Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai (Chương 16-20)

Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai

Colleen McCullough

Chương 16

Tất cả những người khác đều kịp về Drogheda trước khi cơn bão đến, họ bỏ ngựa ở ngoài sân và hối hả hoặc chạy vào ngôi nhà lớn hoặc vào căn nhà dành cho những người đàn ông độc thân.

Trong phòng khách được Fiona trang hoàng, đèn sáng rực. Anh em gia đình Cleary ngồi quanh lò sưởi lắng nghe tiếng gió gào thét. Không ai có ý định ra ngoài để chứng kiến cơn phẫn nộ của trời đất. Mùi củi khuynh diệp cháy thật dễ chịu. Bánh xăng-uých và bánh ngọt bày đầy trên chiếc bàn nhỏ ở đó có sẵn ấm trà. Tất cả đã giữ họ lại trong thứ không khí êm đềm. Cả gia đình không hề chờ đợi Pađy trở về vào lúc này.

Khoảng bốn giờ, các đám mây kéo về hướng tây, bất giác mọi người đều thấy dễ thở hơn. Thật ra chẳng ai có thể yên tâm được giữa lúc cơn bão khô đang hoành hành, dù mỗi nhà ở Drogheda đều có cột thu lôi. Jack và Bob đứng lên, lấy cớ ra ngoài để hít thở không khí, nhưng thật ra là để trút bỏ những lo âu vây hãm.

– Xem kìa! Bob đưa tay chỉ về hướng tây.

Sau những ngọn cây bao quanh bãi chăn chính, một màn khói vàng sậm thật dày phủ cả một góc chân trời và càng lúc càng lan rộng mà nhìn từ xa như những tấm biểu ngữ khổng lồ rách tơi tả vì gió.

– Trời ơi! Jack chỉ kịp kêu lên rồi chạy đến máy điện thoại.

– Cháy! Cháy! Jack hét lớn, trong khi những người khác sau phút bàng hoàng cũng ùa chạy ra ngoài. Jack tiếp tục hét: cháy dữ dội ở Drogheda!

Rồi Jack bỏ máy xuống. Anh không cần nói gì thêm với người trực tổng đài ở Gilly. Mặc dù gia đình Cleary từ khi đến đây chưa hề chứng kiến một vụ cháy nào nhưng ai cũng đều biết mình phải làm gì. Đám con trai chạy tìm ngựa, những người làm thuê nhanh chóng rời lán trại, trong khi ấy bà Smith mở cửa một trong những kho, phân phát ngay mấy chục chiếc bao tải bằng vải.

Cột khói càng ngày càng cao ở phía tây và gió lại thổi từ hướng này, đám cháy đe dọa tiến vào trung tâm vùng Drogheda. Fiona thay chiếc váy, lấy quần của Pađy mặc vào rồi theo Meggie chạy ra chuồng ngựa. Tất cả người trong gia đình này ai cũng biết sử dụng chiếc bao tải để dập lửa.

Giữa cơn giông bão lại đánh hơi mùi khói mấy con ngựa lồng lên không chịu để thắng yên dễ dàng.

Bob và mấy người làm thuê đi được năm phút. Fiona và Meggie phi nước đại dọc theo con suối rồi tiến thẳng về phía màn khói dày đặc đang cuồn cuộn bốc cao. Phía sau Tom và người làm vườn, vừa bơm đầy nước vào chiếc xe xitéc và nổ máy ngay. Trước một đám cháy rừng như thế này, việc tiếp nước như vậy chẳng thấm vào đâu; thật ra số nước này chỉ để giữ cho các bao vải luôn luôn ướt và cũng như để tưới lên người cho những ai có nhiệm vụ xông vào đàn áp lửa. Trên con đường về hướng tây, đi ngang qua dãy nhà ở mép ngoài nơi có khả năng bị cháy trước tiên, Tom bỗng nảy ra ý kiến xịt vòi rồng tưới ướt trước ba căn nhà này, trong đó có căn nhà của người quản lý.

Trong lúc Meggie phi ngựa bên cạnh Fiona, màn khói ở phía tây càng bừng lên dữ dội, một mùi cháy khét gay gắt. Bóng tối bắt đầu phủ trùm; các loại thú chạy tán loạn về hướng đông, băng qua khu đất kết thành từng đoàn dày đặc; nào là căngguru, heo rừng, cừu, đà điểu, gấu có túi và hàng ngàn thỏ. Meggie nói với mẹ “Bob đã mở các cổng”. Lúc này hai mẹ con đang từ khu đất rào nuôi cừu mang tên Borehead đi đến khu đất Billa – Billa. Giống cừu thật đần độn. Khi chạm mặt vào hàng rào thì dù cho cách đó không bao xa có một cái cổng đã mở, chúng vẫn không biết làm sao chạy thoát ra được. Cánh đàn ông đến nơi thì đám cháy đã di chuyển đến 15 cây số, trải rộng theo chiều ngang và lan ra từng giây một. Trước cảnh tượng lửa cháy từ lùm cây này sang lùm cây khác, gió thổi mạnh bắt mồi khắp các đám cỏ mọc cao, cánh đàn ông như bị chết cứng trên ngựa, họ nhìn về hướng tây bất lực. Những con ngựa, tỏ ra hoảng sợ và họ không thể điều khiển được nữa. Đừng mong gì khoanh đám cháy lại ở mỗi chỗ này; cả một đội quân đông đảo cũng không mong làm được. Chỉ còn cách là trở về khu nhà ở và dốc hết sức mà bảo vệ khu này. Chiều rộng của đám cháy đang lan dần, khoảng bảy cây số. Nếu họ không thúc ngay mấy con ngựa mệt mỏi quay trở về thì không còn kịp thoát thân nữa. Tiếc thay những con cừu. Tiếc quá nhưng họ không thể làm gì để cứu chúng.

Nhiều xe hơi đậu gần nhà và trên đường từ Gilly đến, nhiều ánh đèn pha nối nhau chói sáng trong đêm. Khi Bob vừa vào tới sân nhà, thì một đám đông đang chờ sẵn anh ta.

– Tình hình thế nào Bob? Martin King hỏi

Bob trả lời với vẻ thất vọng.

– Theo tôi, đám cháy quá lớn, khó mà dập tắt được. Chiều ngang đến bảy cây số và gió như thế này thì lửa bắt tới nhanh còn hơn cả ngựa phi nước đại. Tôi không biết chúng ta có thể cứu trang trại không, nhưng về phần Horry chắc chắn ông ấy phải chuẩn bị bảo vệ sản nghiệp vì lửa đã sắp đến đó. Tôi không nghĩ ra cách nào để có thể ngăn chặn.

Martin King được giao quyền chỉ huy ba trăm người chủ yếu để bảo vệ Drogheda. Ông là người chăn nuôi lâu năm nhất trong vùng và từng chiến đấu với các vụ cháy rừng năm mươi năm qua.

– Tôi có sáu chục ngàn mẫu ở Bugela – ông ta nói. Vào năm 1905, tôi bị trắng tay, hết sạch cừu và cả cây cối trong trang trại. Mười lăm năm sau tôi mới gầy dựng lại được; có lúc tôi tưởng phải bó tay vì giá len chẳng là bao và cả thịt bò cũng thế.

Bên ngoài những trận cuồng phong vẫn ào ào thét, mùi cháy khét khắp nơi. Vào nửa đêm, phía tây vẫn đỏ rực một thứ ánh sáng của địa ngục, khói và tro từ trên cao phủ xuống khiến mọi người phải ho sặc sụa. Một lúc sau, mọi người nhìn thấy những ngọn lửa đầu tiên như những cái lưỡi khổng lồ nhảy múa uốn khúc. Sau màn khói khoảng 30 mét; rồi một tiếng gào thét ầm ĩ nổi lên không khác tiếng gào thét của một cầu trường đông nghẹt khán giả điên cuồng hò hét. Hàng cây bọc quanh khu đất rào nuôi cừu ở hướng tây bốc cháy và biến thành một bức tường lửa dày đặc, rực sáng.

Đứng trên hành lang của ngôi nhà lớn, hai mắt mở to kinh hãi; Meggie sửng sốt nhìn thấy rõ từng bóng người li ti in trên lửa, nhảy tới nhảy lui, tay chân cử động hỗn loạn.

Hai tiếng đồng hồ sau, cánh đàn ông đầu tiên quay về. Mệt nhừ, họ ngả nghiêng lục tìm bất cứ thứ gì có thể ăn được để lấy lại sức rồi trở về biển lửa tiếp tục chiến đấu. Phụ nữ ở nhà được huy động để lo việc tiếp tế, ăn uống, làm sao luôn có đầy đủ món ragu cừu, bánh mì, trà nóng, rượu Rhum và bia cho ba trăm người. Khi một vụ cháy lớn xảy ra, ai ai cũng có nhiệm vụ của mình.

Giữa hai đợt vào bếp lấy thức ăn tiếp tế cho cánh đàn ông Meggie quan sát đám cháy, lòng ngập tràn một thứ kính cẩn lạ lùng đối với sức mạnh vô hình trong đó lẫn lộn sự âu lo và kinh hãi. Điều ghê gớm đang diễn ra lại ẩn chứa cái đẹp hơn hẳn bất cứ kỳ quan nào đang có trên trái đất này, vì rằng cái đẹp đó thuộc về trời đất, thuộc về những thái dương thật xa xăm đến nỗi ánh sáng của nó đến đây đã giá lạnh. Đó là cái đẹp từ thượng đế và từ quỷ mà ra. Bây giờ trận biển lửa ấy nổi lên màu đen, màu cam, màu đỏ, màu vàng và màu trắng. Một thân cây thật to đen sì hiện rõ lớp vỏ ánh lên màu cam rực lửa, than hồng vừa tách ra khỏi thân bay chập chờn như những bóng ma tinh quái. Thật thế, một cảnh tượng vĩ đại giữa đêm đen. Meggie sẽ nhớ mãi suốt đời.

Trung tâm sống còn của Drogheda chỉ cách ranh giới phía đông của trang trại năm cây số, nơi gần Gilly nhất. Beel Beel tiếp nối liền với trang trại và xa hơn nữa về phía đông là Narrengang. Khi trận cuồng phong ào ào với tốc độ tám mươi cây số giờ, thì cả vùng đều hiểu rằng, ngoại trừ một cơn mưa to ập xuống đúng lúc, không có cách nào tránh được lửa tiếp tục cháy trong nhiều tuần, biến hàng trăm cây số đất đai màu mở trở thành sa mạc. Giữa lúc nguy ngập như thế thì nhờ Tom mà nhà cửa gần con suối vẫn còn nguyên. Ông ta như người bị quỷ ám, cứ mang xe bồn đi đổ đầy nước, rồi tưới ào ào vào tường nhà, rồi lại đi lấy nước và lại phun liên tục. Nhưng khi cơn gió nổi lên dữ dội, Tom đành phải tháo lui đầu hàng, nước mắt ràn rụa. Nhà cửa ở đó không thể cứu được nữa rồi.

– Đáng lý ra ông bạn nên quỳ gối xuống và tạ ơn Chúa, tốc độ gió phía trước đám cháy đã không gia tăng – Martin King phân tích – Nếu không, tất cả nhà cửa ở trang trại này đều cháy sạch và cả chúng ta cũng thành tro bụi. Cầu Chúa cho những người ở Beel Beel được thoát chết.

Fiona trao cho Martin King một ly rượu rhum thật lớn. Không còn là một thanh niên nữa nhưng ông ta vẫn đủ sức chiến đấu đến phút cuối cùng khi cần thiết, ông ta đã chỉ huy nhiều cuộc chữa cháy một cách thành thạo.

– Thật là vớ vẩn – Fiona nói – vào cái lúc mà tôi tưởng rằng tất cả sẽ mất hết thì những suy nghĩ kỳ cục nhất lại xuất hiện trong đầu. Tôi không hề nghĩ đến cái chết, cũng không nghĩ đến con cái hay ngôi nhà nguy nga đẹp đẽ này sẽ bị thiêu hủy. Tôi hoàn toàn không thể nghĩ đến cái gì khác hơn là cái giỏ may vá của tôi, cái áo len mà tôi đang đan, cái hộp đựng nút mà tôi để dành nhiều năm, nhớ đến cái khuôn bánh hình trái tim mà Frank đã tự tay làm lâu rồi. Làm sao tôi có thể tiếp tục sống nếu thiếu tất cả những món ấy? Tất cả những thứ nhỏ nhặt đều không thể tìm mua ở tiệm.

– Đó là những suy nghĩ đã đến trong đầu của hầu hết phụ nữ – Martin King tán đồng – Tôi còn nhớ vụ cháy năm 1905, trong khi tôi vỡ phổi để lo ngăn chặn lửa thì vợ tôi hoảng hốt chạy vào nhà để lo cứu… cái công trình dở dang của bà, đó là một mẫu thêu còn nằm trên bàn căng. Khi cất xong căn nhà mới, vợ tôi hoàn thành liền mẫu thiêu đó, một trong những mẫu thêu để ngợi ca kỷ niệm của ngôi nhà. Ngôi nhà – ngôi nhà thân yêu bà hiểu ý của tôi muốn nói chứ. Thôi, tôi phải đi đây. Gareth Davie ở Narrengang có lẽ cần chúng tôi tiếp tay và nếu tôi không lầm thì chẳng bao lâu nữa Angus ở Hunish cũng sẽ rơi vào một tình thế tương tự

Fiona tái mặt:

– Ồ, Martin! Chẳng lẽ lửa lại lan xa đến thế?

– Chúng tôi vừa hay tin Booroo và Bourke đã bị đe dọa bà Fiona ạ.

Ba ngày liền sau đó, lửa tiếp tục lan về hướng đông trên chiều ngang cứ mở rộng ra. Nhưng rồi đột ngột một cơn mưa thật lớn trút xuống như thác, liên tiếp gần bốn ngày và dập tắt đi những ngọn lửa cuối cùng. Nhưng bấy giờ đám cháy đã lan ra một trăm sáu chục cây số, để lại đằng sau một vùng đất rất rộng đen sì chiều ngang 30 cây số, từ trung tâm Drogheda cho đến ranh giới cuối cùng của thị trấn Gillanbone là Rudna Hunish.

Cho đến khi mưa trút xuống, không ai chờ đợi sẽ được tin tức của Paddy vì rằng mọi người nghĩ Pađy đang an toàn ở đâu đó bên kia biển lửa. Ai cũng nghĩ ông mất liên lạc với gia đình vì cái nóng vẫn còn thiêu đốt và cây cối vẫn tiếp tục cháy âm ỉ. Nếu đám cháy không làm hư hỏng đường dây điện thoại, thì có lẽ sẽ gọi được về nhà. Chắc là Pađy đã phi ngựa về hướng tây và tìm chỗ ẩn trú ở Bugela.

Nhưng trong sáu giờ liền mưa đổ xuống, vẫn không có tin tức, bấy giờ cả gia đình có phần âu lo. Rồi luôn trong bốn ngày sau đó, họ vẫn nói với nhau là không có gì phải băn khoăn. Paddy không thể về nhà trong thời tiết này và có lẽ ông ta quyết định ở lại đó chờ cho đến khi nào có thể về thẳng Drogheda chứ không phải đến chỗ của Martin King.

– Đáng lý giờ này ba phải về rồi, Bob bồn chồn nói. Anh đi tới đi lui trong phòng khách dưới những cặp mắt đầy âu lo.

Cái oái ăm là mưa đã mang lại một không gian mát mẻ đột ngột và trong lò sưởi ánh lửa lại bập bùng.

– Bây giờ anh tính thế nào hở Bob? – Jack hỏi.

– Theo anh, đã đến lúc chúng ta chia nhau đi tìm ba. Biết đâu ba bị thương hoặc đi bộ và phải băng qua một đoạn đường dài để trở về nhà. Cũng có thể, con ngựa của ba quá sợ hãi và hất ba ngã nhào, thế là ba phải nằm đâu đó, không đi được. Ba chỉ mang đủ lương thực ăn trong một hoặc hai ngày mà thôi, tuy nhiên anh không nghĩ rằng ba bị chết đói. Nhưng bây giờ chúng ta không có cách nào để báo động cho mọi người biết, anh sẽ không kêu gọi những người ở Narrengang tiếp tay, nhưng nếu từ đây đến tối không tìm ra ba, anh sẽ đến trang trại Dominic và ngay sáng mai thì tất cả những người dân trong vùng sẽ cùng chúng ta đi tìm ba. Trời ơi, phải chi đường dây điện thoại được phục hồi ngay.

Fiona run lên, mắt đỏ ngầu như đang trong cơn sốt không khác một con vật đang bị săn đuổi.

– Tôi đi mặc quần dài vào ngay, bà nói. Tôi không thể nào ở nhà chờ được.

– Mẹ ơi, mẹ nên ở nha! Bob van xin.

– Nếu ba con bị thương, ba có thể nằm tại đâu đó, Bob ạ. Có gì bảo đảm ba con không bị thương nặng. Con đã cho tất cả anh em công nhân đi Narrengang để tiếp tay ở đó rồi, chúng ta đâu còn bao nhiêu người để đi tìm ba con. Mẹ sẽ đi với Meggie, như thế Meggie và mẹ sẽ đủ sức đối phó với mọi bất trắc. Còn nếu Meggie đi một mình thì nó lại cần thêm một người khác đi với nó, như thế lại mất bớt người.

Bob đành chìu theo ý mẹ.

– Thôi được, thưa mẹ. Mẹ có thể cỡi con ngựa thiến của Meggie. Mọi người nên mang súng đạn đầy đủ.

Trên lưng ngựa, họ băng qua con suối và đi sâu vào vùng đất điêu tàn. Không còn lại một dấu vết nào của màu xanh hay cả màu xám của đất, không còn một thứ gì cả trên khoảng bao la của đất đai cháy thành tro, đen sì và ẩm ướt. Lạ lùng thay, đến giờ này sau bốn ngày mưa liên tục mà khói vẫn còn bốc. Mỗi một chiếc lá trên cây đều biến thành một mảnh khô cháy co rúm lại và cứ nơi nào trước kia có cỏ thi người ta thấy rải rác những đống nhỏ đen thui, đó là những con cừu bị chết cháy. Thỉnh thoảng chợt thấy những đống to hơn, đó là bò hay heo rừng. Trên gò má từng người, nước mắt trộn lẫn với nước mưa.

Bob và Meggie đi đầu, tiếp đó là Jack và Hughie, Fiona và Stuart đi phía sau. Thỉnh thoảng mấy con ngựa hí vang, khịt mũi vì đối đầu thêm một cảnh tượng hãi hùng, nhưng Fiona và Meggie thì thản nhiên vì đầu óc chỉ nghĩ đến Paddy. Mặt đấy lầy lội khiến họ tiến rất chậm và khó khăn nhưng rất may có cháy lớp lớp dưới chân làm thành một tấm thảm bằng sợi có chỗ cho chân ngựa bám vào. Đi được một đoạn, họ lại cứ nghĩ Paddy đã xuất hiện ở đàng xa nhưng thời gian cứ trôi qua mà chẳng thấy Paddy đâu cả.

Tim họ nhói lên khi nhận ra đám cháy đã lan rộng nhiều hơn là họ nghĩ, đến tận đất nuôi cừu ở Wilga. Có lẽ những đám mây trong cơn giông vừa qua đã che khuất khói cho đến khi ngọn lửa đến gần một khoảng cách nào đó thì từ Drogheda mới thấy được. Những ranh giới của đám cháy làm cho tất cả bàng hoàng. Một phía là đường chân trời nổi rõ lên màu đen sì như một thứ hắc in bóng loáng, còn bên kia là một màu xanh và màu hung quen thuộc, buồn tẻ dưới cơn mưa. Bob dừng ngựa lại nói với Fiona:

– Bắt đầu từ đây, chúng ta sẽ chia nhau đi tìm ba. Con sẽ đi về hướng tây, đó là hướng có khả năng nhất để tìm ra ba, con được trang bị đầy đủ để đối phó mọi bất trắc. Tất cả chúng ta đều đem đủ đạn chứ. Rất tốt. Bất cứ ai phát hiện được một vết tích gì, cứ bắn lên trời ba phát súng, còn ai nghe được thì chỉ trả lời bằng một phát rồi chờ. Ai đã bắn ba phát thì cứ tiếp tục bắn như thế sau năm phút, còn những ai nghe thì đáp lại một phát.

Bob nói tiếp:

– Jack, em hãy đi xuống hướng nam, dọc theo đường cháy. Hughie, em đi hướng tây nam, còn anh hướng tây. Mẹ và Meggie cứ đi về hướng tây bắc. Stuart, em lần theo phía rìa đám cháy thẳng phía bắc. Và hãy nghe lời dặn này, phải tiến thật chậm. Mưa làm mắt chúng ta không nhìn rõ ở xa, cây bị cháy nằm ngả nghiêng rất nhiều. Hãy gọi nhau thường xuyên, có thể ba không thấy chúng ta nhưng nghe được tiếng gọi. Đừng có bắn súng nếu không phát hiện chuyện gì đặc biệt. Ba không có mang theo súng, do đó nếu ba nghe súng nổ mà không thể lên tiếng được thì sẽ rơi vào một tâm trạng rất hoang mang.

“Chúc tất cả may mắn. Chúa phù hộ chúng ta.”

Không khác những người hành hương chia tay nhau ở ngã tư cuối cùng, từng người mất hút dưới màn mưa, tiến sâu về hướng đã được phân công. Đi chưa đầy một cây số, Stuart chú ý một lùm cây cháy đen ở gần đường ranh của đám cháy. Cậu ta chú đến một cây wilga thấp, đen sì và nhăn nheo như chùm tóc xoắn của một chú bé da đen, bên cạnh đó một thân cây cao to bị thiêu rụi còn đứng ở ngoài rìa tuyến lửa. Rồi Stuart lại phát hiện thêm dấu vết còn lại xác con ngựa của Paddy cháy nám và một gốc lớn của cây gôm. Hai con chó của Pađy chỉ còn là những đống đen thui, bốn cẳng chĩa thẳng lên trời, cứng đơ như bốn cây gậy. Cậu ta xuống ngựa, đôi giày bốt ngập bùn đến cổ chân, thế rồi cậu ta rút cây súng ra khỏi yên ngựa, hai môi mấp máy cầu nguyện, lần tìm đường đi giữa những vũng bùn trơn trợt. Nếu không tìm thấy những gì còn lại của con ngựa và hai con chó, Stuart vẫn có thể thầm hy vọng nạn nhân có thể là một kẻ lang thang nào đó. Nơi này nằm quá sâu giữa trung tam Drogheda, do đó cũng khó nghĩ đến nạn nhân là một người chăn bò hay chăn cừu đến từ Bugelạ Xa một chút, Stuart phát hiện xác của ba con chó còn lại; Paddy đem theo năm con chó tất cả. Cậu ta biết sẽ không có xác con chó thứ sáu, và cậu ta đã đoán không sai.

Cách xác con ngựa không xa, khuất sau một thân cây nằm ngang là những phần còn lại của một xác người. Không thể nào lầm được. Ướt đẫm dưới cơn mưa, cái hình thù màu đen nằm ngửa, cong theo vòng cung, hai mông và hai tay chấm đất. Hay tay dang rộng ra, mấy ngón tay lộ xương vì thịt đã rã, co rút lại như đang bấu víu vào khoảng không. Hai chân cũng hơi dang ra, hơi co lại ở đầu gối, còn ở nơi mà trước kia là cái đầu thì chỉ còn hai hố mắt trống trơn!

Trong một lúc, ánh mắt trong và sáng quắc của Stuart hướng thẳng vào cha cậu. Stuart không thấy đó là thân xác đã bị thiêu rụi mà thấy cha mình vẫn nguyên vẹn như khi còn sống. Cậu ta chĩa súng lên trời và bắn, rồi lại nạp đạn và bắn phát thứ hai, rồi phát thứ ba. Có tiếng súng nổ vọng lại từ xa; thêm một tiếng súng khác xa hơn nghe văng vẳng. Lúc đó Stuart đoán ra rằng tiếng súng gần hơn hết có lẽ là của mẹ hay của Meggie. Cả hai đi về hướng tây bắc, còn cậu ta ở hướng bắc. Không chờ đúng năm phút đúng như Bob đã dặn, Stuart lại nạp đạn và chĩa súng hướng nam bóp cò. Lại nạp đạn, bắn phát thứ hai rồi thứ ba. Stuart đặt súng xuống đất nhón người lên nhìn về phía nam, đầu hơi nghiêng, ngóng nghe chờ đợi. Lần này có tiếng súng đáp lại của Bob từ phía tây, tiếng súng kế tiếp của Jack hoặc Hughie và tiếng thứ ba của mẹ. Cậu ta thở ra nhẹ nhõm; Stuart không muốn những người đến trước tiên là mẹ và Meggie.

Mãi suy nghĩ Stuart không thấy con heo rừng thật lớn xuất hiện từ hướng bắc sau những thân cây cháy, dù cậu ta đã nhận ra cái mùi của nó trước vài giây. To gần bằng một con bò cái, cái khối thịt ấy rung rinh di chuyển trên bốn chân ngắn ngủn và thật khỏe; nó vừa đi đầu lủi xuống đất, mõm bới tìm cái gì đó trong đất đen và ẩm. Tiếng súng làm cho nó phải động đậy, thật sự con heo rừng cũng đang chịu đựng một số đau đớn kinh khủng, lớp lông đen thưa thớt một bên bị cháy làm lòi da thịt đỏ tươi. Cái mùi Stuart nghe được khi cậu ta đang còn nhìn về hướng nam đúng là mùi dễ chịu của da con heo đang quay trong lò. Đột ngột bị kéo ra khỏi trạng thái u buồn đeo bám, Stuart quay đầu lại và có cảm giác hình như đã đến đây một lần nào rồi; cái nơi đen sẫm và nhớp nhúa này như đã in sâu trong đầu Stuart từ ngày mở mắt chào đời.

Stuart nhìn xuống kiếm khẩu súng và nhớ ra súng chưa nạp đạn. Con heo rừng dừng lại, hai mắt đỏ ngầu như đang chịu đựng nỗi đau đớn dữ dội. Hai chiếc nanh dài màu vàng, nhọn hoắc hất lên cao một nửa vòng tròn. Con ngựa của Stuart hí vang vì ngửi thấy mùi thú dữ. Con heo rừng quay chiếc đầu to tướng về phía con ngựa rồi cúi xuống với ý định tấn công. Stuart hiểu rằng hy vọng duy nhất để cậu ta thoát thân là con heo rừng chú ý đến con ngựa. Stuart khom xuống lấy súng, một tay kéo nòng súng, còn tay kia cho vào túi áo vét để tìm viên đạn. Chung quanh mưa vẫn rơi làm át đi mọi tiếng động đó, nó đột ngột đổi hướng, lao thẳng vào Stuart. Con vật đã gầm chạm vào cậu ta thì tiếng súng nổ tuy trúng ngay ngực nó nhưng không làm giảm tốc độ lao vào người Stuart. Hai cái nhanh hất ngược lên, cày nát phần ở giữa hai chân của Stuart. Cậu ta ngã xuống, máu phun ra đầy quần áo và ướt cả đất.

Con heo rừng quay mòng mòng đau đớn vì trúng đạn, muốn tấn công đối thủ một lần nữa nhưng nó chệnh choạng sụm xuống. Cả cái khối thịt 600 kilô nằm lên người Stuart ép chặt đầu cậu ta xuống bùn đen. Trong khoảnh khắc, hai bàn tay của Stuart bấu xuống đất, thân người run rẩy, cố vùng lên trong tuyệt vọng.

Thế là Stuart nhận ra điều mình vẫn biết trước từ lâu, tại sao mình không bao giờ hy vọng, không bao giờ vạch ra một kế hoạch nào cho cuộc đời mà chỉ chờ đợi bằng cách đắm chìm vào cái thế giới sống động, cậu ta không còn thì giờ để thương hại cho số phận chờ đợi mình. Mẹ ơi, mẹ! Mẹ ơi! Con không thể ở lại với mẹ! Đó là ý nghĩ cuối cùng vào giây phút tim của cậu ta vỡ trong lòng ngực.

– Tại sao Stuart lại không nổ súng nữa? – Meggie hỏi mẹ.

Hai mẹ con đi ngựa về hướng đã nổ hai loạt súng nhưng không thể hối thúc con ngựa đi nhanh hơn trên bùn lầy; tim thắt lại vì âu lo.

– Có lẽ Stuart nghĩ tất cả chúng ta đều nghe rồi, Fiona trả lời Meggie.

Nói thế nhưng trong tậy đáy lòng bà vẫn nhớ gương mặt của Stuart lúc chia tay nhau mỗi người đi một hướng, nhớ cái cách mà Stuart đã siết tay bà và nụ cười của Stuart khi nhìn bà.

– Chúng ta không còn cách bao xa nữa – bà ta nói vừa thúc con ngựa chạy nhanh hơn.

Nhung Jack đã đến nơi trước, có cả Bob. Họ chặn không cho hai phụ nữ đến gần khi vượt qua phần đất còn nguyên vẹn đi đến vùng đám cháy.

– Mẹ đừng đi xa hơn nữa! Bob nói khi Fiona vừa đặt chân xuống đất.

Jack vội vàng chạy đến bên Meggie nắm lấy tay em gái mình.

Hai cặp mắt màu nâu đều nhìn đi chỗ khác, không phải không chịu đựng nổi sự kinh hãi và lo âu mà chính vì đã biết chắc chuyện gì đã xảy ra. Fiona và Meggie đã hiểu.

– Có phải ba không! – Fiona hỏi trong hơi thở.

– Thưa phải. Và cả Stuart nữa.

Không một người con nào có đủ can đảm để nhìn mặt mẹ lúc ấy.

– Stuart? Stuart? Chuyện gì xảy ra với Stuart? Trời ơi! Chuyện gì đã xảy ra? Tại sao lại cả hai. Không thể nào như thế được. Không! Không!

– Ba bị kẹt giữa đám cháy. Ba đã chết. Còn Stuart có lẽ đã làm gì đó khiến cho con heo rừng tấn công nó. Nó đã bắn chết con vật nhưng con vật đã ngã đè lên Stuart khiến cho nó bị nghẹt thở, Stuart cũng đã chết rồi, thưa mẹ.

Meggie hét lên, vùng vẫy, cố vuột ra khỏi sự kìm giữa của Jack, nhưng Fiona thì đứng bất động trong vòng tay dơ bẩn, vấy máu của Bob. Bà như bức tượng đá với đôi mắt trống vắng.

– Quá sức chịu đựng – bà nói rồi quay qua nhìn Bob (nước mắt chảy trên mặt bà, nhỏ giọt xuống tóc bết dính vào cổ). Hãy để mẹ yên. Mẹ cần phải nhìn mặt ba con, Bob. Một người là chồng của mẹ, một người là con của mẹ. Con không thể cản ngăn mẹ. Con không có quyền.

Meggie đã dịu cơn xúc động và đứng yên trong vòng tay của Jack, đầu áp vào ngực anh. Fiona bắt đầu đi chậm lại, Bob đi bên cạnh đỡ mẹ, Meggie im lặng nhìn, không có một động tác nào tỏ ý đi theo. Hughie xuất hiện sau màn mưa vốn làm mờ nhạt cả người lẫn cảnh vật. Ra dấu bằng đầu Jack có ý bảo Hughie nhìn về hướng mẹ và Bob.

– Em hãy đi theo mẹ và anh Bob, và hãy ở lại bên cạnh hai người. Meggie và anh quay lại Drogheda để tìm phương tiện đưa ba và Stuart về (cậu ta buông Meggie và giúp em gái leo lên lưng ngựa). Đi Meggie. Trời bắt đầu tối. Chúng mình không thể để mọi người ở lại đây suốt đêm. Mẹ và các anh sẽ không rời khỏi nơi đây nếu chúng mình chưa trở lại.

Ở vùng bùn lầy này, không có một loại xe có bánh nào có thể vào được; cuối cùng Jack và ông già Tom đã nghĩ ra cách dùng một tấm tôn dợn sóng cột bằng dây xích vào hai con ngựa kéo xe. ông già làm vườn dắt hai con ngựa, còn Jack đi trước soi đường bằng cây đèn bão thật lớn.

Chương 17

Meggie ở lại nhà, ngồi trước ánh lửa lò sưởi, có bà Smith bên cạnh chăm sóc và cố thuyết phục cô ăn một chút gì dằn bụng. Trên gương mặt của bà quản gia, nước mắt ràn rụa bàng hoàng trước hung tin, còn cô gái im lặng, đau đớn. Sự việc quá sức tưởng tượng khiến Meggie không khóc được thành tiếng.

Có tiếng gõ cửa, Meggie đứng lên trong lòng thắc mắc không đoán ra được ai có thể băng qua vùng lầy lội đến đây giữa lúc này, cô cũng kinh ngạc trước sự loan truyền tin tức nhanh chóng từ trang trại này sang trang trại khác cách nhau rất xa.

Cha Ralph đang đứng ngoài hành lang, mặc quần áo cỡi ngựa, ướt đẫm và lấm đầy bùn.

– Tôi vào được không, bà Smith?

– Ồ, thưa cha! Bà Smith kêu lên rồi chạy tới ôm lấy cha Ralph trước sự ngơ ngác của vị linh mục… Làm sao cha lại hay tin được?

– Bà Cleary đã đánh điện tín cho tôi. Tôi đã được Tổng giám mục Di Contini Verchese cho phép. Tôi đi tìm máy bay đến đây, suýt nữa lật nhào vì khi đáp xuống đã chạm phải bùn. Nhờ đó tôi biết được mặt đất ra sao trước khi đặt chân xuống. Gilly xinh đẹp và thân thương làm sao! Tôi đã để hành lý ở nhà cha Watty, rất may được chủ khách sạn Imperial cho mượn một con ngựa. Ông ta tưởng tôi đã mất trí và đánh cá với tôi một chai rượu Johnnie Walker nếu tôi vượt qua được cả vùng bùn lầy lội này. Nhưng dù cho đám cháy có lớn tới đâu và gây thiệt hại lớn thế nào cũng chưa phải là tận thế – ông mỉm cười nói, dịu dàng đặt bàn tay lên vai bà Smith – Tôi đã đến đây và cố hết sức coi có thể giúp được gì và tôi mong được bà cảm thông – Thôi bà đừng khóc nữa.

– Thế thì cha không hay biết gì hết, bà Smith thều thào trong nước mắt.

– Hay biết điều gì? Chuyện gì xảy ra?

– Ông Cleary và cậu Stuart đều chết.

Mặt cha Ralph tái đi, đưa tay đẩy nhẹ bà quản lý ra.

– Meggie hiện giờ ở đâu? Cha Ralph gần như hét lên.

– Trong phòng khách. Còn bà Cleary hiện đang ở ngoài bãi chăn với xác của hai người thân. Jack và Tom đã đi mang di hài của họ về. Trời ơi! Thưa cha có lúc bất kể đức tin ở trong lòng mình, con không thể không tự hỏi sao Chúa lại tàn nhẫn thế. Tại sao Chúa lại mang đi cả hai người?

Nhưng ngay lúc được biết Meggie đang ở đâu, cha Ralph vứt bỏ tấm vải đầu đi mưa rồi đi thẳng vào phòng khách, bước chân để lại những vết bùn.

– Meggie – ông gọi lớn.

Ralph đến cạnh Meggie, quỳ gối xuống bên chiếc ghế bành, nắm lấy hai tay giá lạnh của Meggie đặt vào lòng bàn tay mình.

Meggie để người tụt xuống thấp dưới ghế, ngã trong vòng tay của cha Ralph, úp mặt vào chiếc sơ mi ướt đẫm và nhắm mắt lại. Cảm giác hạnh phúc tuyệt vời, Meggie mặc cho sự đau đớn và xót xa đang xâm chiếm, mơ ước giây phút này trở thành vĩnh cửu. Ralph đã đến, đó là bằng chứng của quyền lực mà cô vẫn giữ đối với Ralph. Meggie không hề lầm lẫn.

– Cha ướt từ trên xuống dưới, Meggie thân yêu của cha. Con cũng bị ướt hết cả bây giờ – ông thì thầm, má áp vào mái tóc vàng nâu.

– Không hề gì. Cha đã đến là đủ rồi.

– Vâng, cha đã đến. Cha muốn được yên tâm rằng con không phải trải qua điều gì phiền muộn. Cha linh cảm rằng sự hiện diện của cha sẽ giúp ích cho con. Cha muốn đích thân tìm hiểu sự việc. Ôi, Meggie, ba của con và Stuart làm sao thế? Chuyện gì đã xảy ra?

– Ba bị kẹt trong đám cháy. Chính Stuart tìm ra ba nhưng lại bị một con heo rừng húc chết sau khi anh ấy bắn trúng nó. Jack và bác Tom đã đi đưa thi hài của ba và Stuart về.

Cha Ralph im lặng, không biết làm gì khác hơn là giữ Meggie trong vòng tay mình, ru nhẹ nhàng như ru một đứa bé cho đến khi hơi ấm của ngọn lửa trong lò sưởi làm khô áo và tóc của ông. Bấy giờ ông cảm nhận cái thân thể mà ông đang ôm chặt vào lòng mình hình như bớt căng thẳng, duỗi dần ra trong tư thế thoải mái. Cha Ralph lấy tay đỡ cằm và nâng đầu Meggie lên buộc cô ta phải nhìn mình và không suy nghĩ gì cả, ôm hôn Meggie . Đó chỉ là một sự thôi thúc không rõ cội nguồn, hoàn toàn không xuất phát từ dục vọng, chỉ là một cử chỉ bản năng, một dâng hiến để đáp lại điều mà ông đã đọc thấy trong ánh mắt màu nâu của Meggie. Có điều gì đó rất đặc biệt như lần thứ hai ban phép thánh thể. Meggie luồn tay ra phía sau, bấu mạnh vào tấm lưng gân guốc của cha Ralph, khiến cho ông giật nẩy và kêu lên vì đau.

– Sao thế? Meggie vừa hỏi vừa dang người ra một chút.

– Hình như cha bị xây xát ở sườn khi máy bay đáp xuống, bùn ngập đến thân máy bay, thật hết sức nguy hiểm. Cha không bị hất tung nhờ va vào lưng dựa của ghế trước.

– Cha để con xem nào.

Những ngón tay nhanh nhẹn và dứt khoát của Meggie tháo nút và cởi áo của cha Ralph ra. Dưới làn da sạm nắng và ướt, một vết đỏ bầm kéo dài từ sườn này đến sườn bên kia. Meggie lo âu.

– Trời ơi, Ralph! Cha đã đi ngựa từ Gilly đến đây với vết thương như thế này sao? Chắc là cha đau lắm? Cha cảm thấy thế nào? Có bị chóng mặt không? Cha có thể bị xuất huyết bên trong.

– Không đâu. Cha không thấy gì lạ trong người. Cha nói thật mà. Cha quá lo làm sao đến đây sớm để giúp con tránh bớt buồn khổ do đám cháy gây ra nên cha quên đi cái đau của mình. Nếu cha bị xuất huyết bên trong thì ắt cha biết. Không có đâu Meggie à.

Meggie cúi đầu xuống, môi chạm nhẹ lên vết bầm đồng thời hai bàn tay đặt lên ngực Ralph, lượt nhẹ từ dưới lên trên, dừng lại mơn trớn ở hai vai với sự cố tình khêu gợi khiến cho Ralph bàng hoàng. Vừa bị quyến rũ, vừa sợ hãi, bằng mọi giá cha Ralph muốn thoát khỏi sự mơn trớn, ông quay người hướng khác, đẩy đầu của Meggie ra xa nhưng cuối cùng chỉ để rơi trọn vào vòng tay của Meggie, hai cánh tay ấy như những con rắn quấn chặt ý chí của cha Ralph, bóp chết mọi ý định kháng cự khi vừa mới chớm nở. Thế là quên cả đau đớn, quên cả Nhà thờ, quên luôn Chúa, Ralph tìm đôi môi của Meggie, sự háo hức làm cho đôi môi ấy hé mở, khát khao. Ralph ghì chặt Meggie vào lòng nhưng không làm sao xoa dịu được cơn rạo rực cứ dâng cao mãi. Meggie ngửa cổ ra, phơi trần hai bờ vai, da mát mịn; Ralph tưởng mình đã chìm nghỉm xuống, càng lúc càng sâu, nghẹt thở, bất lực.

Nhận thức về bản thân con người bình thường và tội lỗi của mình như đè nặng lên Ralph, một sức nặng có khả năng nghiền nát tâm hồn, làm vỡ tung những tình cảm bị ngăn chặn lâu ngày, cuốn phăng theo một ngọn triều không thể nào chống trả nổi. Ralph muốn được khóc; những gì còn lại của sự thèm muốn cạn đi dưới gánh nặng mà phận làm người đặt lên ông. Ông tháo gỡ hai tay của Meggie đang quấn chặt cái thân hình đáng thương hại của ông rồi ngồi xổm xuống, đầu cúi gục, tưởng như đã hết tâm trí nhìn ngắm hai bàn tay run rẩy của mình đặt trên đầu gối. Meggie ơi, em đã làm gì anh? Và em sẽ làm gì nữa nếu anh cứ để cho mọi chuyện xảy ra?

– Anh yêu em Meggie.Anh mãi mãi yêu em. Nhưng anh là linh mục, anh không thể… Anh không thể làm thế được chỉ vì như vậy mà thôi.

Meggie đứng phắt lên, sửa lại áo ngay ngắn, nhìn xuống cha Ralph, miêng cười gượng nhưng vẫn không che giấu được sự đau khổ. Ẩn trong đôi mắt là nỗi thất vọng.

– Ralph, thôi thế cũng được. Con đi xem bà Smith có chuẩn bị gì cho cha ăn không, rồi con sẽ mang đến cho cha dầu xoa bóp mà người ta dùng cho ngựa. Thứ này chữa các vết bầm thật tuyệt, nó sẽ làm cho cha hết đau nhức ngay, theo con nghĩ hiệu nghiệm hơn gấp mấy những nụ hôn.

– Điện thoại có dùng được không? Cuối cùng cha Ralph đã nói ra lời.

– Được. Một đường dây phụ đã được bắc trên các ngọn cây, mấy giờ qua ở đây đã liên lạc được với Gilly.

Dù sao, cha Ralph cũng cần ít phút để bình tâm và tự chủ sau khi Meggie rời khỏi phòng khách. ông đến ngồi trước bàn viết của Fiona.

– Xin vui lòng cho tôi đường dây liên tỉnh. Đây là linh mục Ralph de Bricassart ở Drogheda. Ồ! Allô, Doreen đó à; vẫn trung thành với công việc ở bưu điện. Ồ, tôi hiểu. Tôi rất vui khi nghe được tiếng nói của chị. Tôi không biết ai đang đảm trách tổng đài ở Sydney, tôi chỉ nghe một giọng nói lạnh nhạt và buồn tẻ. Tôi muốn liên lạc gấp với Đức Khâm mạng giáo hoàng ở Sydney. Số của Ngài là 20 – 23 – 24. Trong khi chờ Sydney trả lời chị Doreen cho tôi nói chuyện với Bugela nhé.

Ralph vừa báo tin cho Martin King thì Sydney gọi. Nhưng chỉ vài lời với Bugela là đủ rồi. Cả Gilly sẽ hay tin qua Martin King, kể cả nhiều người khác, trên đường dây này thường thích nghe lén điện thoại. Như thế tất cả những ai không ngại bùn lầy đều sẽ có mặt trong đám tang.

– Allô, có phải Đức cha đó không? Linh mục Ralph đây, hiện con ở Drogheda. Ồ! Allô Doreen đừng cúp máy nhé… Vâng, cảm ơn, con đã đến đây bình yên, nhưng máy bay thì bị ngập bùn đến thân. Có lẽ con phải trở về bằng tàu hỏa… trong bùn. Thưa Đức cha, bùn… con nói bùn lầy. Không thưa Đức cha, ở đây không thể đi đâu được nếu mưa to… Từ Gillanbone đến Drogheda, con phải đi bằng ngựa, đó là phương tiện di chuyển duy nhất có thể sử dụng trong tình hình thời tiết này… Do đó mà con gọi điện cho Đức cha. Con rất vui mừng đã đến đây. Con đã có linh tính trước… Vâng, thật khủng khiếp. Vượt xa những điều con lo sợ. Padraic Cleary và con trai của ông là Stuart đều chết. Người cha bị chết trong đám cháy, người con thì bị một con heo rừng đè. Một con heo rừng thưa Đức cha… Con nói một con heo rừng… Vâng, Đức cha nhận xét đúng, ở đây người ta nói một thứ tiếng Anh rất lạ. Con xin phép Đức cha cho con được ở lại để dự đám tang và con cam đoan với Đức cha con sẽ lo lắng đầy đủ cho người vợ đáng thương và các con của bà. Vâng, thưa Đức cha, cảm ơn Đức cha. Con sẽ trở về Sydney ngay khi mọi việc xong xuôi.

Dĩ nhiên có nhân viên tổng đài cũng nghe được Ralph yêu cầu được nói chuyện với Bugela. ông trao đổi với Martin King trong ít phút và quyết định lễ mai táng sẽ được tổ chức vào ngày mốt.

Meggie quay trở lại với chai dầu xoa bóp trên tay nhưng không tỏ ý tự mình sẽ chăm sóc cho cha Ralph. Im lặng trao chai dầu cho ông, Meggie vắn tắt cho cha Ralph biết là khoảng một tiếng đồng hồ nữa, buổi ăn nóng sẽ được bà Smith dọn trong phòng ăn nhỏ, như thế cha Ralph có dư thời giờ để tắm rửa. Cha buồn bã nhận ra rằng hình như Meggie đã coi như mình bị cha lừa gạt; nhưng ông không hiểu được tại sao cô lại phản ứng như thế, và căn cứ vào đâu để kết tội ông như vậy. Meggie vẫn biết ông là linh mục; vậy tại sao có sự giận dỗi này?

Một buổi sáng tinh mơ ảm đạm, đoàn người đưa hai thi hài về đến bờ bên kia sông và dừng lại ở đó. Dù nước chưa tràn bờ, sông Gillan vẫn dâng cao và chảy xiết, sâu tới mười mét. Cha Ralph cho con ngựa hồng của mình lội qua bên kia bờ sông lầy lội để đón đoàn người. ông choàng sẵn khăn lễ và mang theo đẩy đủ những gì cần thiết của linh mục trong chiếc rúi trên lưng ngựa. Trong lúc Fiona, Bob, Jack, Hughie và Tom đứng xung quanh, cha Ralph mở tấm vải quấn hai thi hài và chuẩn bị làm lễ xức dầu. Sau lần chứng kiến cái chết của bà Mary Carson thì không có một cái chết nào khác có thể làm cho linh mục Ralph ghê tởm. Cả hai thi hài đều đen, Paddy vì bị chết thiêu, còn Stuart bị nghẹt thở, Ralph ôm hôn hai thi hài với tình cảm và sự kính trọng.

Trên đoạn đường dài 20 cây số, tấm tôm chở thi hài bị xóc lên xóc xuống phía sau hai con ngựa kéo cày xới trong bùn, in sâu những luống dài có thể nhiều nằm sau vẫn còn thấy. Nó như vết sẹo mà vào những mùa xuân tới dù cỏ đã mọc đầy lên đó vẫn không che lấp được.

Dòng nước chảy xiết buộc đoàn người dừng lại bên kia bờ mặc dù chỉ còn hai cây số nữa đến nhà.

– Con có một ý kiến, Bob quay qua nói với cha Ralph – Ở đây chỉ có con ngựa của cha còn khỏe, cha có thể cho ngựa lội trở qua suối, về nhà và tìm những chiếc thùng rỗng hai trăm lít, cha nhớ đóng kín nắp lại không cho nước vào. Nếu cần có thể hàn. Chúng ta cần khoảng mười, mười hai cái thùng là đủ. Cha cho cột lại và mang qua bờ bên này. Chúng ta sẽ dùng những thùng đó để chở tấm tôn và đẩy nó trở qua bờ như một cái bè.

Cha Ralph tán đồng mà không cần đặt câu hỏi nào khác, ông cũng không có ý kiến nào hay hơn. Dominic O” Rourke cùng hai con trai tiếp tay cha Ralph thực hiện ý kiến của Bob, rồi chính cha Ralph và Dominic O” Rourke kéo những chiếc thùng qua con suối.

Không có một cành hoa nào trên hai quan tài, và cũng không có một cành hoa nào trong những chiếc bình ở nhà nguyện của Drogheda. Những đóa hoa sống sót qua cơn nóng khủng khiếp của đám cháy đều bị vùi dập dưới cơn mưa, cánh của nó tan tác trong bùn như những con bướm bị mắc bẫy. Còn mọi người thì mệt mỏi, quá mệt mỏi. Những ai đã vượt qua một cuộc hành trình dài bằng ngựa trên con đường lầy lội để đến đây nghiêng mình lần cuối chào vĩnh biệt Pađy đêu mệt mỏi; những ai đã mang các thi hài về cũng mệt mỏi; đàn ông và đàn bà lo việc bếp núc và rửa dọn cũng mệt mỏi. Cha Ralph mệt đến đỗi tưởng như mình đi đứng trong giấc mơ, mắt ông đờ đẫn nhìn lần lượt gương mặt căng thẳng và tuyệt vọng của Fiona, gương mặt đau khổ và giận dữ của Meggie và nỗi đau xót của anh em Bob, Jack và Hughie lâu nay vốn thương yêu gắn bó với nhau.

Làm lễ xong, các khách từ xa lại lên ngựa ra đi, lưng rạp xuống được che bằng những tấm vải đầu; có người chỉ bàn với nhau về viễn ảnh phá sản có thể xảy đến, những người khác cảm ơn Chúa đã cứu họ thoát chết và tránh được đám cháy. Cha Ralph gom lại đồ đạc của mình, biết rất rõ là phải đi ngay trước khi không còn khả năng rứt ra khỏi nơi này.

Ông tìm gặp Fiona đang ngồi trước bàn viết, lặng im mắt nhìn hai bàn taỵ

– Bà Fiona có khỏe không? Cha Ralph hỏi rồi buông mình xuống chiếc ghế bành gần đó.

Bà quay lại nhìn cha Ralph, tan nát và chết cứng trong lòng khiến cha phải sợ và không dám nhìn thẳng.

– Vâng thưa cha, rồi đâu sẽ vào đó. Con phải lo việc sổ sách của trang trại và năm đứa con còn lại… sáu chứ kể cả Frank. Nhưng đúng là chúng ta không trông đợi gì ở Frank phải không cha? Con không thể nào nói ra hết sự biết ơn về những gì cha đã giúp trong chuyện này. Thật là một an ủi lớn cho con khi biết rằng cha đã theo dõi và lo lắng cho Frank, nhờ thế mà số phận của nó đỡ khổ phần nào. Trời ơi, con muốn gặp Frank quá, dù chỉ một lần thôi cha ạ.

Như một lửa hải đăng, cha Ralph nghĩ thầm. Fiona như một ngọn hải đăng chiếu ra những tia sáng khổ đau mỗi khi đầu óc của bà bị xúc động tột độ và dữ dội nhất.

– Bà Fiona, có một việc mà tôi muốn bà phải suy nghĩ.

– Vâng, chuyện gì thế thưa cha?

Rồi bà lại đi trong sự trống rỗng.

– Bà có nghe tôi nói không? Cha Ralph lo lắng hỏi lớn tiếng, lòng ông lo sợ hơn bao giờ hết.

Một lúc lâu, linh mục tưởng rằng bà đã thu mình lại đến mức giọng nói cứng rắn của ông cũng không làm bà sực tỉnh. Nhưng một lần nữa ngọn hải đăng lại phát ra một tia sáng, rồi đôi môi mấp máy:

– Tội nghiệp Paddy của tôi! Tội nghiệp Stuart của tôi! Tội nghiệp Frank của tôi! Bà nói như rên rỉ.

Rồi bà lại bình tĩnh, nép mình sau cái bề ngoài cứng rắn tưởng như không có điều gì có thể lay chuyển nổi.

Đôi mắt bà đảo quanh căn phòng mà không nhìn ra bất cứ thứ gì.

– Vâng, thưa cha, con đang nghe đây, bà nói.

– Này, Fiona, còn cô con gái của bà nữa chứ? Bà quên rằng bà có một đứa con gái sao?

Đôi mắt nâu nhìn lên về hướng cha Ralph một lúc, gần như thương hại.

– Làm sao một người đàn bà lại có thể quên con gái của mình? Nhưng một đứa con gái là gì? Chỉ là sự nhắc nhở của một niềm đau chịu đựng lâu dài, một hình bóng trẻ trung hơn của chính mình, sẽ lặp lại tất cả những hành động mà mình đã trải qua, rồi cũng sẽ khóc những giọt nước mắt mà mình đã khóc. Không thưa cha, con đã cố quên đi rằng con có một đứa con gái. Nếu con nhớ đến nó thì con sẽ coi nó cũng như một trong những đứa con trai của con. Người mẹ thường nhớ đến những đứa con trai.

– Bà đã khóc lần nào chưa, bà Fionạ Tôi chỉ thấy bà khóc chỉ mỗi một lần.

– Cha sẽ không bao giờ thấy như thế nữa, thưa cha. Nước mắt trong con đã cạn (toàn thân bà run lên) cha có biết không, cách đây hai ngày, con đã nhận ra rằng con yêu Paddy biết chừng nào, nhưng cũng như mọi chuyện trong đời con, nó đến quá muộn màng. Quá muộn cho anh ấy, quá muộn cho con. Cha có biết không, con rất muốn được ôm anh ấy trong đôi tay nói với anh ấy rằng “em yêu anh”. Trời ơi! Con mong rằng không một ai sẽ phải chịu đựng nỗi đau đớn như thế này.

Cha Ralph quay mặt nơi khác để khỏi nhìn thấy vẻ đau thương ấy và để Fiona có thời gian lấy lại bình tĩnh, còn ông thì có thể hiểu sâu hơn một con người bí ẩn.

– Không, ông nói, không người nào có thể trải qua và cảm nhận được nỗi đau của bà, mỗi người có một nỗi đau riêng.

Fiona nhếch miệng cười buồn bã.

– Vâng, đó cũng là một an ủi, phải không thưa cha? Nỗi đau đớn không phải là điều nên ước ao nhưng dù sao nỗi đau đớn ấy cũng là của riêng con.

– Tôi mong bà hứa với tôi một điều, bà Fiona.

– Con sẽ nghe lời cha.

– Bà hãy chăm sóc Meggia. Đừng quên điều đó. Hãy buộc Meggie tham dự các buổi khiêu vũ trong vùng; gặp gỡ các chàng trai trẻ, thúc đẩy Meggie nghĩ đến chuyện lấy chồng, xây dựng riêng một tổ ấm. Tôi nhận thấy tất cả những thanh niên con của các trại chủ quanh vùng này đến đây dự đám tang đều say đắm nhìn Meggie. Nên tạo thêm cơ hội cho Meggie gặp các thanh niên ấy trong một hoàn cảnh ít nặng nề hơn.

– Xin theo ý cha.

Linh mục Ralph thở dài rồi bước ra, một mình Fiona vẫn ngồi yên nhìn hai bàn tay gầy guộc và trắng xanh nhưng hình như bà chẳng thấy gì cả.

Meggie tiễn cha Ralph ra đến chuồng ngựa, nơi đây con ngựa thiến của ông chủ khách sạn Imperial cho mượn đang ăn cỏ khô với lúa mạch. Cha Ralph quẳng chiếc yên cũ lên lưng con vật và cúi xuống siết chặt lại đai bụng ngựa, trong khi Meggie đứng dựa vào một bao cỏ khô theo dõi cha.

– Cha nhìn xem, con vừa tìm được cái gì nè, vừa nói Meggie vừa trao cho Ralph một bông hồng màu tro nhạt đúng lúc cha Ralph thẳng đứng lên. Đây là bông hồng duy nhất con đã tìm thấy trong một bụi cây, dưới những hồ chứa nước sau nhà. Nó đã sống sót qua cơn nóng của đám cháy và được che chở không bị vùi dập dưới cơn mưa. Con đã hái hoa này tặng cha, hãy giữ như một kỷ niệm về con.

Ông cầm lấy bông hồng vừa hé nở tay run run thiếu tự tin và nhìn cành hoa.

– Meggie, ta không cần vật kỷ niệm của con, bây giờ và mãi mãi về sau này. Ta mang trong ta con người trọn vẹn của con, chính con thừa biết điều đó. Ta không thể giấu diếm tình cảm ấy được, phải không Meggie?

– Nhưng đôi khi cũng cần có một thực tế kỷ niệm để có thể sờ mó nó – Meggie quyết bảo vệ ý kiến của mình.

Người ta có thể nhìn ngắm và nhớ lại những gì có thể quên đi nếu kỷ niệm đó không ở trước mặt. Con van cha, hãy cầm lấy…

– Meggie hãy gọi ta bằng tên, Ralph – ông nói.

Ông cúi xuống mở chiếc vali nhỏ, trong đó đựng các thứ cần thiết để làm lễ và lấy ra cuốn kinh thánh có bìa khảm xà cừ đắt tiền, một vật sở hữu của ông. Thân sinh đã mất của Ralph đã tặng cho ông cuốn sách này ngày ông được thụ phong linh mục cách đây mười ba năm. Ông mở cuốn kinh thánh, nơi đước đánh dấu bằng một rubăng màu trắng rộng khổ, lật qua vài trang, đặt chiếc bông hồng trong đó và đóng sách lại.

– Có phải Meggie muốn ta để lại cho con một kỷ niệm phải không? Đúng như thế chứ?

– Vâng.

– Ta sẽ không để lại cho Meggie điều gì cả. Ta muốn Meggie hãy nhìn quanh và chọn cho mình một chàng trai nhân hậu, đàng hoàng, để sau này trở thành chồng của con, rồi sinh con cái, điều mà Meggie rất tha thiết. Meggie sinh ra để làm mẹ, chẳng phải đó là mơ ước của con sao? Ta không thể từ bỏ Nhà thờ vì ta đã không thể yêu con như một người chồng, vì ta đã… Meggie có hiểu ta không? Quên ta đi, Meggie ạ!

– Thế cha không hôn con trước khi cha giã từ sao?

Thay cho câu trả lời, Ralph leo lên ngựa đi thẳng ra cửa trước khi đặt lên đầu chiếc nón phớt cũ kỹ mà người chủ ngựa cũng đã cho mượn. Trong một thoáng, đôi mắt xanh của Ralph loé sáng lên. Dưới cơn mưa, con ngựa bước trầy trật trên con đường bùn lầy dẫn đến Gilly. Meggie không biết làm gì hơn là nhìn theo nhưng vẫn đứng đó trong bóng tối của chuồng ngựa ẩm ướt. Mùi phân ngựa và cỏ khô làm Meggie nhớ lại cái nhà kho ở Tân Tây Lan và Frank.

Ba mươi tiếng đồng hồ sau khi rời Drogheda, cha Ralph đã có mặt trong phòng của Đức Khâm mạng. Ông đi ngang qua căn phòng rộng lớn, đến hôn chiếc nhẫn người cha linh hồn của mình, rồi buông mình xuống ghế bành một cách mệt mỏi. Chỉ khi cảm thấy đôi mắt đẹp và thông suốt đang nhìn thẳng vào mình, cha Ralph mới nhận ra cách ăn mặc không bình thường của ông, và hiểu ra tại sao có nhiều người đã nhìn mình chăm chăm từ khi ông mới bước xuống nhà ga Trung ương. Bỏ quên chiếc vali gởi ở nhà xứ Gilly, cha Ralph nhảy lên tàu hỏa chuyến tốc hành chỉ trước giờ chạy hai phút. Ông đã trải qua một ngàn cây số trên toa tàu lạnh giá mà chỉ mặc một chiếc áo sơ mi, quần cỡi ngựa và giày bốt, tất cả ướt đẫm mà không hay biết. Cha Ralph nhìn lại quần áo của mình, cười buồn rồi nhìn về hướng Tổng giám mục.

– Xin Đức cha tha lỗi. Có quá nhiều biến cố xảy ra đến nỗi con quên mất cách ăn mặc dị hợm của mình.

– Con khỏi phải xin lỗi, Ralph (khác hơn người tiền nhiệm, ông thích gọi thư ký riêng của mình bằng tên). Trông con có vẻ rất lãng mạng, đỏm dáng nữa là khác, dù con có vẻ mệt mỏi. Tuy nhiên, như thế có phần nào thế tục hơn phải không?

– Về phương diện tục thế, con hoàn toàn đồng ý. Nhưng về phương diện lãng mạn và đỏm dáng, thưa Đức cha, có lẽ vì Đức cha chưa bao giờ thấy cách ăn mặc thông thường của con ở Gillanbone.

– Ralph rất thân mến của ta, dù cho con nảy ra ý định dùng bao đựng than để làm quần áo mặc, con cũng sẽ không mất đi chút nào vẻ lãng mạn và đỏm dáng! Bộ quần áo cỡi ngựa rất hợp với con, đúng là rất hợp. Cũng như với chiếc áo dòng, con đừng bận tâm để chứng minh rằng con không thấy bộ quần áo đó hợp với con hơn là bộ đồ vét đen. Con có một dáng đi rất lạ và đặc biệt thu hút. Con giữ được một thân hình cường tráng. Cha tin rằng con sẽ giữ được như thế mãi mãi. Cha cũng nghĩ rằng, khi cha được gọi về La Mã, cha sẽ mang con theo. Cha rất tò mò xem coi con sẽ gây ấn tượng ra sao với các giáo sĩ người àbụng to và chân ngắn ngủn. Đúng là một con mèo thon thả đẹp giữa những con bồ câu mập và ngơ ngác.

La Mã! Cha Ralph giật nẩy người.

– Chuyện xảy ra có đau đớn không, Ralph? Tổng giám mục vừa hỏi vừa đưa bàn tay đeo nhẫn vuốt ve chiếc lưng mượt mà của con mèo Abyssinian dang nằm kêu gừ gừ trên đầu gối của ông.

– Khủng khiếp lắm thưa Đức cha.

– Con dành rất nhiều tình cảm cho gia đình đó?

– Thưa vâng.

– Con có yêu thương mọi người trong gia đình ấy như nhau hay với một số người, con yêu nhiều hơn những người khác?

Nhưng cha Ralph cũng quỷ quyệt không kém bề trên của mình. Thời gian phục vụ khá lâu dưới quyền ông đủ để cho cha Ralph hiểu thấu cách suy nghĩ của Tổng giám mục. Cha Ralph phá vỡ cái bẫy giăng ra bằng một thái độ thẳng thắn giả tạo, nhưng đủ sức làm tiêu tan mọi nghi ngờ ở Tổng giám mục. Đầu óc tinh tế và lắt léo ấy lại không nghĩ ra rằng một sự thẳng thắn bề ngoài nó dối trá gấp mấy lần so với sự chối quanh né tránh.

– Con yêu thương mọi thành viên trong gia đình đó nhưng như Đức cha đã nói, với một số người, con có yêu thương nhiều hơn. Chẳng hạn Meggie, cô con gái mà con yêu thương nhất. Con luôn cảm thấy có trách nhiệm riêng với cô con gái vì gia đình gồm toàn con trai và quên đi sự có mặt của đứa con gái.

– Cô gái Meggie đó bao nhiêu tuổi?

– Con không biết chính xác. Ồ! Có lẽ khoảng hai mươi tuổi, hình như thế. Nhưng con có yêu cầu bà mẹ hứa sẽ bớt đi công việc sổ sách kết toán để con gái của bà có điều kiện tham dự vào những cuộc khiêu vũ trong vùng, có cơ hội gặp nhiều chàng trai cùng lứa tuổi. Nếu không cuộc đời cô ta sẽ hỏng mất vì bị giam hãm ở Drogheda như thế quả là tai hại.

Cha Ralph chỉ nói toàn sự thật. Với sự tinh ý nhạy bén đặc biết, Tổng giám mục nhận ra ngay, mặc dù ông chỉ hơn người thư ký riêng của mình ba tuổi. Con đường công danh của ông ở tòa thánh không phải chịu những thăng trầm như linh mục Ralph, nhưng dưới nhiều góc cạnh, ông cảm thấy mình già hơn gấp bội người dưới quyền. Cha Ralph sẽ không bao giờ già như thế. Vatican đã hủy hoại quá sớm sức sống ở người mà tòa thánh đã chiếm hữu, còn Ralph thì vẫn còn tràn trề sinh lực.

Bớt đi phần nào sự cảnh giác, Tổng giám mục vẫn tiếp tục quan sát người thư ký riêng của mình và trở lại cuộc chơi hấp dẫn để bằng mọi cách tìm cho ra chính xác động cơ ở Ralph là gì. Lúc đầu, Tổng giám mục tin chắc rằng ở con người này có sự yếu đuối về xác thịt, bằng cách này hay cách khác. Cái đẹp lạ lùng ở gương mặt, kể cả thân hình chắc chắn gợi lên biết bao thèm muốn, đến đỗi cha Ralph không thể nào không biết đến. Nhưng với thời gian, Đức cha dã thấy ra rằng cảm tưởng ban đầu của mình chỉ đúng một nửa: đúng là cha Ralph cũng cảm nhận được sức quyến rũ của mình nhưng điều đó gắn liền với sự hồn nhiên không thể chối cãi. Dù ngọn lửa đang cháy bỏng trong con người cha Ralph là gì đi nữa, thì điều chắc chắn, đó không phải là vấn đề xác thịt. Tổng giám mục đã sắp xếp cho linh mục Ralph gần gũi với những người đồng tình luyến ái cao tay, biết cách thu hút những ai có chút khuynh hướng đồi bại này nhưng kết cuộc chẳng có kết quả nào. Ngài cũng theo dõi linh mục Ralph khi ông ở bên cạnh những người phụ nữ đẹp nhất nước nhưng cũng chẳng có kết quả. Một thoáng chú ý cũng không có, sự thèm muốn trong ánh mắt cũng không dù cho ông không hay biết mình được chú ý. Vâng, Tổng giám mục cũng có lúc dùng những người dưới tay để theo dõi và báo cáo lại một cách trung thực. Thế là Đức cha bắt đầu tin rằng chỗ yếu của linh mục Ralph nằm trong sự tự kiêu mình là linh mục và trong chính tham vọng của ông, đó là hai mặt của một nhân cách mà thật ra không xa lạ đối với Đức cha vì chính trong bản thân ngài cũng tìm thấy những mặt ấy.

Nhà thờ không thiếu địa vị dành cho những kẻ tham vọng và cũng như những định chế có tầm cỡ, nó luôn luôn dựa vào những con người trung kiên và tham vọng như thế để trường tồn. Dư luận ngoài đời đồn rằng linh mục Ralph đã sang đoạt tài sản mà gia đình Cleary đáng lẽ được thừa kế; mỉa mai thay đó lại là gia đình mà linh mục nói với mọi người rằng mình yêu thương. Cứ cho đó là sự thật thì càng phải sử dụng linh mục Ralph. Đôi mắt xanh đẹp tuyệt ấy đã sáng lên làm sao khi nghe nhắc tới La Mã! Có lẽ đã đến lúc thử một bước đi chiến lược mới. Tổng giám mục làm ra vẻ lơ đễnh đi một nước cờ trong cuộc đối thoại với linh mục Ralph, nhưng thật ra dưới đôi mi nửa khép nửa mở, ông vẫn quan sát rất chăm chú:

– Cha đã nhận được tin tức từ Vatican trong khi con đi vắng, Ralph ạ. Tổng giám mục vừa nói vừa đặt nhẹ con mèo qua một bên. Sheba bé nhỏ của ta, con ích kỷ quá. Con làm cho hai chân ta tê cứng.

– Chuyện gì thế thưa Đức cha? Linh mục Ralph ngả người vào ghế bành để nhìn rõ hơn Tổng giám mục, đồng thời ông cố giữ cho hai mí mắt không sụp xuống vì quá mệt mỏi sau một cuộc hành trình dài.

– Vâng, con có thể đi ngủ nhưng trước đó con cần nghe những tin tức này đã. Cách đây không lâu, cha có gởi một mật thư riêng cho Đức Thánh cha và ngay sáng hôm nay, cha đã nhận được trả lời của Ngài qua người đại diện là Đức Hồng Y Monteverdi, một người bạn của cha. Cha vẫn tự hỏi phải chăng Monteverdi thuộc dòng dõi nhà soạn nhạc thời Phục Hưng. Không hiểu sao, cha cứ quên mãi không hỏi điều đó khi gặp Ngài. Ồ! Sheba, tại sao con cứ đưa vuốt ra mỗi khi con cảm thấy ưa thích?

– Con đang nghe đây thưa Đức cha. Con chưa buồn ngủ đâu, cha Ralph cười nói. Đức cha yêu mèo là điều không có gì ngạc nhiên. Đức cha không khác con mèo, thích kéo dài sự vui sướng khi vờn con mồi. Sheba xinh đẹp hãy lại đây, đừng theo con người ác độc ấy, hãy lại đây với ta.

Con mèo cái lập tức rời khỏi bộ áo tím của Tổng giám mục và nhảy lên đùi linh mục, nó nằm rạp người xuống, đuôi ngoe nguẩy, vừa hít mạnh để đánh hơi, có vẻ như thích mùi ngựa và mùi bùn trên người của linh mục Ralph.

Đôi mắt xanh lanh lợi của cha Ralph nhìn thẳng vào mắt Tổng giám mục; hai mí mắt nửa nhắm nửa mở, cả hai đều rất tỉnh táo.

– Làm thế nào mà cha lập được thành tích như thế? Tổng giám mục hỏi. Sheba chẳng bao giờ tuân theo lời của bất cứ ai, thế mà nó chạy ngay lại cha như thể được mời ăn trứng cá caviar hay một thứ cao lương mỹ vị nào đó. Đồ bội bạc!

– Con vẫn chờ nghe Đức cha nói tiếp.

– Có phải bực bội vì bị chờ đợi nên con đã trả thù bằng cách đoạt con mèo cái của cha? Thôi, con đã thắng cuộc, xin thua. Mà này, có bao giờ con nếm mùi thất bại chưa? Một câu hỏi thú vị đấy, Ralph thân mến. Còn bây giờ cha xin có lời chúc mừng. Kể từ nay con phải đội mũ lễ, mặc áo choàng lễ và người ta phải gọi con bằng Đức cha, giám mục De Bricassart.

Tổng giám mục thích thú nhìn đôi mắt của Ralph mở ra thật lớn. Lần đầu tiên, linh mục Ralph không tìm cách giả vờ hay che dấu những tình cảm thật của mình. ông ta rạng rỡ lên một cách tự nhiên.

Chương 18

Ba mươi tiếng đồng hồ sau khi rời Drogheda, cha Ralph đã có mặt trong phòng của Đức Khâm mạng. Ông đi ngang qua căn phòng rộng lớn, đến hôn chiếc nhẫn người cha linh hồn của mình, rồi buông mình xuống ghế bành một cách mệt mỏi. Chỉ khi cảm thấy đôi mắt đẹp và thông suốt đang nhìn thẳng vào mình, cha Ralph mới nhận ra cách ăn mặc không bình thường của ông, và hiểu ra tại sao có nhiều người đã nhìn mình chăm chăm từ khi ông mới bước xuống nhà ga Trung ương. Bỏ quên chiếc vali gởi ở nhà xứ Gilly, cha Ralph nhảy lên tàu hỏa chuyến tốc hành chỉ trước giờ chạy hai phút. Ông đã trải qua một ngàn cây số trên toa tàu lạnh giá mà chỉ mặc một chiếc áo sơ mi, quần cỡi ngựa và giày bốt, tất cả ướt đẫm mà không hay biết. Cha Ralph nhìn lại quần áo của mình, cười buồn rồi nhìn về hướng Tổng giám mục.

– Xin Đức cha tha lỗi. Có quá nhiều biến cố xảy ra đến nỗi con quên mất cách ăn mặc dị hợm của mình.

– Con khỏi phải xin lỗi, Ralph (khác hơn người tiền nhiệm, ông thích gọi thư ký riêng của mình bằng tên). Trông con có vẻ rất lãng mạng, đỏm dáng nữa là khác, dù con có vẻ mệt mỏi. Tuy nhiên, như thế có phần nào thế tục hơn phải không?

– Về phương diện tục thế, con hoàn toàn đồng ý. Nhưng về phương diện lãng mạn và đỏm dáng, thưa Đức cha, có lẽ vì Đức cha chưa bao giờ thấy cách ăn mặc thông thường của con ở Gillanbone.

– Ralph rất thân mến của ta, dù cho con nảy ra ý định dùng bao đựng than để làm quần áo mặc, con cũng sẽ không mất đi chút nào vẻ lãng mạn và đỏm dáng! Bộ quần áo cỡi ngựa rất hợp với con, đúng là rất hợp. Cũng như với chiếc áo dòng, con đừng bận tâm để chứng minh rằng con không thấy bộ quần áo đó hợp với con hơn là bộ đồ vét đen. Con có một dáng đi rất lạ và đặc biệt thu hút. Con giữ được một thân hình cường tráng. Cha tin rằng con sẽ giữ được như thế mãi mãi. Cha cũng nghĩ rằng, khi cha được gọi về La Mã, cha sẽ mang con theo. Cha rất tò mò xem coi con sẽ gây ấn tượng ra sao với các giáo sĩ người àbụng to và chân ngắn ngủn. Đúng là một con mèo thon thả đẹp giữa những con bồ câu mập và ngơ ngác.

La Mã! Cha Ralph giật nẩy người.

– Chuyện xảy ra có đau đớn không, Ralph? Tổng giám mục vừa hỏi vừa đưa bàn tay đeo nhẫn vuốt ve chiếc lưng mượt mà của con mèo Abyssinian dang nằm kêu gừ gừ trên đầu gối của ông.

– Khủng khiếp lắm thưa Đức cha.

– Con dành rất nhiều tình cảm cho gia đình đó?

– Thưa vâng.

– Con có yêu thương mọi người trong gia đình ấy như nhau hay với một số người, con yêu nhiều hơn những người khác?

Nhưng cha Ralph cũng quỷ quyệt không kém bề trên của mình. Thời gian phục vụ khá lâu dưới quyền ông đủ để cho cha Ralph hiểu thấu cách suy nghĩ của Tổng giám mục. Cha Ralph phá vỡ cái bẫy giăng ra bằng một thái độ thẳng thắn giả tạo, nhưng đủ sức làm tiêu tan mọi nghi ngờ ở Tổng giám mục. Đầu óc tinh tế và lắt léo ấy lại không nghĩ ra rằng một sự thẳng thắn bề ngoài nó dối trá gấp mấy lần so với sự chối quanh né tránh.

– Con yêu thương mọi thành viên trong gia đình đó nhưng như Đức cha đã nói, với một số người, con có yêu thương nhiều hơn. Chẳng hạn Meggie, cô con gái mà con yêu thương nhất. Con luôn cảm thấy có trách nhiệm riêng với cô con gái vì gia đình gồm toàn con trai và quên đi sự có mặt của đứa con gái.

– Cô gái Meggie đó bao nhiêu tuổi?

– Con không biết chính xác. Ồ! Có lẽ khoảng hai mươi tuổi, hình như thế. Nhưng con có yêu cầu bà mẹ hứa sẽ bớt đi công việc sổ sách kết toán để con gái của bà có điều kiện tham dự vào những cuộc khiêu vũ trong vùng, có cơ hội gặp nhiều chàng trai cùng lứa tuổi. Nếu không cuộc đời cô ta sẽ hỏng mất vì bị giam hãm ở Drogheda như thế quả là tai hại.

Cha Ralph chỉ nói toàn sự thật. Với sự tinh ý nhạy bén đặc biết, Tổng giám mục nhận ra ngay, mặc dù ông chỉ hơn người thư ký riêng của mình ba tuổi. Con đường công danh của ông ở tòa thánh không phải chịu những thăng trầm như linh mục Ralph, nhưng dưới nhiều góc cạnh, ông cảm thấy mình già hơn gấp bội người dưới quyền. Cha Ralph sẽ không bao giờ già như thế. Vatican đã hủy hoại quá sớm sức sống ở người mà tòa thánh đã chiếm hữu, còn Ralph thì vẫn còn tràn trề sinh lực.

Bớt đi phần nào sự cảnh giác, Tổng giám mục vẫn tiếp tục quan sát người thư ký riêng của mình và trở lại cuộc chơi hấp dẫn để bằng mọi cách tìm cho ra chính xác động cơ ở Ralph là gì. Lúc đầu, Tổng giám mục tin chắc rằng ở con người này có sự yếu đuối về xác thịt, bằng cách này hay cách khác. Cái đẹp lạ lùng ở gương mặt, kể cả thân hình chắc chắn gợi lên biết bao thèm muốn, đến đỗi cha Ralph không thể nào không biết đến. Nhưng với thời gian, Đức cha dã thấy ra rằng cảm tưởng ban đầu của mình chỉ đúng một nửa: đúng là cha Ralph cũng cảm nhận được sức quyến rũ của mình nhưng điều đó gắn liền với sự hồn nhiên không thể chối cãi. Dù ngọn lửa đang cháy bỏng trong con người cha Ralph là gì đi nữa, thì điều chắc chắn, đó không phải là vấn đề xác thịt. Tổng giám mục đã sắp xếp cho linh mục Ralph gần gũi với những người đồng tình luyến ái cao tay, biết cách thu hút những ai có chút khuynh hướng đồi bại này nhưng kết cuộc chẳng có kết quả nào. Ngài cũng theo dõi linh mục Ralph khi ông ở bên cạnh những người phụ nữ đẹp nhất nước nhưng cũng chẳng có kết quả. Một thoáng chú ý cũng không có, sự thèm muốn trong ánh mắt cũng không dù cho ông không hay biết mình được chú ý. Vâng, Tổng giám mục cũng có lúc dùng những người dưới tay để theo dõi và báo cáo lại một cách trung thực. Thế là Đức cha bắt đầu tin rằng chỗ yếu của linh mục Ralph nằm trong sự tự kiêu mình là linh mục và trong chính tham vọng của ông, đó là hai mặt của một nhân cách mà thật ra không xa lạ đối với Đức cha vì chính trong bản thân ngài cũng tìm thấy những mặt ấy.

Nhà thờ không thiếu địa vị dành cho những kẻ tham vọng và cũng như những định chế có tầm cỡ, nó luôn luôn dựa vào những con người trung kiên và tham vọng như thế để trường tồn. Dư luận ngoài đời đồn rằng linh mục Ralph đã sang đoạt tài sản mà gia đình Cleary đáng lẽ được thừa kế; mỉa mai thay đó lại là gia đình mà linh mục nói với mọi người rằng mình yêu thương. Cứ cho đó là sự thật thì càng phải sử dụng linh mục Ralph. Đôi mắt xanh đẹp tuyệt ấy đã sáng lên làm sao khi nghe nhắc tới La Mã! Có lẽ đã đến lúc thử một bước đi chiến lược mới. Tổng giám mục làm ra vẻ lơ đễnh đi một nước cờ trong cuộc đối thoại với linh mục Ralph, nhưng thật ra dưới đôi mi nửa khép nửa mở, ông vẫn quan sát rất chăm chú:

– Cha đã nhận được tin tức từ Vatican trong khi con đi vắng, Ralph ạ. Tổng giám mục vừa nói vừa đặt nhẹ con mèo qua một bên. Sheba bé nhỏ của ta, con ích kỷ quá. Con làm cho hai chân ta tê cứng.

– Chuyện gì thế thưa Đức cha? Linh mục Ralph ngả người vào ghế bành để nhìn rõ hơn Tổng giám mục, đồng thời ông cố giữ cho hai mí mắt không sụp xuống vì quá mệt mỏi sau một cuộc hành trình dài.

– Vâng, con có thể đi ngủ nhưng trước đó con cần nghe những tin tức này đã. Cách đây không lâu, cha có gởi một mật thư riêng cho Đức Thánh cha và ngay sáng hôm nay, cha đã nhận được trả lời của Ngài qua người đại diện là Đức Hồng Y Monteverdi, một người bạn của cha. Cha vẫn tự hỏi phải chăng Monteverdi thuộc dòng dõi nhà soạn nhạc thời Phục Hưng. Không hiểu sao, cha cứ quên mãi không hỏi điều đó khi gặp Ngài. Ồ! Sheba, tại sao con cứ đưa vuốt ra mỗi khi con cảm thấy ưa thích?

– Con đang nghe đây thưa Đức cha. Con chưa buồn ngủ đâu, cha Ralph cười nói. Đức cha yêu mèo là điều không có gì ngạc nhiên. Đức cha không khác con mèo, thích kéo dài sự vui sướng khi vờn con mồi. Sheba xinh đẹp hãy lại đây, đừng theo con người ác độc ấy, hãy lại đây với ta.

Con mèo cái lập tức rời khỏi bộ áo tím của Tổng giám mục và nhảy lên đùi linh mục, nó nằm rạp người xuống, đuôi ngoe nguẩy, vừa hít mạnh để đánh hơi, có vẻ như thích mùi ngựa và mùi bùn trên người của linh mục Ralph.

Đôi mắt xanh lanh lợi của cha Ralph nhìn thẳng vào mắt Tổng giám mục; hai mí mắt nửa nhắm nửa mở, cả hai đều rất tỉnh táo.

– Làm thế nào mà cha lập được thành tích như thế? Tổng giám mục hỏi. Sheba chẳng bao giờ tuân theo lời của bất cứ ai, thế mà nó chạy ngay lại cha như thể được mời ăn trứng cá caviar hay một thứ cao lương mỹ vị nào đó. Đồ bội bạc!

– Con vẫn chờ nghe Đức cha nói tiếp.

– Có phải bực bội vì bị chờ đợi nên con đã trả thù bằng cách đoạt con mèo cái của cha? Thôi, con đã thắng cuộc, xin thua. Mà này, có bao giờ con nếm mùi thất bại chưa? Một câu hỏi thú vị đấy, Ralph thân mến. Còn bây giờ cha xin có lời chúc mừng. Kể từ nay con phải đội mũ lễ, mặc áo choàng lễ và người ta phải gọi con bằng Đức cha, giám mục De Bricassart.

Tổng giám mục thích thú nhìn đôi mắt của Ralph mở ra thật lớn. Lần đầu tiên, linh mục Ralph không tìm cách giả vờ hay che dấu những tình cảm thật của mình. ông ta rạng rỡ lên một cách tự nhiên.

Chương 19

Đất đỏ nhanh chóng tìm lại sức sống một cách kinh ngạc.

Chỉ trong một tuần, những mầm xanh nhú lên xuyên qua lớp bùn nhầy nhụa và trong hai tháng, những chiếc lá non đã xuất hiện trên các cành cây bị cháy đen. Con người đã chứng tỏ được sự chịu đựng và sức quật khởi của mình. Ai thiếu kiên nhẫn sẽ không thể ở lại trên vùng đất tây bắc bao la này. Nhưng phải chờ nhiều năm, các vết thương do đám cháy kinh khủng gây ra mới xóa hết.

Drogheda mất ít nhất một phần năm đất khai thác, thiệt hại hai mươi lăm ngàn con cừu. Thật ra đây là một thiệt hại chẳng là bao vì vào những năm thuận lợi, đàn cừu lên đến khoảng một trăm hai mươi lăm ngàn con. Tuy nhiên khi nhìn các khu vườn của Drogheda, vào mùa xuân vẫn trơ trọi và cháy đen, lòng ai cũng đau nhói. Dân chúng ở đây có thể sống sót trong cơn hạn hán nhờ những bồn chứa nước của Michael Carson nhưng ngược lại không có thứ gì để đối đầu với lửa. Dây đậut tía không làm sao nở hoa. Những cây hoa hồng bị còi chỉ còn lại những gai và gai, hoa pensé cũng chết, các loại cây nhỏ khác thì không khác những cọng rơm vàng úa; ở những nơi có bóng mát, các cây vẫn rạp mình xuống một cách thảm hại, không còn hy vọng hồi sinh.

Bob quyết định noi theo con đường của cha, tăng cường thêm lực lượng để trang trại đạt được hiệu quả cao nhất, do đó anh thu nhận thêm ba người chuyên về chăn nuôi. Bà Mary Carson khi còn sống không chịu ghi vào sổ lương danh sách những công nhân làm vài ngày mà chỉ ghi tên các thanh niên của gia đình Cleary; còn vào những lúc bận rộn cừu đẻ và cắt lông, bà chỉ dùng công nhân tạm thời, nhưng Pađy, cha của Bob, thì suy nghĩ và làm khác, ông nghĩ rằng nếu những người làm công có thể đặt tin tưởng và một nơi chốn nhất định để lập nghiệp, họ sẽ làm việc tốt hơn. Nhưng cuối cùng, kết quả không khác nhau bao nhiêu. Phần đông những người chăn nuôi mướn mắc cái bệnh không thể ở yên một chỗ.

Fiona thay chồng đảm trách việc quan hệ thư từ với Đức cha Ralph, và trung thành với tính tình của mình, bà không bao giờ tiết lộ với bất cứ ai nội dung thư từ, ngoại trừ duy nhất vấn đề quản lý trang trại. Meggie rất thèm muốn đoạt lấy những thư ấy và đọc cho đỡ nhớ nhung nhưng Fiona không để cho con gái mình có những cơ hội như thế. Bà bỏ tất cả thư vào một tủ sắt nhỏ ngay khi con gái bà hay tin có thư mới đến. Sau khi Đức cha Ralph rời khỏi Drogheda, bà Fiona quên ngay lời hứa của mình với linh mục. Trong vài lần được mời dự khiêu vũ và tiếp tân, Meggie đều từ chối. Được biết việc này, Fiona vẫn giữ nguyên thái độ xưa kia, không hề thúc đẩy con gái chấm dứt cuộc sống đơn độc và buồn tẻ.

Liam Ó Rourke lợi dụng mọi cơ hội để tạt ngang qua Drogheda bằng xe hơi. Enoche Davie điện thoại thường xuyên, Conner Carmichael và Alastair Mac Queen cũng thế. Nhưng đối với mỗi người, Meggie đều tỏ ra xa lạ, khô khan, đến đỗi tất cả đều thấy mình hoàn toàn không hy vọng.

Chương 20

Chuông điện thoại reo lên, hai tiếng dài một tiếng ngắn, tín hiệu dành riêng cho Drogheda, Fiona nhắc ống nghe và quay lại.

– Điện thoại của Bob.

– Allô… à! Jimmy đó phải không… Vâng, Bob đây… Vâng đồng ý. Thế thì hay lắm. Có giấy chứng nhận tốt không? Cứ gởi hắn đến đây… Nếu đúng là anh ta giỏi như thế, bạn có thể nói thẳng với hắn rằng đã có một chỗ làm dành sẵn ở đây. Tôi không tin lắm ở những tờ giấy chứng nhận… Thôi nhé. Cảm ơn. Chào.

Bob trở lại ghế ngồi.

– Chuyện liên quan đến một anh thợ chăn nuôi, một anh chàng khá lắm theo con nhận xét của Jimmỵ Anh ta đã từng làm việc ở đồng bằng Queensland phía tây gần Longreach và Charlevillẹ Anh ta chăn bò cũng rất giỏi. Đây là một tay cỡi ngựa xuất sắc, có tài luyện ngựa. Trước kia anh ta là thợ cắt lông cừu, cũng là một cự phách trong nghề này theo lời Jimmỵ Hai trăm năm chục con trong một ngày! Con chỉ hơi ngạc nhiên tại sao một nhà vô địch như thế lại bằng lòng với đồng lương của một người chăn cừu? Rất hiếm trường hợp một tay cắt lông cừu giỏi như thế lại bỏ tông đơ để ngồi lên mình ngựa. Dù thế nào thì đó là một anh chàng mà ta đang cần ở các bãi chăn, phải không mẹ?

Với năm tháng, giọng nói của Bob kéo dài ra như giọng đặc biệt của người úc nhưng ngược lại anh nói từng câu rất ngắn. Anh sắp sửa bước vào cái tuổi ba mươi nhưng hình như không có khả năng chinh phục các cô gái mà anh được gặp trong các cuộc tiếp tân rất hiếm được tổ chức. Một mặt anh rất nhút nhát, một mặt khác anh không thích chú ý gì hơn là đất đai và chăn nuôi. Jack và Hughie càng ngày càng giống anh mình. Cả ba cũng thích nằm trên sàn, sợ rằng nằm trên giường sẽ làm cho họ mềm yếu đi.

– Anh thợ mới mà con nói đã có gia đình chưa? Fiona hỏi nhưng vẫn tiếp tục công việc sổ sách của mình.

– Con không biết. Con quên hỏi. Ngày mai mình sẽ biết ngay khi anh ta đến đây.

– Hắn đến đây bằng cách nào?

– Jimmy đưa anh ta đến bằng xe hơi. Anh ta muốn nhìn qua các con cừu già ở Tankstand.

– Mong rằng hắn sẽ ở lại đây một thời gian. Nếu hắn chưa có vợ, mẹ đoán hắn sẽ lại ra đi trong vài tuần – Fiona nói – Những anh làm công kiểu đó không ở lại lâu đâu.

Jims và Patsy đang theo học nội trú tại Riverview nhưng nhất quyết sẽ không ở lại trường thêm một ngày nào nữa khi cả hai được mười bốn tuổi. Cả hai náo nức chờ cái ngày được đi theo Bob, Jack và Hughie ở ngoài bãi chăn.

Nhiều tuần đã trôi qua khi lần đầu Meggie chạm mặt với tay thợ chăn nuôi mới đến làm. Tên anh ta là Luke Ó Neill. Anh thường đến ngôi nhà lớn trò chuyện. Luke từ chối không ngủ trong lán trại dành cho những người độc thân, anh chọn căn nhà nhỏ trống còn lại bên suối để ở. Ngay khi vừa được giới thiệu với bà Smith, Luke đã giành được cảm tình của bà quản gia rất ít khi chú ý đến hạng người ở thuê làm mướn. Con người mới đến này gây nhiều tò mò cho Meggie trước khi nàng gặp mặt trực tiếp.

Con ngựa hồng và con ngựa cái của Meggie được nhốt trong chuồng chứ không thả ngoài bãi quay ngựa nữa. Do đó Meggie thường bắt đầu ngày làm việc của mình trễ hơn nhóm đàn ông vì vậy có khi trong nhiều tuần lễ liền Meggie không chạm mắt mấy người thợ. Nhưng cuối cùng thì nàng chạm mặt với Luke vào một buổi xế chiều mùa hè, lúc mặt trời đã xuống thấp làm đỏ rực các hàng cây, kéo dài thường thượt những cái bóng, trước khi lùi dần vào sự quên lãng của màn đêm. Meggie từ bãn Borehead trở về và đi ngược chầm chậm đến chỗ băng qua con suối, cùng lúc đó Luke từ hướng đông nam về cũng đi đến.

ánh mặt trời chiếu thẳng vào mắt Luke, nàng nhìn thấy anh ta trước khi anh ta thấy nàng. Luke cỡi một con ngựa hồng cao lớn, hung dữ, bờm và đuôi màu đen. Khác hơn các đồng nghiệp của mình, Luke mặc áo sơ mi trắng và quần màu nhạt. Lịch sự làm sao! Meggie nói thầm. Như thế cũng tốt nếu anh ta không sợ mất công giặt ủi.

– Chào bà chủ! Anh ta nói lớn khi ngựa tiến lên ngang với nàng. Anh ta chào Meggie bằng cách giở mũ ra rồi để trở xuống hơi ngửa ra phía sau. Đôi mắt xanh có vẻ không coi ai ra gì, nhìn nàng không giấu giếm sự ngưỡng mộ

– Xin lỗi, cô chắc chắn không phải là bà chủ, có lẽ con gái của bà. Anh ta nhận xét. Tôi tên là Luke Ó Neill.

Meggie ấp úng vài tiếng gì đó không rõ, né tránh không nhìn thẳng anh ta, lòng bối rối vàcử chỉ thiếu tự nhiên, không làm sao tìm ra một câu chào hỏi thông thường thích hợp cho hoàn cảnh.

Ồ, thật là phi lý? Tại sao lại có một con ngựa liều lĩnh có đôi mắt và nét mặt giống linh mục Ralph đến thế. Cái giống ấy không ẩn chứa trong cách nhìn Meggie; sự vui tính thấy rõ trong bản chất con người của anh ta và cái nhìn ấy không hề để lộ một tình yêu cháy bỏng dành cho nàng. Ngược lại ngay ở cái giây phút đầu nàng gặp cha Ralph, cô bé Meggie đã bắt gặp tình yêu trong đôi mắt của linh mục. Làm thế nào nhìn Luke mà không thấy đôi mắt của Ralph và tránh được không nhớ đến Ralph. Một trò đùa ác độc, một sự trừng phạt.

Hoàn toàn không ý thức về những suy nghĩ mà anh đã gợi lên trong đầu của Meggie, Luke giữ cho con ngựa hồng khó dạy của mình ngang với con ngựa cái bình thản của Meggie, cả hai đang băng qua suối, nước chảy rất dữ sau những trận mưa lớn. Không thể nghi ngờ, Meggie đã trở thành một thiếu nữ tuyệt đẹp. Mái tóc của nàng cũng đẹp làm sao! Phải chi nàng chịu ngước mặt lên cho anh ta có thể ngắn trọn vẹn gương mặt! Nhưng đúng cái lúc Meggie quyết định làm điều đó thì sự biểu lộ trên gương mặt đã buộc Luke phải nhíu mày lại vì sửng sốt. Không hẳn Meggie đã nhìn Luke như có hận thù nhưng cái nhìn ấy như muốn tìm kiếm điều gì đó còn tiềm ẩn hoặc là một nét nào đó mà Meggie không muốn bắt gặp ở Ralph. Meggie bối rối, còn Luke thì chưa quen bị phụ nữ nhìn soi mói trong thế bị động. Mái tóc màu vàng hơi hung của Meggie sáng rực dưới màu trời đỏ ửng của hoàng hôn cùng đôi mắt nâu như một cái bẫy chực chờ Luke tự ý lao vào.

Anh theo dõi thích thú với phản ứng bực dọc và thất vọng của Meggiẹ Rồi anh bình tĩnh tiếp tục quan sát: cái miệng như đóa hoa hé nở, những hạt mồ hôi động lại ở môi như những hạt sương mai, trên trán cũng có những giọt mồ hôi như thế vì trời nóng, lông nheo cong lên vì ngạc nhiên.

Nụ cười của Luke để lộ những chiếc răng to khỏe của linh mục Ralph; nhưng nụ cười ấy lại không phải cha Ralph.

– Cô có biết không, cô có một cái nhìn ngơ ngác hồn nhiên của một đứa trẻ. Miệng tròn như chữ O và cả chữ Ạ

– Tôi xin lỗi ông – Meggie nói mắt nhìn nơi khác. Tôi không cố tình soi mói ông. ông làm cho tôi nhớ đến một người, có thế thôi.

– Cô nhìn tôi tùy thích. Còn hơn là tôi chỉ được nhìn cái đỉnh đầu của cô dù cho nó đẹp đến đâu. Tôi gợi cho cô nhớ đến ai?

– Điều đó không quan trọng. Tuy nhiên thật là quái lạ khi nhìn gặp một người lần đầu tiên lại cảm thấy rất quen thuộc… Nhưng thật ra lại rất khác với người đó.

– Cô tên gì, cô bé gái Clearỷ

– Meggiẹ

– Meggie… Một cái tên không phù hợp với cô chút nào. Tôi thích cô mang tên Belinda hay Madeline hơn, nhưng nếu Meggie đúng là cái tên không thể nào khác hơn nữa của cô thì đành bằng lòng với Meggie vậy. Tên gọi thân mật là gì?…

– Không, Meghann.

– Ừ, nghe thích hơn! Vậy tôi gọi cô là Meghann.

– Không, không có chuyện đó được! Meggie phản ứng lại. Tôi rất ghét cái tên ấy.

Luke cười:

– Cô được nuông chìu quá và quen được mọi người thỏa mãn các ý thích bất thường, cô bé Meggie ạ. Nhưng với tôi, nếu tôi thích gọi cô là Eustacia Sophronia Augusta thì không ai có thể cấm cản tôi, cô có biết không?

Cả hai vừa đến bãi thả ngựa. Luke buông ngựa xuống đất nhẹ nhàng, đưa tay đấm nhẹ vào đầu con ngựa đang nhe răng muốn cắn anh ta, con vật quay đi chỗ khác, ngoan ngoãn. Đứng dưới đất, anh ta đưa tay ra chờ để đỡ Meggie xuống. Nhưng không, Meggie thúc chân vào bụng con vật rồi đi thẳng đến chuồng.

– Con ngựa hồng khó tính này không thể chung chạ với những con ngựa tầm thường. Meggie nói thật lớn và không thèm quay lại.

Ồ, sao lại phi lý thế! Dù đứng thẳng người trên hai chân, hắn cũng giống linh mục Ralph; cũng cao lớn, vai rộng, hông thon, nhưng cái đẹp tỏa ra có phần khác. Linh mục Ralph di chuyển như một vũ công, Luke lại như lực sĩ. Nhưng cả hai đều có cặp mắt xanh như nhau, mũi cũng thanh và thẳng, đường nét của miệng được vẽ rất tuyệt. Có lẽ anh ta không giống linh mục Ralph như cây bạch đàn màu xám, thật cao và tuyệt đẹp với cây bạch đàn màu xanh, cũng cao như thế, và cũng đẹp như thế.

Sau cuộc gặp gỡ tình cờ đó, Meggie nghe ngóng dư luận về những lời bình phẩm liên quan tới Lukẹ Bob và các anh trai đều hài long về công việc của Luke và tỏ ra ăn ý với anh tạ Ngay cả Fiona cũng đề cập đến tên của Luke trong một buổi tối trò chuyện, nhận xét rằng anh ta là một thanh niên đẹp trai.

– Mẹ có thấy anh ấy giống ai không? Meggie đang nằm dài trên thảm đọc sách hỏi bằng một giọng rất tự nhiên.

Fiona suy nghĩ một lúc.

– Đúng rồi, mẹ thấy anh ta hao giống linh mục De Bricassart. Cũng thân hình ấy, nước da ấy… Nhưng không giống nhiều lắm. Hai người rất khác nhau về tính cách đàn ông. Meggie, mẹ muốn con ngồi trên ghế như một thiếu nữ khi đọc sách. Không phải vì mặc quần cỡi ngựa mà con tự cho phép xử sự như một thằng con trái phóng túng.

Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai

30/05/2013 – Xem:149

Đọc trọn bộ :Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai

Đọc truyện :

Chuông điện thoại reo lên, hai tiếng dài một tiếng ngắn, tín hiệu dành riêng cho Drogheda, Fiona nhắc ống nghe và quay lại.

– Có sao đâu – Meggie cãi lại mẹ. Làm như có ai đó theo dõi con.

Xuống bếp, Meggie mới khám phá ra sở dĩ Luke dám ăn mặc sang trọng với chiếc sơ mi và quần màu sáng là vì anh ta đã chinh phục bà Smith. Chính bà là người giặt ủi quần áo cho Lukẹ

Một tuần sau gặp lại Luke gần con suối. Meggie nghĩ rằng Luke đã cố tình chờ mình ở đó, nhưng hoàn toàn không định ra được thái độ nào nếu điều nàng nghi ngờ ấy là đúng.

– Chào Meghann.

– Chào anh, Meggie đáp lại, mắt nhìn thẳng hai tai của con ngựa hồng.

– Có một cuộc khiêu vũ ở trại cắt lông cừu Braich thứ bảy tuần tới. Cô có thích chúng ta cùng đỉ

– Cảm ơn anh đã mời tôi, nhưng rất tiếc tôi không biết nhảy. Do đó tôi không tham dự.

– Tôi sẽ tập cho cô một vài động tác là xong, đó không phải là một trở ngại. Nhờ tôi đưa cô em gái của ông chủ đi khiêu vũ, Bob sẽ cho tôi mượn chiếc xe Rolls già nua và biết đâu đưa mượn cả chiếc ôtô mới?

– Tôi đã nói với anh là tôi không đi! Meggie đáp lại hàm răng cắn chặt.

– Cô nói với tôi là cô không biết nhảy và tôi đã trả lời với cô là tôi sẽ dạy cho cộ Cô không hề nói năng rằng cô không đi với tôi nếu cô biết nhảy, điều đó cho phép tôi nghĩ rằng chính không biết nhảy là một cản trở chớ không phải cá nhân tôi. Hay cô chỉ muốn đến đó trình diễn?

Bực bội, Meggie nhìn Luke bằng ánh mắt dữ tợn nhưng Luke vẫn bình thản cười lớn tiếng:

– Cô được nuông chìu hư hỏng, bé Meghann. Đã đến lúc mọi người xung quanh không nên chìu theo tính khí bất thường của cộ

– Tôi không thuộc loại con cưng.

– Cô hãy xem lại. Cô con gái duy nhất giữa các anh trai, người nào cũng thương yêu cô; ngoài ra tất cả đất đai này, rồi tiền bạc, nhà cửa sang trọng, người làm đông đảo…? Tôi biết chứ, chủ của cơ nghiệp này là Nhà thờ nhưng dòng họ Cleary đâu phải không có tiền

Bây giờ mới thấy ra sự khác biệt giữa hai người – Meggie nghĩ thầm, đắc thắng. ý nghĩ này chưa từng lóe lên trong đầu từ khi Meggie gặp Lukẹ Linh mục Ralph không bao giờ chú ý bề ngoài. Luke không có sự nhạy cảm như Ralph và không thể nhận ra cái gì giấu kín sau cái bề mặt. Đúng là Luke đã xuyên qua cuộc đời như người cỡi ngựa xem hoa, không thấy sự phức tạp và cũng không thấy sự đau khổ.

Hoàn toàn bất ngờ, Bob trai chìa khóa chiếc Rolls mới mà không thêm một lời nào; anh chỉ im lặng nhìn dò xét Luke rồi mỉm cười.

– Tôi không tưởng tượng Meggie đi khiêu vũ nhưng anh cứ đưa em gái tôi đi, và chúc hai người một buổi tối thật vui. Có lẽ em gái tôi sẽ rất thích. Tội nghiệp con bé. Nó ít có cơ hội đi ra khỏi nhà. Đáng lẽ chúng tôi phải tìm cách cho Meggie giải trí nhưng mọi người quá bận rộn.

– Tại sao anh không đi với Jack và Hughiẻ Luke hỏi, cho thấy anh không chống lại việc có nhiều người cùng đi.

– Không, cảm ơn. Chúng tôi không thích khiêu vũ.

Meggie mặc chiếc áo dài màu hồng tro vì rằng ngoài áo này không có áo nào khác. Chưa bao giờ trong đầu Meggie nẩy ra ý nghĩ lấy tiền mà cha Ralph chuyển vào ngân hàng cho mình để mua sắm áo quần. Cho tới nay Meggie vẫn từ chối lời mời mọc của bọn đàn ông như Onoch Davies và Alastair Mac Queen. Tất cả họ đều không có sự vững vàng của Luke Ó Neill.

Nhưng nhìn vào gương, Meggie nghĩ thầm mình sẽ đi cùng với mẹ đến Gillanbone tuần tới, ghé ngang qua bà cụ Gert để đặt vài chiếc áo mới.

Thật ra Meggie không muốn mặc chiếc áo này, nếu có một cái áo khác thì Meggie đã thay ngaỵ Chiếc áo ấy nhắc nhở một thời đã qua, một người đàn ông khác, cũng tóc đen. Chiếc áo này đã nhập thân hoàn toàn với tình yêu và những ước mơ ban đầu của Meggie, có cả nước mắt và niềm đau của sự cô đơn. Mặc chiếc áo đó đi với một người đàn ông khác như Luke là phạm vào điều thiêng liêng nhất. Meggie đã quen giấu kín tình cảm của mình, luôn giữ vẻ bình thản và vui vẻ. Meggie nghĩ đến mẹ và không khỏi rùng mình, thương xót.

Cuộc đời Meggie rồi cũng sẽ kết thúc như mẹ, luôn thu mình không để lộ ra một tình cảm nào chăng? Có phải mọi chuyện đa bắt đầu với mẹ sau khi mẹ gặp ba của Frank? Phản ứng của mẹ ra sao nếu mẹ hay được Meggie đã biết tất cả sự thật về Frank? ôi! Chuyện xảy ra ở nhà xứ! Tưởng như vừa xảy ra đêm quạ Ba và Frank đối mặt nhau, còn Ralph đã siết chặt Meggie đến nỗi nàng phải kêu lên vì đau Và Meggie vẫn nhớ những câu nói kinh khủng mà cả hai đã thét lên. Meggie đủ lớn khôn để hiểu rằng việc có con như mẹ nàng gây ra lắm hậu quả, chứ không như trước kia Meggie chỉ nghĩ rằng khi đã làm vợ chồng thì việc quan hệ xác thịt với người khác là điều triệt để bị cấm. Nỗi xấu hổ và nhục nhã ấy mẹ đã phải gánh chịu vì Frank! Không ngạc nhiên sau đó mẹ đã tự cô lập. Nếu việc ấy xảy ra cho mình – Meggie thầm nghĩ mình sẽ chọn cái chết. Trong các tiểu thuyết, chỉ có những cô gái không ra gì, xấu xa nhất mới có những đứa con ngoại hôn; còn mẹ đâu phải thế, và không xấu xa mà cũng không tầm thường. Với tất cả lòng thành Meggie mong sao mẹ sẽ kể cho mình biết tự sự hoặc chính Meggie có can đảm đề cập vấn đề. Biết đâu như thế sẽ giúp ích được mẹ, dù rằng một chút nào đó thôi. Nhưng tiếc thay bà Fioan không thuộc loại người hay tâm sự hoặc gợi lên những trao đổi thân mật. Đứng trước tấm kiếng, Meggie thở dài, ước mong với tất cả lòng thành một nỗi bất hạnh như thế sẽ không xảy ra với mình.

Thế nhưng Meggie vẫn còn trẻ; trong một lúc như thế này, mặc chiếc áo màu hồng tro nhìn mình trong tấm kiếng, nàng lại ước ao được sống với những cảm giác và đón nhận những rung động ồ ạt như một cơn gió to và nóng bỏng. Meggie không muốn kéo lê thê cuộc sống còn lại của mình như một người máy mà muốn có sự thay đổi. Tình yêu với một người chồng và những đứa con. Buồn nhớ làm gì một người không đến với mình nữa? Ralph không muốn đến và mãi mãi sẽ không đến. Ralph nói yêu Meggie nhưng tình yêu ấy không giống như của một người chồng. Vì rằng Ralph đã làm hôn lễ với Nhà thờ. Có phải tất cả những người đàn ông đều như thế, họ yêu một khái niệm lờ mờ hơn là có thể yêu một người phụ nữ? Có gì bảo đảm là tất cả đàn ông không phải như thế. Nhưng dù sao cũng có những người đàn ông đơn giản hơn, những người đàn ông dám đặt tình yêu dành cho một người phụ nữ trên tất cả. Những người đàn ông như Luke chẳng hạn.

– Tôi chưa bao giờ gặp một thiếu nữ đẹp như cộ Luke vừa nói vừa cho nổ máy chiếc Rolls.

– Anh bao nhiêu tuổi, Lukẻ

– Ba mươi, còn cổ

– Gần hai mươi bạ

– Nhiều thế à? Trông cô như một cô bé.

– Tôi không còn bé.

– Ồ, thế thì cô đã yêu lần nào chưa?

– Một lần.

– Chỉ có một lần thôi à? Vào cái tuổi hai mươi bả Chúa ơi! Vào cái tuổi của cô, ít ra tôi cũng yêu đến cả chục lần.

– Tôi cũng có thể nhưng ở Drogheda rất ít đàn ông có thể làm rung động trái tim tôi. Nếu trí nhớ của tôi không quá tồi thì anh là người đàn ông đầu tiên ở trang trại này dám tiến xa hơn một lời chào hỏi rụt rè.

… Buổi chiều khiêu vũ mà Meggie tham dự cùng Luke không giống như cái kiểu mà Meggie đã chứng kiến trong ngày sinh nhật của Mary Carson. Ở đây nối tiếp nhau chỉ có những cuộc nhảy đứng đắn từng nhóm như polka hay mazurkas, bàn tay người đàn ông chỉ chạm nhẹ trong giao tiếp, còn trong những điệu luân vũ quay nhanh thì lại là những cánh tay mạnh bạo. Không có cơ hội nào để giao tiếp thân mật hay để mơ mộng.

Không mấy chốc Meggie nhận ra rằng người bạn trai cao lớn và đẹp trai của mình được nhiều cô gái chú ý. Luke là đối tượng của những cái nhìn đắm đuối và quyến rũ, cũng gần ngang với Ralph nhưng công khai hơn. Luke cũng gợi lên lắm sự chú ý như Ralph đã từng gợi lên… Đã từng gợi lên. Thật là khủng khiếp khi nhắc đến Ralph bằng quá khứ.

Đúng như Luke đã hứa, anh ta không để Meggie một mình đơn độc trong buổi lễ, ngoại trừ lúc cần vào phòng sửa soạn. Anh ta không để hở một dịp nào cho các chàng trai ở những vùng lân cận chen vào. Bản nhạc chót là một điệu luân vũ. Luke nắm tay Meggie, tay kia choàng qua lưng nàng, kéo sát vào. Luke là một tay nhảy giỏi. Meggie ngạc nhiên nhận ra rằng tất cả trở nên dễ dàng, chỉ cần để cho Luke dìu đi. Cảm giác thật tuyệt vời khi áp sát vào người đàn ông, nghe rõ da thịt rắn chắc ở ngực và ở đùi và thấm vào nhiệt độ của người đàn ông. Những đụng chạm ngắn ngủi với linh mục Ralph gây nên một cường độ cháy bỏng khiến Meggie không kịp nhận ra những phản ứng thầm kín trong da thịt và lúc đó Meggie thành thật nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ tìm lại được một sự rung động như thế ở trong vòng tay người đàn ông khác. Thế nhưng, thực tế vừa xảy ra rất khác. Toàn thân bị kích thích, nhịp tim đập nhanh lên và Meggie biết rằng Luke nhận ra sự thay đổi ở nàng nên càng siết mạnh, áp má của anh ta lên mái tóc Meggie.

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: