẹ.

Lúc đầu Justine đồng ý với Dane và thỏa thuận với Rainer là trong khi nàng đi Hy Lạp thì Rainer trở về với công việc của anh ta ở Bonn. Nhưng cuộc chia tay giữa Rainer và Justine không suôn sẻ. Rainer chờ đến bảy năm quen nhau để tỏ tình với Justine nhưng vẫn bị Justine từ chối. Rainer chờ lâu đến như thế vì anh không tự tin, biết mình xấu trai và dư biết người mình yêu bất cần tiền bạc lẫn địa vị. Justine từ chối vì trước hết đối với nàng, tình yêu là sự tước đoạt, gia đình là sự chấm dứt tự do. Vả lại nàng chưa tin chắc là nàng yêu Rainer.

Nhưng khi Rainer đi rồi, còn lại một mình trong phòng khách sạn, nàng mới nhận ra sự trống vắng khủng khiếp trong lòng.

Quái quỷ nữa là chạm mặt ông cậu nào họ cũng hỏi Rainer đâu.

– Rainer là một tay tuyệt lắm, Hughie nói, đôi mắt sáng lên.

Kinh ngạc, bỗng chốc Justine hiểu rằng tại sao trong những ngày qua nàng được các ông cậu quan tâm đến thế. Trước kia giữa các ông cậu và nàng gần như không có một dính dấp nào. Dưới mắt các ông, nàng trở nên quan trọng chỉ vì nàng đã gắn với một người đàn ông mà các ông đón nhận làm thành viên của gia đình.

Trở lên phòng, đầu óc nàng quay cuồng. Đúng là Rainer yêu mình.

Nhưng khi nàng muốn gặp Rainer qua điện thoại thì cô phụ trách tổng đài cho biết Rainer đã rời khách sạn đi Bonn. Justine quyết định không đi Hy Lạp với Dane và tin rằng Dane sẽ hiểu nàng. Dane vẫn muốn nàng lấy Rainer làm chồng.

Rainer thân mến của em (bức thư ngắn bắt đầu như thế), em rất ân hận tối hôm đó đã trốn chạy anh như một con dê cái hốt hoảng; em không hiểu em đã mắc chứng gì. Có lẽ do một ngày mệt mỏi và bao nhiêu chuyện tiếp đó. Em mong anh tha lỗi cho cách xử sự rất thiếu tế nhị của em. Em thấy mắc cỡ vì một chuyện không đáng gì. Vì em nghĩ rằng buổi lễ và những việc tiếp đó cũng làm cho chính anh mỏi mệt, từ đó mà có lời tỏ tình của anh. Cho nên, em đề nghị: xin lỗi anh và về phía em, em cũng tha thứ cho anh. Chúng ta vẫn là bạn với nhau, em mong như thế. Em không thể nào chịu đựng sự lạnh nhạt với anh. Lần sau anh đến Luân Đôn, em chờ anh cùng ăn tối tại nhà em và chúng ta sẽ lập lại hiệp ước hòa bình theo nghi thức hẳn hoi.

Như mọi khi, dưới bức thư ký Justine. Nhận được thư, Rainer nhíu mày suy nghĩ, cố tìm hiểu ý nghĩa thật của những dòng chữ tầm thường được viết vội vàng. Không thể chối cãi, đó là lời kêu gọi thân thiện, nhưng ngoài ra còn gì nữa? Tại sao Justine không đi Hy Lạp với Dane mà lại quay trở về Luân Đôn? Rainer không dám tin rằng Justine thay đổi quyết định vì anh, nhưng anh vẫn để hy vọng len vào trong tâm tư.

Chiều thứ bảy, Rainer từ Bonn đến La Mã và trình diện với Justine tại nhà nàng. Cuộc gặp gỡ lần này kết thúc trên giường.

Sáng hôm sau, Justine thú nhận:

– Em trở về Luân Đôn để nhận vai Desdemona nhưng mặt khác cũng vì anh. Em không thể nào sống bình thường được từ khi anh hôn em ở La Mã, anh dư biết điều ấy. Anh là một con người rất thông minh, Rainer Moerling Hertheim.

– Vừa đủ thông minh để rằng anh muốn em làm vợ ngay từ khi anh mới gặp em.

– Làm vợ? Nàng bật dậy hỏi.

– Vâng, làm vợ. Nếu anh có ý định lấy em làm tình nhân thì anh đã chiếm đoạt em từ nhiều năm. Anh hoàn toàn có khả năng làm việc đó. Anh biết bộ óc của em vận hành như thế nào; cũng tương đối dễ thôi. Chỉ có một lý do duy nhất ngăn chặn anh, đó là vì anh muốn lấy em làm vợ, mặc dù lúc đó anh vẫn biết em chưa có ý định lấy chồng.

– Bây giờ em vẫn không chắc có ý định ấy.

– Justine, không phải một trò đùa đâu và anh không phải là một người đàn ông để người khác đùa giỡn. Chúng ta có thời giờ để suy nghĩ. Hơn ai hết em biết anh kiên nhẫn như thế nào. Riêng về phía em, phải thấy rằng đám cưới là giải pháp duy nhất mà em có thể chọn lựa. Hãy loại ra khỏi đầu em bất cứ ý tưởng nào khác. Anh không chấp nhận giữ vai trò nào khác bên cạnh em ngoài vai trò làm chồng.

– Em sẽ không bao giờ chịu rời bỏ sân khấu! Justine hét to lên, như sẵn sàng gây chuyện.

– Anh đòi hỏi chuyện đó bao giờ? Đã đến lúc em phải khôn lớn lên chớ Justine. Mới thoạt nghe em, người ta tưởng anh định kết án chung thân em trong vai nội trợ và bếp núc. Chúng ta không nghèo khó đến thế đâu. Em có thể sử dụng bao nhiều người phục vụ tùy ý em, những vú em cho các con và tất cả những gì em muốn.

– Không đâu! Justine kêu lên. Nàng chưa nghĩ đến chuyện con cái.

Rainer cười ngất.

– Ồ! Đây đúng là cái mà người ta gọi là sự phục thù của sáng ngày hôm sau! Anh lại hành động như một thằng ngốc đặt em quá đột ngột trước những thực tế. Nhưng lúc này đây anh chỉ yêu cầu em hãy nghĩ đến chuyện đó. Tuy nhiên, anh báo trước với em… Khi quyết định, em đừng quên rằng nếu anh không làm chồng em, thì anh cũng không là gì hết.

Nàng choàng hai tay lên cổ Rainer, bám chặt người anh như khống muốn buông ra.

– Ồ! Rainer! Anh đừng gây cho em nhiều khó khăn như thế!

Một mình lái chiếc xe đua Lagonda, Dane đi qua vùng Đông Bắc nước Ý, ghé lại Trieste – thành phố mà anh rất thích – hai ngày, nghỉ ngơi bên bờ biển Adriatic rồi tiếp tục cuộc hành trình vào lãnh thổ Nam Tư. Từ đây anh đến biên giới Hy Lạp, đi vào thị trấn Evzone giữa lúc đất nước này đang sôi sục không khí cách mạng. Tại thị trấn Evzone ban đêm hàng ngàn ngọn đuốc cháy đỏ rực, đám đông hô to từng lúc Pap-andre-ou! Pap-andre-ou!

Nóng lòng đến Athenes sớm, anh không dừng trạm nào lâu. Tại thủ đô Hy Lạp, không khí còn sôi sục hơn, dân chúng quyết tâm ủng hộ Papandreou lên nắm quyền. Dane không thích sự ồn ào, anh gởi chiếc Lagonda vào một gara và lên tàu đi ra đảo Crete. Nơi đây, giữa những cây ôliu, cây bách lý hương hoang dại và giữa núi non, Dane tìm được sự yên tĩnh. Anh mướn một phòng nhỏ ở một quán trọ quét vôi màu trắng. Buổi trưa chỉ có tiếng ve kêu.

Trong sự im vắng của sáng hừng đông, Dane làm lễ một mình, sau đó đi dạo cả ngày. Không ai quấy rầy anh và anh không quấy rầy ai. Nhưng trên đường đi qua, những cặp mắt u buồn của người dân quê ở đảo tò mò nhìn theo anh và trên mặt nhăn nheo của họ cũng có những nụ cười. Trời nóng, tất cả nghe yên tĩnh và uể oải.

Âm thầm, Dane cầu nguyện trong trạng thái xúc động. Lạy Chúa! Người đã ban phúc cho con hơn những gì con xứng đáng. Con phải làm gì cho Người để bày tỏ với Người sự biết ơn của con? Con chưa trải qua nhiều đau khổ, cuộc đời con chỉ là một niềm vui dài, vô tận, từ khi con bắt đầu phụng sự. Vì Người, con phải khổ đau. Người biết điều ấy vì người đã khổ đau. Chỉ qua sự đau khổ con mới có thể vượt lên trên chính bản thân mình và hiểu được Người hơn. Thế mới là ý nghĩa của cuộc đời này: một giai đoạn chuyển tiếp đưa đến sự cảm thông huyền bí của Người. Hãy cắm ngọn giáo vào lòng ngực con, đâm sâu đến mức con không thể rút ra. Hãy làm cho con đau khổ… Vì Người, con từ bỏ mọi kẻ khác, kể cả mẹ con, chị con và đức Hồng Y. Duy nhất Người là niềm đau và cũng là niêm vui của con. Hãy lăng nhục con và con sẽ hát lên những lời tán tụng Người. Hãy tiêu diệt con và con sẽ mãn nguyện. Con yêu Người, một mình Người mà thôi.

Dane xuống một bãi nhỏ mà mấy ngày qua anh vẫn thường tắm. Có hai thanh niên người Anh nằm phơi nắng, người đỏ như tôm luộc, họ nói chuyện với nhau giọng Oxford; cách xa một chút, hai cô gái đang trao đổi với nhau một cách lười biếng bằng tiếng Đức.

Dane nhìn về phía hai cô gái, hơi rụt rè, sửa lại cái quần tắm ngay ngắn. Hai cô gái ngưng không nói chuyện với nhau, ngồi bật dậy chỉnh lại mái tóc rồi mỉm cười với Dane.

– Chào các anh. Hôm nay thế nào? Dane quen mặt hai anh chàng thanh niên này, không ngày nào thiếu mặt họ ở bãi.

– Tuyệt vời, ông bạn! Nhưng hãy coi chừng nước xoáy… Tụi này không dám tắm. Chắc là có bão đâu đó ở ngoài khơi.

– Cảm ơn bạn, Dane cười đáp lại.

Anh chạy ra hướng những đợt sóng nhỏ đang vỗ nhẹ vào bờ hiền hòa, rồi với sự tự tin của một tay bơi giỏi anh phóng người xuống nước.

Kinh ngạc! Mặt nước phẳng lặng đến mức Dane không nghĩ rằng phải tìm cách chống chỏi lại với dòng nước mạnh kéo rút hai chân anh ở phía dưới. Tuy nhiên chẳng có gì đáng lo ngại, Dane là một tay bơi cừ. Đầu nghiêng phân nửa dưới nước, anh rẽ sóng một cách thong thả, tận hưởng cái mát rượi thấm vào da thịt và cảm giác thoải mái hoàn toàn. Khi anh ngừng bơi, nhìn lên bờ, thì hai cô gái Đức vừa cột chặt xong mũ giữ cho tóc không ướt, đang cười giỡn chạy xuống nước.

Dane dùng hai bàn tay làm loa hét to bằng tiếng Đức báo cho hai người không nên ra xa, coi chừng nước rút. Hai cô gái cười vang ra hiệu với Dane là đã hiểu. Ngả đầu phân nửa dưới nước, anh lại tiếp tục bơi và hình như bên tai nghe một tiếng kêu cứu. Anh tiếp tục bơi một đoạn rồi dừng lại, dùng hai chân đạp nước đứng tại chỗ. Đúng là có tiếng ai kêu cứu. Quay đầu lại, anh thấy hai cô gái đang chới với, hoảng hốt, miệng hét liên tục. Tay đưa cao lên, một trong hai người đang chìm xuống.

Anh bơi nhanh đến. Những cánh tay cuống cuồng chụp lấy anh, kéo anh và nhận chìm xuống; anh tìm được cách kèm chặt một người và đánh một cú đấm vào cằm; tiếp đó anh dùng đâu gối thúc mạnh vào xương sống người kia khiến cô này cũng choáng váng. Anh bơi ngửa kéo cùng lúc hai người – giờ đây không vùng vẫy nữa, lần vào trong cạn. Lúc đó mới thấy hai thanh niên người Anh xuất hiện, tiếp tay đưa hai cô gái Đức lên bãi cát. Dù mệt nhừ người, Dane vẫn mỉm cười. Phần của anh đã xong, bây giờ đến phần của hai anh chàng người Anh. Trong khi anh thả người trên mặt nước để nghỉ mệt, dòng nước lại cuốn rút anh một lần nữa. Hai châm anh không chạm được đất, suýt nữa anh gặp nạn. Nếu không có anh, hai cô gái Đức chắc chắn đã bị chết đuối; mấy thanh niên Anh không đủ sức và cũng không được tập dợt đầy đủ để cứu hai người.

Giữa lúc Dane thả nổi trên mặt nước, đột ngột một cơn đau nhói như có gì nổ tung lồng ngực, cảm giác đau nhức khủng khiếp như có một ngọn giáo, một cây lao nướng đỏ cắm thẳng vào tim. Đau đớn không thể chịu nổi, xé cả ruột gan. Anh thét lên, đưa hai tay cao khỏi đầu, toàn thân cứng lại, bắp thịt co giật; cơn đau càng dữ dội buộc anh hạ hai tay xuống, đan chéo nhau ôm lấy ngực, hai đầu gối rút lên bụng. Ôi, tim tôi! Tôi bị một cơn đau tim. Tôi sắp chết! Tôi không muốn chết đâu! Chưa muốn chết trước khi tôi bắt đầu nhiệm vụ, khi mà tôi chưa kịp có những thử thách. Chúa nhân từ hãy cứu con! Con không muốn chết, con không muốn chết.

Những cơn co giật thưa dần, người mềm ra, Dane nằm ngửa, hai cánh tay giang rộng phập phồng trên mặt nước. Xuyên qua hai hàng lông mi ướt đẫm, anh nhìn vòm trời ở xa, thật xa trên cao, thật cao. Thế là đã kết thúc; đúng là ngọn lao của Người, ngọn lao mà lòng kiêu hãnh của con đã van xin Người ban cho cách đây không đầy một tiếng đồng hồ. Hãy cho con một đặc ân được đau đớn. Người hãy làm cho con đau đớn. Bây giờ khi sự đau đớn xuất hiện, con lại cưỡng lại, không tận hưởng được tình yêu trọn vẹn. Chúa nhân từ, nỗi đau của Người! Con phải đón lấy, con không được chống lại, con không được chống lại ý muốn của Người! Nếu đó là ý muốn của Chúa thì ý muốn của Người đã được thực hiện. Như một đứa trẻ, con xin trao thân này trong vòng tay hộ mệnh của Người. Người vô cùng nhân đức đối với con. Tại sao Người ban cho con nhiều thế trong khi con không xứng đáng nhận những ân sủng của Người? Sự đau đớn, sự đau đớn! Người vô cùng nhân từ đối với con. Người đừng để kéo dài, con van xin Người. Sự đau khổ của con sẽ ngắn và nhanh chóng kết thúc. Chẳng bao lâu con sẽ nhìn được mặt Người, nhưng bây giờ, trong khi con còn ở cõi đời này, con cảm ơn Người. Sự đau khổ! Đức Chúa Trời hiền lành của con. Người quá nhân từ đối với con. Con yêu Người!

… Hai thanh niên người Anh báo với một căn cứ không quân Mỹ đóng gần đó tìm kiếm Dane. Xác của Dane được mang vào bờ lúc năm giờ chiều, phân nửa mặt trời khuất sau vách đá.

Qua sổ thông hành của Dane, người ta đọc thấy nơi ghi thân nhân gần nhất địa chỉ của Justine tại Anh.

Chương 39

Điện thoại reo. Lúc đó chín giờ sáng, Justine còn đang ngủ. Nàng thầm rủa phương tiện văn minh quỷ quái này, thề rằng sẽ cắt dây điện thoại không thèm sử dụng nó nữa.

Nhưng điện thoại vẫn reo liên tục Biết đâu người gọi đó là Rainer. ànghĩ đó kéo Justine trở về với cuộc sống.

– A lô, Justine O” Neill?

– Phải rồi, Justine đây.

– Chúng tôi là Hội người Úc ở Aldwych.

Justine thất vọng vì không phải Rainer.

– Vâng, tôi nghe rõ.

Nàng chưa tỉnh ngủ, tiếp tục ngáp, mắt vẫn nhắm.

– Em trai cô có phải là ông Dane O” Neill?

Mắt Justine mở ra.

– Đúng thế.

– Người đó đang ở Hy Lạp phải không cô O” Neill?

Hai chân của Justine đang đứng trên thảm như lún xuống.

– Vâng, đúng thế.

Justine không muốn nghĩ đến việc giải thích với người đang liên lạc rằng đó là linh mục O” Neill chứ không phải là ông O” Neill.

– Cô O” Neill, tôi rất tiếc phải báo với cô một tin không haỵ

– Một tin không hay? Một tin không hay à? Tin gì vậy? Có chuyện gì xảy ra? Dane đã bị gì?

– Tôi lấy làm tiếc mà tin cho cô hay rằng em trai của cô, ông Dane O” Neill đã chết đuối ở Crete, trong một tình huống rất dũng cảm. Theo những tin tức tôi nhận được, ông ấy chết trong khi cứu một người đang lâm nguy ở bờ biển. Tuy nhiên, như cô đã biết, Hy Lạp dang có biến động cách mạng và các tin tức mà chúng tôi nhận được không đầy đủ, rất có thể không chính xác.

Máy điện thoại đặt trên chiếc bàn, sát vách tường mà Justine đang dựa vào, hai đầu gối của nàng cứ mềm ra. Justine tụt dần xuống đất, ngồi thu mình trên sàn nhà nấc lên những tiến đứt quãng nghe như vừa là tiếng cười vừa là tiếng khóc hòa lẫn tiếng thở hổn hển mệt nhọc. Dane chết đuối… Dane chết… Crete , Dane, chết đuối… Chết… chết.

– Cô O” Neill? Cô còn đó không, cô O” Neill? Bên kia đầu dây hỏi dồn dập.

– Chết. Chết đuối… Em trai tôi!

– Cô O” Neill, hãy trả lời!

– Vâng, vâng, vâng! Trời ơi tôi vẫn ở đây.

– Theo chúng tôi biết, cô là thân nhân gần nhất của ông Dane O” Neill. Chúng tôi phải xin ý kiến của cô về việc giải quyết như thế nào. Cô O” Neill, cô vẫn chưa nghe chứ?

– Vâng, vâng…

– Cô muốn người ta giải quyết thế nào về xác ông ấy?

Xác! Em tôi là một cái xác! Và người ta cũng không cần phải nói rõ xác của em tôi mà chỉ là cái xác thôi. Dane, Dane của chị. Em là một cái xác.

– Thân nhân gần nhất của Dane? Tôi không phải là thân nhân gần nhất của Dane; tôi nghĩ đúng nhất là mẹ tôi.

Ngừng một lúc.

– Thế thì rất phiền phức, cô O” Neill. Nêu cô không phải là thân nhân gần nhất của ông ấy, chúng tôi lại mất thêm một thời gian quí báu. Hình như cô không hiểu hiện nay cuộc cách mạng đang bùng nổ ở Hy Lạp và tai nạn lại xảy ra ở đây. Mọi liên lạc giữa đảo này với Athens hoàn toàn bị cắt và chúng tôi nhận được lệnh phải báo cho biết quyết định của thân nhân gần nhất liên quan đến thi thể nạn nhân. Mẹ cô có ở đấy không? Tôi có thể nói chuyện với bà không, rất cảm ơn.

– Nhưng mẹ tôi không có ở đây; bà hiện ở Úc.

– Ở Úc? Trời ơi, càng lúc càng rắc rối! Chúng tôi lại phải gởi một bức điện sang Úc, lại trễ nữa. Nếu cô không phải là thân nhân gần nhất, cô O” Neill, thì tại sao em trai cô lại ghi tên cô nơi dành để ghi chú chi tiết này trên sổ thông hành?

– Tôi không biết – nàng nói, bất chợt nàng nhận ra mình đang cười.

– Cô cho tôi địa chỉ của mẹ cô ở Úc, chúng tôi sẽ đánh điện tín cho bà hay. Chúng tôi phải biết được một cách dứt khoát cách giải quyết thi thể của ông Dane như thế nào. Việc trao đổi điện tín trễ mất ít nhất cũng mười hai tiếng đồng hồ. Tôi rất mong cô hiểu cho. Mọi chuyện đã khó khăn rồi không kể việc bất trắc này nữa.

– Vậy ông nên gọi điện thoại cho mẹ tôi. Đừng mất thì giờ với những bức điện tín.

– Quỹ của chúng tôi không cho phép sử dụng các cuộc điện đàm quốc tế, cô O” Neill ạ. Người liên hệ ở đầu dây nói bằng một giọng gay gắt. Xin cô vui lòng cho tôi địa chỉ của mẹ cô.

– Bà Meggie O” Neill, Drogheda, Gillanbone, New South Wales, Úc.

Nàng nói một hơi như đọc kinh.

– Một lần nữa, tôi xin thành thật chia buồn cùng cô O” Neill.

Justine buông điện thoại, ngồi phệt xuống đất. Chắc có một sự lầm lẫn nào đó, rồi tả cả chuyện này sẽ sáng tỏ. Dane bị chết đuối trong khi Dane lại lội giỏi như cá? Không, không thể được.

Nhưng đó là sự thật, Justine ơi, mày biết rõ như thế; mày từ chối không đi với Dane để bảo vệ Dane và Dane đã chết đuối. Mày là người che chở của Dane từ khi Dane còn bé và đáng lý mày phải có mặt ở đó. Nếu mày không thể cứu Dane thì mày cũng nên có đó để chết cùng Dane. Thế mà mày đã không đi cùng với Dane, chẳng qua chỉ vì mày muốn về Luân Đôn để ngủ với Rainer.

Thật khó tưởng tượng. Tất cả đều rất khó. Không có bộ phận nào trong người nàng chịu hoạt động, kể cả đôi chân. Justine ngồi dưới đất. Nàng không thể ngồi dậy. Nàng sẽ không bao giờ ngồi dậy được nữa. Trong tâm tưởng của nàng không có chỗ dành cho ai khác ngoài Dane, đâu óc nàng quay tròn càng lúc càng hẹp lại chung quanh Dane. Ôi, lạy Chúa! Tin tức sẽ về đến đó, sẽ gây đau thương cho mẹ và cho tất cả những người khác. Mẹ không có được niềm hạnh phúc ngắm nhìn lần cuối cùng gương mặt ngây ngất, nhập thần của Dane tại La Mã. Bức điện tín có thể đến đồn cảnh sát ở Gilly, nàng nghĩ bụng. Và ông trung sĩ già Ern sẽ lên xe hơi đi suốt đoạn đường dài đến Drogheda để báo với mẹ rằng con trai của bà đã chết. Ông ấy không phải là người thích hợp với nhiệm vụ này, ông là người xa lạ. Thưa bà O” Neill, tôi xin phép được bày tỏ những lời chia buồn xúc động nhất, con trai bà đã chết. Những lời lẽ lễ phép, khuôn sáo, rỗng tuếch… Không! Tôi không thể để xảy ra như thế, bà cũng là mẹ của tôi! Không thể theo cái cách mà tôi đã nhận hung tin, không thể theo cách đó.

Nàng đặt máy điện thoại lên đầu gối, cầm ống nghe và quay số điện đàm quốc tế.

Chính Meggie nghe điện thoại, lúc ấy đã khuya. Fiona đã đi ngủ. Thời gian gần đây bà thường về phòng sớm, thích ngồi trên giườn nghe tiếng dế và ếch kêu rồi ngủ gà ngủ gật trên cuốn sách và nhớ lại chuyện xưa.

– A lô?

– Thưa bà O” Neill, có điện thoại từ Luân Đôn. Tiếng nói của Hazel từ tổng đài ở Gilly.

– A lô, có phải Justine không? Meggie hỏi một cách bình thản vì thỉnh thoảng Justine vẫn điện thoại hỏi thăm bà.

– A lô, thưa mẹ. Có phải mẹ không?

– Mẹ đây, Meggie trả lời dịu dàng, bà nhận ra lời nói hoảng hốt của con gái.

– Mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ ơi, Dane chết rồi, Dane chết rồi mẹ ơi!

Vực thẳm lộ ra dưới chân Meggie, và bà rơi xuống đó, tiếp tục rơi mãi, bởi vực thẳm không có đáy. Bà có cảm giác như mặt đất đã khép kín lại trên đầu và bà nhận ra rằng bà sẽ không bao giờ trồi lên được cho đến ngày nào bà vẫn còn sống. Các thánh thần còn có thể làm gì hơn nữa? Bà không biết được điều đó khi đặt ra câu hỏi. Nhưng tại sao bà lại đặt ra một câu hỏi như thế; tại sao bà lại không thể biết trước điều đó? Đừng thách thức các thánh thần, các vị chỉ chờ có thế. Chối từ đi La Mã để chia sẻ giây phút hạnh phúc nhất của đời con mình. Bà tưởng rằng như thế là đã nộp xong cống vật.

– Justine, con thương yêu, con hãy bình tĩnh. Meggie khuyên con giọng đều đều không thay đổi. Con bình tĩnh lại và nói rõ cho mẹ biết chuyện gì đã xảy ra. Con có biết chắc như thế không?

– Hội người Úc gọi điện thoại cho con… Họ tưởng rằng con là người thân nhất của Dane. Một thằng cha tàn nhẫn cứ hỏi luôn miệng con muốn giải quyết ra sao thi thể của Dane.

– Chuyện xảy ra như thế nào Justine? Ở đâu? ở La Mã à? Tại sao Ralph không gọi cho mẹ?

– Thưa mẹ không phải ở La Mã. Rất có thể Đức Hồng Y không hay biết. Ở Crete. Người đàn ông gọi điện thoại cho con bảo rằng Dane chết đuối trong lúc cứu một người khác. Con muốn ở lại Luân Đôn đóng vai Desdemona. Con muốn ở lại với Rainer. Phải chi con cùng đi với Dane! Phải chi con ở bên cạnh em con, biết đâu sẽ không có chuyện gì xảy ra. Ôi Chúa, bây giờ phải làm gì đây thưa mẹ?

– Dừng lại Justine! Meggie cản ngăn con một cách trìu mến. Đừng lẩn quẩn với ý nghĩ không hay nghe không? Dane rất ghét như thế, con biết rõ mà. Tai họa giáng xuống và chúng ta cũng không biết tại sao nhưng bây giờ con phải bình tĩnh lại, mẹ có mất cả hai con đâu. Con là tất cả những gì còn lại của mẹ. Justine con của mẹ. Justine! Sao con ở xa mẹ thế. Thế giới quá rộng lớn, quá rộng lớn. Con hãy trở về Drogheda, mẹ không muốn con cô độc một mình.

– Không thể được, mẹ. Con phải làm việc. Công việc là chiếc phao duy nhất hiện nay của con. Nếu không làm việc, con sẽ điên mất. Con không muốn gặp ai hết, con không cần sự an ủi, mẹ ạ! Làm sao chúng ta có thể sống được khi thiếu Dane?

– Justine thương yêu của mẹ, đừng khóc nữa. Con ráng dằn nỗi đau xuống. Dane không muốn con khóc như thế đâu, con dư biết điều đó mà. Con hãy trở về nhà và quên đi. Chúng ta sẽ đưa Dane về Drogheda, thế là tự nhiên Dane lại thuộc về mẹ. Giáo hội không có quyền ngăn trở mẹ, họ không có quyền. Mẹ sẽ gọi điện thoại cho hội người Úc ngay tức khắc và tòa đại sứ của ta tại Athenes nếu vẫn có thể liên lạc. Dane phải trở về nhà! Mẹ không muốn em con nằm xuống ở một nơi nào khác hơn là Drogheda. Chỉ có ở đây mà thôi và Dane phải về đây. Con cũng về ngay với em con chứ, Justine?

Ngồi dưới đất, Justine lắc đầu như thể mẹ nàng có thể nhìn thấy. Trở về nhà ư? Nàng sẽ không bao giờ về nhà. Nếu có Justine đi theo thì Dane đã không chết. Về nhà và phải nhìn nét mặt của mẹ suốt cuộc đời còn lại sao? Không, ngay trong ý nghĩ nàng đã không thể chịu đựng nổi điều đó.

– Không đâu, mẹ – Justine nói, gương mặt đầy nước mắt – Con sẽ ở lại đây và làm việc. Con sẽ trở về nhà với Dane nhưng sau đó con lại qua Luân Đôn, con không muốn sống ở Drogheda.

Ba ngày liên tiếp, mọi người chìm trong thứ không khí hoang mang và trống rỗng. Justine ở Luân Đôn, Meggie và gia đình ở Drogheda; tin tức về cái chết của Dane bị gián đoạn đã kéo dài hy vọng về một điều không thể xảy ra. Justine tưởng tượng Dane sẽ đập của phòng của nàng bước vào mỉm cười, giải thích chẳng qua là một sự lầm lẫn nào đấy. Tình hình Hy Lạp đang sôi sục, có biết bao nhiêu tin tức không chính xác kia mà.

Bốn ngày sau khi Justine nhận được tin tức về Dane, Justine như một cô gái già. Một buổi sáng nàng mệt mỏi nhắc điện thoại lên và xin liên lạc với Úc.

– Có phải mẹ không?

– Justine đó hả?

– Con đây, thưa mẹ. Dane đã được an táng, thế là chúng ta không thể đưa Dane về Drogheda. Bây giờ mình phải làm gì hả mẹ? Nhà chức trách không cho biết gì thêm mà cứ lặp lại là đảo Crete rất rộng và không biết được vùng đất Dane nằm là gì. Khi con nhận được điện tín, thì Dane đã đem đi chôn cất. Ngôi mộ của Dane ở một nơi nào đó người ta không nói rõ và trên bia không ghi một chữ nào. Con không xin được hộ chiếu đi Hy Lạp, không ai giúp con, đúng là hỗn loạn. Mình làm gì bây giờ hở mẹ?

– Con đến La Mã gặp mẹ, Justine, – Meggie nói với con gái.

Mọi người – ngoại trừ Anne Mueller – đều vây quanh điện thoại, trên mặt lộ rõ đau thương. Chỉ mới ba ngày mà thấy mấy người đàn ông trong nhà như già thêm hai mươi tuổi. Fiona thì co quắp lại như một con chim bị bệnh, xanh xao. Ba cau có, đi tới đi lui trong nhà, miệng lẩm bẩm:

– Tại sao tôi không chết thay cho nó? Tại sao nó phải chết? Tôi già rồi, già quá rồi! Để cho tôi ra đi có phải là đơn giản hơn không. Tại sao lại là nó mà không phải tôi?

Meggie lặng nhìn mọi người và đặt điện thoại xuống. Drogheda còn lại bấy nhiêu người và chỉ có bấy nhiêu, một nhóm nhỏ đàn ông lẫn đàn bà lớn tuổi mệt mỏi và không còn có thể sinh nở gì được.

– Dane đã mất rồi. Meggie nói. Không ai có thể tìm ra thi thể Dane được. Nó được chôn cất ở một nơi nào đó trên đảo Crete xa xôi! Không thể để Dane nằm xuống ở một nơi xa Drogheda đến thế? Tôi sẽ đi La Mã ngay gặp Ralph. Ông ấy là người duy nhất có thể giúp chúng tạ

Linh mục bí thư của Hồng Y De Bricassart bước vào phòng.

– Thưa Đức cha, con xin lỗi làm bận rộn Đức cha, nhưng có một bà nhất định muốn gặp cho được Đức cha. Con có giải thích với bà ấy rằng Đức cha đang chủ trì hội nghị giám mục, rằng Đức cha đang rất bận và không thể tiếp bất cứ ai lúc này. Nhưng bà ấy khăng khăng rằng bà sẽ ngồi mãi trước cửa phòng của Đức cha cho đến khi nào Đức cha có thể tiếp.

– Theo cha thì bà ấy có gặp chuyện phiền phức không?

– Chắc là bà gặp chuyện phiền phức lớn thưa Đức cha. Bà yêu cầu con nói với Đức cha tên bà là Meggie O” Neill.

Hồng Y De Bricassart đứng phắt dậy; mặt ông biến sắc, trắng bệch như mái tóc đã ngả màu. Còn vị linh mục bí thư thì hốt hoảng:

– Thưa Đức cha, Đức cha có sao không?

– Không có gì đâu cha. Tôi vẫn bình thường xin cảm ơn. Cha hãy hủy bỏ các cuộc hẹn cho đến khi có lệnh mới và cha mời bà O” Neill vào đây ngay. Đừng để cho ai quấy rầy, ngoại trừ Đức Thánh cha có chuyện gì cần đến.

Linh mục nghiêng người chào cha Ralph và bước ra.

Meggie bước vào, suýt chút nữa Ralph nhìn không ra. Mười ba năm rồi, ông không gặp lại Meggie. Bã đã năm mươi ba tuổi, còn ông bảy mươi mốt, không phải chỉ riêng mình Ralph mà cả Meggie cũng đã già. Trên gương mặt của Meggie ít có nét thay đổi nhưng sự nghiêm khắc đã thay thế cho sự dịu dàng; sự cứng rắn thay thế cho tâm lý âu yếm. Bà là hình ảnh của một người tử vì đạo rắn rỏi, có tuổi và cương quyết hơn là một nữ thánh vốn nhẫn nhục và trầm tư trong những giấc mơ của mình. Meggie vẫn đẹp lạ lùng hơn bao giờ hết, đôi mắt lanh lẹ vẫn màu nâu và mái tóc rực rỡ ngả sang màu xám nâu nhạt, hơi giống màu tóc của Dane. Và càng ngạc nhiên hơn, Meggie lại từ chối nhìn Ralph đủ lâu để ông có thể thỏa mãn sự khao khát sau bao nhiêu năm không gặp.

Trước một Meggie như xa lạ ấy, Ralph không thể nào đón tiếp tự nhiên được, ông chỉ cho bà ghế ngồi và không trở lại được cách xưng hô thân mật xưa kia.

– Mời bà ngồi.

– Cảm ơn, – bà nói cũng cầu kỳ không kém.

Khi Meggie ngồi xuống, ông có thể nhìn rõ bà và nhận ra bàn chân và cổ chân của Meggie sưng lên rất dữ.

– Meggie! ông kêu lên. Em đã đến thẳng… Không dừng lại nơi nào hết à? Có chuyện gì thế?

– Vâng, tôi đến thẳng đây. Suốt hai mươi chín giờ đồng hồ ngồi trên các máy bay từ Gilly đến La Mã tôi không biết làm gì khác hơn là nhìn mây qua cửa kiếng và suy nghĩ.

– Có chuyện gì? Ông lặp lại, sốt ruột, lo âu, sợ hãi.

Bà ngước nhìn lên, nhìn thẳng Ralph.

Trong đôi mắt lạnh lùng của Meggie, có cái gì đó thê thảm tận cùng khiến cho Ralph phải ớn lạnh. Ông đưa bàn tay đặt lên sau cổ.

– Dane đã chết. – Meggie nói.

Bàn tay đeo chiếc nhẫn Hồng Y tụt xuống, rơi thẳng trên đầu gối như bàn tay một con búp bê nhồi trấu, toàn thân ông mềm nhũn trên chiếc ghế bành.

– Chết à? Ông hỏi chậm rãi. Dane chết?

– Vâng. Nó chết đuối cách đây sáu ngày ở đảo Crete trong khi bơi ra cứu hai cô gái bị nước cuốn.

Ông nghiêng người ra phía trước, hai bàn tay đưa lên, chạm mặt.

– Chết? Miệng ông ấp úng. Dane! Dane chết? Thằng bé tuyệt vời ấy… Nó không thể chết được! Dane… linh mục hoàn toàn… tất cả những gì tôi không thể có được… Nó có tất cả những gì tôi không có… Nó luôn luôn có được điều đó… Chúng tôi đều biết như thế… Tất cả chúng tôi đều không phải là những linh mục thật hoàn chỉnh. Chết rồi ư? Ôi, Đức Chúa Trời nhân ái!

– Ông không có gì phải lo lắng về Đức Chúa Trời nhân ái của ông, Ralph ạ! Người phụ nữ có vẻ xa lạ ngồi trước mặt ông lên tiếng – Ông có chuyện khác cần làm hơn. Tôi đến đây để yêu cầu sự giúp đỡ của ông… chứ không phải làm chứng cho sự đau xót. Trong suốt những giờ ngồi trên máy bay, tôi không ngừng lặp đi lặp lại những lời lẽ mà tôi sẽ phải nói để báo tin này cho ông… Tất cả những giờ phút ấy tôi không thể làm gì khác hơn là nhìn mây qua cửa kiếng. Dane đã chết rồi. Sau một thử thách ghê gớm như thế, tôi chẳng cần gì đến nỗi đau xót của ông.

Khi Ralph ngước đầu lên thì trái tim tưởng chừng như chết lịm và băng giá của Meggie giật nẩy lên, se thắt lại. Đúng là gương mặt của Dane rồi nhưng sao lại hằn lên nét đau khổ.

– Anh có thể giúp được gì cho em, Meggie? ông hỏi giọng đều đều, kìm chết xúc động để có thể trở lại với vai trò người chăm lo về mặt tinh thần.

– Hy Lạp đang sôi sục cách mạng. Người ta chôn Dane một nơi nào đó ở Crete mà tôi không biết, chôn lúc nào tôi cũng chẳng hay. Vì không thể liên lạc, nên người ta tưởng nó đơn độc trên cõi đời này. Tôi muốn người ta trả lại con cho tôi, Ralph. Tôi muốn người ta tìm Dane và đưa trở về nhà để nó được yên nghỉ trên mảnh đất Drogheda thân yêu. Tôi đã hứa với Justine rằng em của nó sẽ được chôn ở Drogheda và chắc chắn phải như thế, cho dù tôi buộc phải đi bằng đầu gối tìm kiếm Dane khắp các nghĩa trang ở Crete. Không bao giờ tôi để cho nó nằm trong một ngôi mộ của người tu hành ở La Mã này. Không thể có chuyện đó ngày nào tôi còn thở để đòi lấy sự hợp lý này. Nó phải về nhà thôi, Ralph ạ.

– Không ai tước đi quyền ấy của em, Meggie – ông nói dịu dàng – Giáo hội chỉ buộc Dane được yên nghỉ trên đất thánh. Anh cũng thế, anh muốn được nằm xuống ở Drogheda.

– Tôi không mất thời gì vì những chuyện thủ tục hợp pháp – Bà nói tiếp không thèm để ý đến câu trả lời của Ralph – Tôi không biết nói tiếng Hy Lạp và cũng chẳng có quyền hành hay ảnh hưởng gì tại đây. Do đó, tôi phải nhờ vào quyền hành và ảnh hưởng của ông. Hãy mang trả lại con trai cho tôi, Ralph.

– Em đừng quá lo lắng, Meggie, Dane sẽ được trả lại cho em, nhưng có lẽ phải mất một ít thời gian. Cánh tả đang cầm quyền ở Hy Lạp và hiện nay họ chống giáo hội gay gắt. Tuy nhiên anh không thiếu bạn bè ở đấy và có thể giúp được. Em cứ để cho anh tiến hành ngay và đừng lo lắng nữa. Đây là chuyện liên quan đến Nhà thờ công giáo và người ta sẽ giao trả Dane cho chúng ta.

Đưa tay định nắm dây kéo chuông để gọi linh mục bí thư, nhưng trước cái nhìn lạnh lùng của Meggie, ông ngừng tay lại.

– Ông không hiểu gì hết, Ralph. Tôi không yêu cầu ông cho tiến hành. Tôi muốn lấy lại con tôi… Không phải trong tuần lễ tới hay tháng tới, mà ngay tức khắc. Ông biết nói tiếng Hy Lạp cũng như có thể xin các giấy nhập cảnh cho ông và cho tôi một cách dễ dàng. Tôi muốn ông cùng đi với tôi sang Hy Lạp ngay và ông giúp tôi tìm lại con tôi.

Ãnh mắt của Ralph chứa đựng nhiều tình cảm lẫn lộn: âu yếm, trắc ẩn, xúc động, xót xa. Trong ánh mắt ấy còn có cả sự tỉnh táo.

– Meggie, anh thương con em như con của anh, nhưng anh không thể rời La Mã lúc này. Anh không được tự do hành động theo ý muốn của anh… Đáng lý em biết rõ điều đó hơn ai hết. Tình cảm của anh đối với em thế nào em đã rõ và dù nỗi đau khổ của anh có nặng trĩu đến đâu, anh vẫn không thể rời La Mã ngay giữa thời kỳ hội nghị! Hội đồng giám mục. Anh đang làm phụ tá cho Đức Thánh Cha.

Ngồi bật ra phía sau, bàng hoàng như bị xúc phạm, Meggie lắc đầu, nhếch miệng cười mỉm cay đắng như đang chứng kiến một trò hề. Nàng bắt đầu run lên, liếm môi như sắp lấy một quyết định rồi ngồi thẳng, ngay ngắn, cứng nhắc.

– Có thật ông thương con của tôi như nó là con của ông không, Ralph? ông sẽ hành động ra sao nếu đó là con của chính ông? Có thể nào ông lại tiếp tục ngồi đây và nói với mẹ của nó rằng “Không, tôi lấy làm tiếc; tôi không thể nào bỏ công việc đượcâ€. Ông có thể nói như thế với mẹ của con ông chứ?

Đôi mắt của Dane – nhưng thật thật ra không phải của Dane – nhìn bà, hốt hoảng, tràn đầy đau khổ, bất lực.

– Anh không có con, ông nói. Nhưng anh đã học ở con em rất nhiều điều như phải biết vượt qua những khó khăn tệ hại nhất và luôn hướng về Chúa bằng tấm lòng chân thật.

– Dane chính là con của ông, – Meggie đột ngột nói.

Ralph nhìn bà bằng cái nhìn trống rỗng, nói hoảng hốt:

– Cái gì?

– Tôi muốn nói rằng Dane chính là con của anh. Khi em rời khỏi Matlock, em đã có thai, Dane là con của anh chứ không phải của Luke O” Neill.

– Không thể… như thế được!

– Em không có ý định nói cho anh biết điều đó, ngay cả bây giờ em cũng chẳng muốn nói như thế đâu. Anh nghĩ em nói láo với anh chăng? Để làm gì?

-… Để tìm cách lấy lại Dane? Đúng thế. ông nói bằng một giọng rất thấp.

Meggie bước tới, đứng trước Ralph. Giờ đây ông ta chỉ còn là một khối bất động trong chiếc ghế bành bọc gấm màu vàng rực. Meggie cầm đôi bàn tay gầy, nhăn nheo đặt vào tay mình, nghiêng mình xuống và hôn chiếc nhẫn, hơi thở làm mờ viên hồng ngọc.

– Ralph à! Trên tất cả những điều thiêng liêng nhất, em xin thề rằng Dane là con của anh. Nó không phải và không thể nào là con của Luke được. Em xin thề với anh điều đó. Em xin thề trên vong hồn của con chúng ta như thế.

Tếng kêu rên siết của Ralph chẳng khác gì lời than vãn của một linh hồn vừa bước qua các cửa địa ngục. Ralph tuột khỏi chiếc ghế, buông người sụp xuống tấm thảm đỏ thắm, ông khóc, gương mặt giấu trong hai cánh tay khoanh lại, những ngón tay bấu chặt vào tóc.

– Phải, anh cứ khóc đi! Meggie nói. Bây giờ anh đã biết rồi thì anh cứ khóc! Cũng đúng thôi, một trong những người thân nhất của Dane được nhỏ những giọt nước mắt cho con. Khóc đi, Ralph. Trong suốt hai mươi sáu năm, em đã có đứa con, con của anh; nhưng còn anh thì không hề hay biết nó là con của anh. Anh không nhìn ra, anh không nhận ra nó là anh, là một nửa con người của anh! Khi mẹ em kéo Dane ra khỏi bụng em, mẹ đã biết ngay nó là con của anh, nhưng anh thì không hề biết. Bàn tay của anh, bàn chân của anh, gương mặt của anh, thân hình của anh. Chỉ có màu tóc là của em. Bây giờ thì anh đã hiểu rồi chứ? Khi em gởi Dane đến đây, em đã nói trong bức thư gởi anh: “Cái gì em đã đánh cắp của anh, em xin trả lại cho anh. Anh còn nhớ chứ? Cả hai chúng ta đã ăn cắp Dane, anh ạ. Chúng ta đã ăn cắp cái mà anh đã hiến cho Chúa, do đó cả hai chúng ta phải trả giá mà thôi.

Meggie quay trở lại ngồi vào chiếc ghế của mình, khắc khổ, tàn nhẫn, nhìn khối đỏ chói nằm rên rỉ dưới đất.

– Em đã yêu anh, Ralph, nhưng anh chưa bao giờ thuộc về em cả, Dane là tất cả những gì mà em có thể giành được ở anh. Em đã thề rằng anh sẽ không bao giờ biết được điều đó, rằng anh không bao giờ có khả năng lấy lại. Thế nhưng, nó đã tự nguyện về với anh, do chính ý muốn của nó. Nó coi anh như là hình ảnh của một linh mục lý tưởng. Em suýt nữa cười phì! Nhưng không đời nào em lại trao cho anh một thứ vũ khí bằng cách thú nhận với anh nó là con của anh, trừ khi sự việc đã xảy ra như thế này thì em mới thấy cần phải nói với anh điều đó, mặc dù bây giờ cũng chẳng còn gì là quan trọng nữa. Dane không thuộc về ai trong hai chúng ta mà thuộc về Chúa.

Chương 40

Hồng Y De Bricassart thuê một chiếc máy bay riêng ở Athens; ông, Meggie và Justine đưa Dane về quê nhà, ở Drogheda. Những người sống ngồi im lặng, người chết lặng im nằm trong quan tài, không còn biết đòi hỏi gì ở cõi đời này nữa.

Trong căn phòng ảm đạm, Ralph trầm ngâm: Ta có bổn phận làm lễ và đọc kinh cầu hồn cho Dane, con của ta. Con ơi con là máu thịt của ba. Đúng thế, Meggie anh tin em; ngay khi anh vừa lấy lại hơi thở sau cơn xúc động, anh đã tin em; và anh sẽ tin mãi mãi dù em không nói lên lời thề dữ dội. Vittorio đã biết ngay lần đầu tiên ông gặp Dane. Fiona cũng thế, Anne Mueller cũng thế… Chỉ có anh… Dane ơi, ba nhớ lại tiếng cười của con sau bụi hồng khi ba gặp con lần đầu hồi con còn bé… Và đôi mắt ngước nhìn của con không hề khác đôi mắt của ba thời thơ ấu chút nào.

Ralph de Bricassart! Tại sao ông đứng yên, hãy mở miệng đi và nói thành lời, hãy ra lệnh cho đôi tay làm phép lành, hãy bắt giọng cho bài thánh ca dành cho người đã chết. Đó là con của ông, ông yêu nó hơn cả mẹ nó kia mà. Vâng, hơn cả mẹ nó nữa! Vì rằng nó chính là ông, là hiện thân của ông được đúc lại trong một khuôn hoàn hảo.

In Nomine Patris, et Fillii, et Spiritus Sancti…

Nhà thờ riêng của gia đình Cleary đầy người. Tất cả những ai cần có mặt. Gia đình King, O” Rourke, Havies, Pugh, Mac Queen, cùng những người sống chết với Drogheda.

Hy vọng đã tàn, ánh sáng đã tắt. Linh mục Dane O” Neill nằm đó trước bàn thờ, trong một quan tài hàn chì phủ hoa hồng.

Tại sao hoa hồng luôn nở rộ vào mỗi dịp Ralph trở về Drogheda? Bây giờ là tháng mười, ngay giữa mùa thu. Hoa hồng sặc sỡ thật đúng lúc.

Sanctus… Sanctus… Sanctus…

Con phải nhớ Thánh của các vị Thánh đang ngự trị trong con. Dane của ba, con trai tuyệt vời của ba. Như thế này mà tốt hơn đấy. Ba không muốn con đi theo con đường của ba chút nào, cũng chẳng muốn con đến nơi mà ba đã đến. Ba không biết điều gì đã khiến ba nói với con những lời lẽ này. Con không còn đi theo con đường mà ba đã đi, con chẳng bao giờ cần như thế cả Dane ạ. Cái mà ba phải mò mẫm kiếm tìm, con đã tìm thấy bằng bản năng. Người đau khổ không phải là con mà chính là ba và tất cả những người còn sống. Hãy thương xót họ và khi đến lượt họ, con hãy cứu giúp tất cả.

Ite, Missa est… Requiescat in peace…

Đoàn người ra khỏi nhà thờ, đi qua một bãi cỏ và những hàng cây bạch đàn, hồ tiêu thẳng tới nghĩa trang. Dane, con hãy yên giấc, chỉ có những người được Chúa chọn mới chết trẻ như con. Tại sao chúng ta lại đau xót? Con may mắn được sớm thoát khỏi cuộc sống mỏi mệt này Chính cuộc sống này mới là địa ngục; một bản án nô lệ suốt đời ở trần thế. Chúng ta phải chịu đựng sự đau khổ trong địa ngục này khi chúng ta còn sống là như thế.

Ngày qua ngày, những người đến dự tang lễ lặng lẽ trở về nhà, họ tránh chạm mặt nhau. Ãnh mắt của Hồng Y De Bricassart có một lúc hướng về phía Meggie nhưng ông không đủ can đảm nhìn vào mặt nàng thêm lần nữa. Justine thì đã vội vàng rời Drogheda để kịp lên máy bay đi Sydney và từ đó về Luân Đôn trong chuyến bay đêm. Tại sao Justine không bảo Rainer cùng đi theo mình? Nàng dư biết Rainer yêu nàng đến mức nào và anh thiết tha được ở bên nàng giữa những giây phút này như thế nào. Chính Hồng Y cũng quên mời Rainer cùng đi dù trước đó nhiều lần ông có dự tính. Đúng là đầu óc ông lúc ấy đã quá mỏi mệt. Những con người ở Drogheda thật lạ lùng, họ không muốn có nhiều người vây quanh giữa lúc buồn khổ, họ thích đối diện một mình với nỗi thương đau.

Sau buổi ăn chiều mà ai cũng tỏ ra lạnh nhạt, chỉ còn Fiona và Meggie ngồi với Hồng Y trong phòng khách. Không ai nói một lời. Chiếc đồng hồ mạ vàng nằm trên lò sưởi cẩm thạch buông từng tiếng tích tắc nghe vang to khủng khiếp. Và ở phòng kế bên, từ bức họa chân dung treo trên cao, Mary Carson nhìn trừng mắt như thách thức bà ngoại Fiona. Fiona và Meggie ngồi cùng một tư thế trên ghế sofa hai mẹ con dựa vai vào nhau. Hồng Y đọc lại trong trí nhớ của mình hình như chưa lần nào thấy hai người gần gũi với nhau như thế. Nhưng cả hai người không ai nói với ai một lời nào và cũng không nhìn nhau. Mắt của họ cũng không hướng về ông.

Ông đã hiểu mình đã phạm tội gì: Kiêu ngạo, tham vọng, phần nào đó thiếu sự thận trong. Và tình yêu của ông dành cho Meggie đã sinh sôi nẩy nở trên đống bầy nhầy ấy! Vả lại ông chưa bao giờ biết đến sự đăng quang của mối tình đó. Sự việc đã khác hơn biết mấy nếu ông biết ông biết được Dane là con của ông? Có thể ông sẽ yêu con người đặc biết ấy nhiều hơn. Biết đâu ông sẽ đi theo một con đường khác nếu ông hiểu rõ chuyện con trai của ông? Đúng thế! Con tim của ông đã hét lên. Không! Nhưng ngay khi đó thì lý trí lại chế giễu ông.

Ông tự trách mình ngu ngốc! Ralph ạ. Đáng lý mày phải biết Meggie không đời nào trở lại với Luke. Mày phải biết ngay Dane là con của ai. Nàng tự hào về nó vô cùng! Đó là tất cả những gì mà nàng đã giành được ở mày, đó là điều mà nàng đã nói với mày ở La Mã.

Hay lắm, Meggie à, với Dane em đã đạt được đều tốt đẹp nhất. Ralph, tại sao mày đui mù đến đỗi không nhận ra ngay vào lúc Dane gặp mày, khi Dane thành người lớn, nếu trước đó mày chưa nhận ra. Nàng đã chờ đợi mày gặp mặt con; nàng nóng lòng chờ đợi. Phải chi mày hiểu được đều đó thì Meggie đã quì dưới chân mày. Nhưng mày có mắt mà như mù. Mày không chịu nhìn.

Trong căn phòng đầy ắp những tiếng nói the thé, rù rì đồng hồ quả lắc vang lên từng tiếng theo nhịp đập của tim ông. Rồi tiếng tim đập tách ra. Meggie và Fiona đứng dậy mà như bơi trong không khí, gương mặt hốt hoảng, chìm đắm trong một thứ sương mù bồng bềnh. Cổ họng phát ra những lời mà ông không nghe được.

– Aaaaaaa! ông kêu lên một tiếng.

Và ông đã hiểu.

Ông chỉ thoáng nghe đau, vì rằng tất cả sự chú ý của ông đều tập trung vào hai cánh tay của Meggie đang ôm lấy ông, đến cách ông ngả đầu vào nàng như thế nào. Tuy nhiên, cuối cùng ông đã cố quay đầu lại cho đến khi gặp đôi mắt nâu của Meggie; rồi ông nhìn nàng. Ông định nói với nàng hãy tha thứ cho anh thì nhận ra nàng đã tha thứ cho ông từ lâu rồi. Nàng biết rằng nàng đã chiếm đoạt được ở ông phần tốt đẹp nhất. Ông mong được nói lên những câu thật hoàn chỉnh để nàng vĩnh viễn được an ủi. Nhưng đồng thời ông cũng không nhận ra rằng ngay chuyện này với nàng cũng không cần thiết. Dù cho gánh nặng có thế nào đi nữa, nàng cũng chịu đựng được. Nàng có thể chịu đựng bất cứ cái gì. Bất cứ cái gì! Và như thế ông nhắm mắt lại, lịm dần và buông xuôi, tìm kiếm một lần cuối cùng sự quên lãng ở Meggie.

Ngồi trong phòng làm việc ở Bonn, trước tách cà phê buổi sáng, Rainer đọc thấy tin Hồng Y De Bricassart mất trên một tờ báo. Cuộc khủng hoảng chính trị mấy tuần qua đã bớt gay gắt, cho nên Rainer tự cho phép mình được hưởng vài giây phút thoải mái, lòng hân hoan với ý nghĩ sắp sửa gặp lại Justine, hoàn toàn không có chút lo ngại gì về sự im lặng của nàng.

Nhưng khi anh hay tin Hồng Y chết, đầu óc của Rainer không còn nghĩ đến Justine chút nào nữa. Rainer cấp tốc bay đến La Mã.

Qua Hồng Y Di Contini Verchese, Rainer biết mọi chuyện. Ông bàng hoàng đến đỗi phải tự hỏi tại sao Justine không báo tin cho ông haỵ

– Ralph đã tìm tôi và hỏi tôi có biết Dane là con của ông ta hay không. – Hồng Y thuật lại bằng một giọng dịu dàng, tay vuốt ve con mèo cái Natasha.

– Và Đức Cha đã trả lời như thế nào?

– Tôi nói với ông ấy là tôi linh cảm điều đó. Tôi không thể nói gì thêm. Thật là kinh hãi đối với ông ấy. Tôi đã khóc khi nhìn thấy nét mặt rã rời của ông. àcủa Chúa đã được thực hiện. Tôi nghĩ rằng Ralph là một trong những con người ray rứt nhất mà tôi được biết. Trong cái chết, ông ấy sẽ tìm thấy sự bình an mà khi sống ông đã kiếm tìm vô cùng.

Khi trở về Bonn, Rainer thấy sẵn trên bàn làm việc của mình một thư khẩn của Justine và một bưu kiện bảo đảm do thừa phát lại của Ralph gửi đến. Ông mở bưu kiện trước và được biết qua nội dung di chúc của Ralph, từ nay ông phải đảm trách thêm việc điều hành hãng Michar Limited và Drogheda. Ralph đã trao vào tay Rainer trách nhiệm bảo đảm tương lai vật chất của Meggie O” Neill và dòng họ Cleary của bà. Đặt bưu kiện qua một bên, ông bắt đầu mở thư của Justin. Thư khô khan, không có một dòng tình cảm xã giao.

… Anh không thể tưởng tượng được tôi vui sướng như thế nào về việc chúng ta không liên lạc với nhau hai tuần qua, vì rằng có anh bên cạnh là tôi không thể chịu được. Trong lúc này, mỗi khi tôi nghĩ về anh, tôi cảm ơn Trời rằng anh đã không hay biết chuyện gì đã xảy ra. Điều này có vẻ khó hiểu với anh, sự thật là tôi không muốn có anh bên cạnh tôi. Sự đau khổ không có gì đẹp đẽ để nhìn ngắm, Rain ạ, và nếu anh chứng kiến sự đau khổ của tôi, anh cũng không thể an ủi được điều gì đâu. Người ta có thể cho rằng nỗi bất hạnh này đã chứng tỏ tôi thương anh rất ít. Nếu tôi yêu anh thật sự, tự nhiên tôi đã quay về phía anh. Thế nhưng tôi nhận ra rằng tôi đã quay đi chỗ khác.

Cho nên tôi thấy hay hơn cả là chúng ta hãy dừng lại ở đây một cách vĩnh viễn, Rain ạ. Tôi không có gì để cho anh và tôi cũng không muốn gì ở anh. Chuyện xảy ra đã cho tôi bài học về sự hiện diện của một người quý giá là như thế nào khi nó kéo dài suốt hai mươi sáu năm. Tôi không thể chịu đựng thêm lần nữa một sự thử thách như thế; và chính anh đã nói điều này, anh có nhớ không? Hôn nhân hoặc là không gì cả. Thì đấy, tôi chọn không gì cả.

Mẹ tôi có cho biết ông Hồng Y già đã chết vài tiếng đồng hồ sau khi tôi đi khỏi Drogheda. Thật lạ lùng, mẹ tôi rất đau xót về cái chết của ông ta. Không, mẹ tôi chẳng nói gì với tôi hết, nhưng tôi đoán điều ấy. Tôi không thể nào hiểu được tại sao mẹ tôi, Dane và anh lại thương ông ta đến thế. Phần tôi, tôi chẳng có chút cảm tình nào đối với ông ấy. Theo tôi, ông ta là một kẻ giả dối. Đến bây giờ tôi vẫn nói thế cho dù ông ấy đã chết.

Thế đấy. Tất cả đã được nói ra. Tôi rất thành thật Rain ạ. Tôi đã quyết định, tôi không cần gì ở anh cả. Anh hãy giữ gìn sức khỏe.

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: