Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai (Chương 1-5)

Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai

Colleen McCullough

“Có một truyền thuyết về con chim chỉ hót một lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế gian. Có lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho bằng được mới thôi. Giữa đám cành gai góc, nó cất tiếng hát bài ca của mình và lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Vượt lên trên nỗi đau khổ khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi, và tiếng ca hân hoan ấy đáng cho cả sơn ca và họa mi phải ghen tị. Bài ca duy nhất có một không hai, bài ca phải đổi bằng tính mạng mới có được. Nhưng cả thế gian lặng đi lắng nghe, và chính thượng đế trên Thiên đình cũng mỉm cười. Bởi vì tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có thể có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại… Ít ra là truyền thuyết nói như vậy”.

… “Có một truyền thuyết về người con gái chỉ yêu một lần duy nhất trong đời, nhưng nàng yêu bằng một tình yêu mãnh liệt nhất thế gian. Có lần nàng quyết bỏ đi tìm tình yêu đích thực của đời mình, qua bao cạm bẫy và ngang trái của đời thường, người con gái vẫn quyết lao vào ngọn lửa tình yêu mặc dù biết có thể mình sẽ bị thiêu trụi trong đó. Vượt lên trên mọi nỗi đau khổ khôn tả, nàng đã chiến thắng cả đức Chúa Trời để giành lại người mình yêu. Một tình yêu duy nhất nhưng cả thế gian phải lặng đi để chiêm ngưỡng, và chính thượng đế trên thiên đình cũng phải ghen tị BỞI VÌ TẤT CẢ NHỮNG GÌ TỐT ĐẸP NHẤT CHỈ CÓ THỂ CÓ ĐƯỢC KHI TA CHỊU TRẢ GIÁ BẰNG NỖI ĐAU KHỔ VĨ ĐẠI… Người con gái đó chính là Meggie, nhân vật nữ chính trong tiểu thuyết Tiếng chim hót trong bụi mận gai, dám đoạt tình yêu vĩ đại từ tay Chúa. Và ngày nay có bao nhiêu người con gái dám yêu hết mình, dám đi đến cùng của thử thách để giành lại cho mình một tình yêu đích thực…?!

Cuốn sách đầy cảm động, đau đớn chứa đựng một tình yêu hi sinh đẹp đến ứa nước mắt. Kết thúc truyện còn đau đớn và mất mát hơn. Phải chăng như lời Chúa đã nói: “Của César thì trả về cho César, của Thiên Chúa hãy trả về cho Thiên Chúa”. Lẽ nào, Maggie lấy mất của Chúa một cha truyền giáo Ralph, Maggie phải trả lại cho Chúa đứa con trai của mình???

©

Tiểu thuyết Tiếng chim hót trong bụi mận gai xuất bản vào mùa xuân 1977 cùng một lúc ở New York, San Francisco, London, Sydney – Ít lâu sau đã được dịch ra bảy thứ tiếng, được bạn đọc nhiệt liệt hoan nghênh và giới phê bình đánh giá cao. Suốt mấy năm là tác phẩm ăn khách nhất ở phương Tây. Đây là tác phẩm đặc sắc, có giá trị trong văn học thế giới hiện đại.

Colleen McCulough không phải là nhà văn chuyên nghiệp, trước đó hầu như không ai biết tiếng. Khi tiểu thuyết Tiếng chim hót trong bụi mận gai đem lại vinh dự cho tác giả thì McCulough vẫn chỉ là một nhân viên y tế bình thường. Bà sinh ở Úc, bang New South Wales, trong gia đình công nhân xây dựng xuất thân từ Ireland. Thời thanh xuân McCulough ở Sydney, đã từng học trường của nhà thờ công giáo, từ bé – bà mơ ước trở thành bác sĩ, nhưng không có điều kiện để qua đại học y. Bà đã thử làm một số nghề- làm báo, công tác thư viện, dạy học rồi trở lại nghề y, qua lớp đào tạo chuyên môn về sinh lý học thần kinh. Sau đó, bà đã làm việc bà đã làm việc tại các bệnh viện ở Sydney, London, Birmingham, rồi sang Mỹ, làm việc tại một trường y thuộc trường đại học Yale. Năm 1974 bà viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên, không có tiếng vang gì. Tiếng chim hót trong bụi mận gai được thai nghén trong ngót bốn năm, rồi đầu mùa hè 1975, bà bắt tay vào viết liền một mạch trong mười tháng. Suốt thời gian ấy, bà vẫn bận túi bụi công việc ở bệnh viện, chỉ viết tác phẩm vào ban đêm và ngày chủ nhật.

Tác phẩm này có thể gọi là “Xaga về gia đình Cleary”. Xaga là hình thức văn xuôi cổ có tính anh hùng ca, kể chuyện một cách điềm đạm về những con người hùng dũng. Cuốn tiểu thuyết này viết về lịch sử nửa thế kỷ của ba thế hệ một gia đình lao động – gia đình Cleary. Loại tiểu thuyết lịch sử gia đình từ trước đã có những thành công như thiên sử thi vè dòng họ Foocxaitơ của Gônxuocthy, “Gia đình Tibô” của Rôgiê Mactanh duy Gar. “Gia đình Artamônôp” của M. Gorki. Đặc điểm chung của các tác phẩm đó là số phận gia đình tiêu biểu cho số phận của giaia cấp tư sản, các thế hệ sau đoạn tuyệt với truyền thống của gia đình. So sánh với những tác phẩm kể trên thì tác phẩm của McCulough có sự khác biệt, có cái độc đáo riêng của nó. Trước hết, đây là lịch sử của một gia đình lao động. Sự phát triển, tính kế thừa và đổi mới của ba thế hệ gia đình này là hình mẫu thu nhỏ của lịch sử dân tộc. Các thế hệ sau kế thừa những nét tốt đẹp nhất của gia đình – tính cần cù, tự chủ, tính kiên cường đón nhận những đòn ác liệt của số phận, lòng tự hào gia đình, song đồng thời có những đổi khác nhịp bước với thời đại. Nếu Fiona gan góc chịu đựng mọi tai họa nhưng cam chịu số phận thì con gái bà là Meggie đã tìm cách cướp lấy hạnh phúc của mình từ tay Chúa trời, và Jaxtina, con gái của Meggie là một cô gái hiện đại, có những chuẩn mực đạo đức hoàn toàn khác. Cuốn tiểu thuyết xây dựng như truyện sử biên gia đình, tác giả tập trung vào những xung đột tâm lý – đạo đức nhiều hơn là những vấn đề giai cấp – xã hội. Các nhân vật tuy vẫn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, nhưng chủ yếu là ứng xử theo tính cách riêng của mình nhiều hơn. Trong số nhiều nhân vật, nổi bật hơn cả là ba nhân vật – Fiona, Meggie – con gái bà và cha đạo Ralph de Bricassart. Meggie có thể coi là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Trong tiểu thuyết có nhiều tuyến tình tiết, nhiều môtíp, đề tài, song tất cả đều phục vụ câu chuyện chính: mối tình lớn lao trong sáng của Meggie và cha de Bricassart.

Trong tác phẩm quy mô lớn này, những xung đột tâm lý – tinh thần của nhân vật quyện chặt với sự miêu tả tỉ mỉ toàn cảnh lịch sử, địa lý, thiên nhiên. Thiên nhiên bao la, dữ dội nhưng có cái đẹp hoang sơ riêng của nó như hiện ra trước mắt bạn đọc. Giá trị nhận thức của tác phẩm do đó càng thêm đầy đủ. Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người ở đây mang tính chất chung sống hài hòa, thiên nhiên chưa bị uy hiếp đến nguy cơ hủy diệt.

Tính hiện thực và lãng mạn trong tác phẩm này hòa lẫn vào nhau tới mức nhuần nhị. Sự miêu tả tỉ mỉ bằng hình thức của bản thân đời sống, cả từ cách ăn mặc, lời ăn tiếng nói của nhân vật, cho đến cách xén lông cừu, nếp sống hàng ngày…, lối kể chuyện thong thả theo trình tự thời gian khiến cho tác phẩm gần với loại tiểu thuyết hiện thực thế kỷ 19. Nhưng những tính cách phi thường rực rỡ biểu hiện trong những biến cố đột ngột, đầy hấp dẫn tạo nên màu sắc lãng mạn rất rõ nét. Môt tác phẩm văn học Mỹ thời nay xa lạ với những cảnh hung bạo, với “sex”, với “phản nhân vật” đưa bạn đọc trở về với những vấn đề “nhà” (theo nghĩa quê hương), “cội nguồn”, “cha và con” mà lại được ham chuộng như thế ở phương Tây thì đó chứng tỏ những vấn đề muôn thuở của nhân loại bao giờ cũng làm rung động lòng người ở bất cứ nơi nào trên hành tinh chúng ta.

Chương 1

Ngày 8 tháng 12 năm 1915, Meggie Cleary bước vào năm thứ tư của tuổi đời. Dọn dẹp xong buổi ăn sáng, không nói một lời và hơi đột ngột, mẹ của Meggie đặt lên hai tay cô một cái hộp gói trong giấy màu hạt dẻ rồi bảo cô bé ra ngoài sân. Nghe lời mẹ, Meggie ra ngồi ngay trước cửa nhà, sau bụi cây đậu chổi, rồi vội vàng mở chiếc hộp. Mấy ngón tay cô bé vụng về, hơn nữa, giấy gói rất dày. Nhưng ngay lúc đó, một mùi thơm thoang thoảng làm Meggie nghĩ đến cửa hàng bách hóa Wahinẹ Cô bé đoán ngay rằng, dù bên trong chứa đựng thứ gì đi nữa, chắc chắn món quà ấy cũng được mua từ cửa hàng bách hóa chứ không phải do ở nhà làm hay do ai đó đã chọ Mở hết lớp giấy bên ngoài, Meggie nhận ra một cái gì đó thật mịn và óng ánh ở góc hộp – Cô bé xé toạc ra.

– Agnès! Ồ Agnès! – cô bé thì thầm một cách âu yếm, mắt sáng lên khi nhìn thấy một con búp bê nằm êm ái trong mớ giấy vụn.

Đúng là một phép mầu. Một phép mầu thật. Từ trước đến nay Meggie mới đến cửa hàng Wahine chỉ một lần thôi, hồi tháng 5 vừa rồi, cô bé được cha mẹ thưởng vì đã tỏ ra rất ngoan.

Lần đó trên chiếc xe bò có mui, cô bé phải hết sức cố gắng mới ngồi yên được bên cạnh mẹ. Vui quá, Meggie không kịp nhìn thấy gì và cũng không nhớ gì cả, ngoài Agnès, con búp bê tuyệt đẹp mắc chiếc váy xòe rộng bằng xa tanh hồng kết ren chung quanh, được đặt trên quầy của cửa hàng bách hóa. Ngay lúc ấy, Meggie kín đáo đặt tên Agnès cho con búp bê xinh đẹp, cái tên khá lịch sự mà cô bé biết. Vậy mà nhiều tháng sau, lòng thèm muốn ấy của Meggie cũng chỉ là mơ ước. Meggie chưa bao giờ có búp bê và không hề tưởng tượng rằng một bé gái như mình ngày nào đó sẽ có một con búp bệ Lâu nay cô bé thường vui thích với những thứ đồ chơi mà các anh trai của cô vứt bỏ, chẳng hạn như những cái còi, cái ná bắn thun và những hình lính xù xì. Làm sao cô dám mơ ước được chơi với Angès.

Tay vuốt nhẹ lên chiếc áo của búp bê, chiếc áo đẹp nhất trong số những áo mà cô béthấy phụ nữ thường mặc, Meggie bế nhẹ Angès lên. Tay và chân của búp bê đều cử động được, cổ và thân mình cũng thế. Màu tóc vàng óng ánh có điểm những hạt trai, khuôn mặt làm bằng sứ được vẽ rất khéo và đẹp. Mắt búp bê màu xanh, sinh động đến kinh ngạc. Đôi mắt ấy sáng lên qua hai hàng mi cong vút. Khi đặt Angès nằm xuống, Meggie khám phá ra rằng búp bê còn biết nhắm mắt lại. Phía trên gò má cao màu hồng có một nốt ruồi. Hai môi hơi hé ra cho thấy những chiếc răng màu trắng thật nhỏ. Meggie đặt búp bê trên đầu gối, tìm một chỗ ngồi êm ái rồi nhìn ngắm một cách say mệTrong khi Meggie vẫn ngồi như thế thì sau bụi cây đậu chổi, Jack và Hughie đang chơi đùa bên cạnh đám cỏ mọc cao sát hàng rào. Cả hai nhìn thấy mái tóc màu hung đặc biệt của Meggie, màu tóc đúng là của dòng họ Cleary, ngoại trừ Frank là có tóc màu khác.

Jack vừa thúc cùi chỏ vào anh mình vừa liến thoắng chỉ Meggiẹ Cả hai đang chơi trò quân lính truy lùng một thổ dân Maori phản bội. Meggie không để ý đến hai anh và vẫn đắm nhìn Agnès thân yêu, miệng huýt gió nho nhỏ những âm thanh quen thuộc.

– Meggie, mày đang cầm gì đó? Jack vừa la to vừa nhào tới – Đưa tao xem.

– Ừ, đưa xem.

Hughie nói thêm vào, vừa cười khúc khích vừa tìm cách chặn Meggie không cho chạy thoát.

Cô bé ôm chặc búp bê vào ngực và lắc đầu.

– Không, búp bê của em. Món quà sinh nhật của em.

– Cứ đưa bọn tao xem. Bọn tao chỉ muốn xem qua thôi.

Trong niềm vui và hãnh diện vừa được mẹ tặng quà, cô bé đưa búp bê ra khoe:

– Các anh xem này, nó đẹp quá. Nó tên Agnès đó.

– Agnès? Agnès? Giọng Jack chế diễu. – Tên gì mà tồi thế. Tại sao không gọi nó là Margaret hay Bettỷ

– Không thể gọi khác hơn vì nó là Agnès!

Hughie nhìn cánh tay con búp bê cử động, cậu ta huýt gió và nói:

– Jack nhìn xem, tay nó cử động được đấy.

– Cử động làm sao? Đưa tao xem.

– Không! Cô bé la lên và lại ôm búp bê sát vào ngực, nước mắt sắp trào ra. – Không, các anh làm hư búp bê của em… A, Jack, đừng đụng vào nó, anh sẽ làm gã búp bê của em mất.

Hai bàn tay rám nắng, dơ bẩn của Jack chụp lên cổ tay Meggie, siết thật mạnh.- Đừng mè nheo nữa, tao mách với anh Bob bây giờ.

Jack siết mạnh hai cổ tay của Meggie, trong khi Hughie túm lấy chiếc váy của búp bê kéo ra.

– Đưa đây – giọng Jack nhỏ nhẹ lại. – Nếu không, tao sẽ siết mạnh đau lắm đó.

– Không, không, Jack! Em năn nỉ anh. Anh làm hỏng búp bê bây giờ. Em van anh để cho nó yên. Đừng lấy của em…

Dù hai tay bị siết càng lúc càng mạnh, cô bé vẫn không chịu buông con búp bê ra. Meggie khóc to lên, chân đá vào Jack.

– Đã lấy được rồi! – Hughie reo lên đắc thắng khi búp bê vừa vuột khỏi tay Meggiẹ Chiếc áo ngoài và bên trong cả chiếc quần lót cũng đều tơi tả. Con búp bê hoàn toàn trần trụi. Chúng nắm hai chân búp bê kéo ngược ra phía sau, còn cái đầu chúng quay đủ hướng và không thèm chú ý đến Meggie khóc một mình. Trong gia đình họ Cleary vẫn thế, ai mà không có khả năng đối phó thì chịu chứ không có ai hổ trợ hay thương hại. Nguyên tắc ấy cũng áp dụng cho cả các cô gái. Từng chùm tóc vàng của con búp bê bị vứt ra rải đầy dưới đất, còn các hạt trai nhấp nhánh văng mất trong cỏ, một chiếc giày dơ bẩn vô tình dẫm lên chiếc váy nằm trên đất. Meggie quỳ gối xuống, hai tay run rẩy lượm lại những mảnh áo quần bé nhỏ của búp bê, rồi mò mẫn trong đám cỏ mong tìm lại những hạt trai. Nước mắt làm cho cô bé không còn nhìn thấy gì nữa, trái tim đau nhói một cách lạ lùng, vì rằng từ trước đến nay, chưa bao giờ cô bé lại cảm nhận một điều gì đó có thể gọi là đau đớn.

Chương 2

Frank nhúng thanh sắt đỏ vào nước lạnh gây nên một tiếng xèo, rồi đứng thẳng người lên. Anh không còn đau lưng nữa. Có lẽ vì đã quen công việc ở lò rèn. Chỉ cần sáu tháng thôi – cha anh nói như thế. Nhưng Frank hiểu là biết bao nhiêu năm tháng trôi qua từ khi anh làm quen với nơi đây; anh đã đếm thời gian trong oán giận và hận thù. Quẳng chiếc búa vào thùng, bàn tay run run, Frank vuốt ngược mái tóc phủ kín vầng trán rồi cởi tấm tạp đề cũ mèm bằng dạ Chiếc áo sơ mi nằm chờ Frank trên đống rơm, anh bước đi nặng nề, dừng lại một lúc và ánh mắt mất hút qua một khe hở của nhà khọ Mắt anh đen, mở trừng trừng nhìn về hướng ấy.

Dáng người hơi thấp nhỏ, khoảng một thước sáu mươi, Frank gầy như những đứa con trai đang lớn, nhưng vai và tay trần của anh đều gân guốc vì cầm búa lâu ngày. Nước da hơi xanh, mịn, bóng loáng mồ hôi. Tóc và cặp mắt đen lánh có cái gì đó xa lạ vì rằng đôi môi dày và cái mũi thô thẳng không phảng phất chút nào những nét chung nhất của gia đình này. Ở mẹvà Frank hình như có dòng máu Maorị Frank gần 16 tuổi, Bob 11, Jack 10, Hughie 9, Stuart 5 và cô bé Meggie… Frank nhớ ra hôm nay ngày 8 tháng 12 Meggie vừa tròn 4 tuổi. Anh mặc áo vào và rời nhà kho.

Căn nhà của gia đình Cleary nằm trên một ngọn đồi cao hơn nhà kho và chuồng ngựa chừng ba mươi mét. Hầu hết nhà cửa ở Tây Tây Lan được xây bằng gỗ, không có lầu, dài và rộng để khi có động đất thì không bị sập tất cả. Chung quanh nhà mọc đầy những cây đậu chổi, mùa này trĩu nặng những bông vàng; cỏ mọc bao la, xanh rì như phần nhiều các đồng cỏ nuôi súc vật. Ngay giữa mùa đông, có những mảng tuyết suốt cả ngày không tan vì rợp bóng mát, cỏ vẫn không vàng úa. Rồi mùa hè dài và dịu dàng mang trả lại cho thiên nhiên một màu xanh đậm. Mưa cũng không quá nặng hạt để có thể làm gã cả những loài cây mảnh khảnh nhất. Tai họa ở Tây Tây Lan gầm lên từ trong lòng đất chứ không bao giờ sa xuống từ trên trời. Bao giờ cũng thế, con người sống ở nơi đây như luôn ở trong một đợi chờ thấp thỏm trước sự chuyển động, tưởng chừng nghe thấy dưới chân mình những tiếng âm thanh không ngớt vang dội từ lòng đất. Vì rằng bên trong lòng đất ẩn chứa một sức mạnh kinh hoàng, một sức mạnh có biên độ dữ dội đến đỗi cách đấy ba mươi năm, một quả núi nguyên vẹn đã bị xóa mất hoàn toàn.

Dù thế, đất ở đây thật hiền hòa, hiếu khách. Từ nhà nhìn ra xa là một cánh đồng xanh như màu ngọc bích trên chiếc nhẫn đính hôn của Fiona Clearỵ Đường viền của các ngọn đồi vẽ lên nền trời màu xanh nhạt; ngọn núi Egmont cao ba ngàn mét như muốn đâm thủng các tầng mây. Sườn núi hai bên khoác màu trắng của tuyết hết sức cân đối khiến cho Frank vội vã vì anh nhớ lời cha dặn không được rời bỏ lò rèn. Lệnh của cha anh lúc nào cũng nghiêm khắc. Đi vòng vào nhà, Frank bắt gặp mấy đứa em.

Chính Frank đã đưa mẹ đi Wahine để mua búp bê cho Meggie, tuy nhiên anh đã phải tự hỏi điều gì đã phải thúc đẩy mẹ anh chịu tiêu xài như thế. Với mẹ, một món quà sinh nhật phải là một thứ gì có ích lợi cho cuộc sống hiện tại; gia đình không dư dả tiền để phung phí. Không bao giờ mẹ anh mua đồ chơi cho bất cứ ai để làm quà sinh nhật. Các con của bà nhân ngày này đều nhận được quần áo. Ngày sinh nhật hoặc Noel là dịp để sắm thêm món gì đó cho tủ áo quần còn rất trống trải. Có lẽ mẹ đã bắt gặp cái nhìn thèm muốn của Meggie trong lần ra tỉnh. Khi Frank hỏi mẹ về quyết định bất thường này, bà chỉ nói đôi ba câu về niềm mong ước của mấy cô bé có được con búp bê, rồi bà chuyển sang đề tài khác.

Giữa lối đi, Jack và Hughie đang giằng co, cả hai đứa đang nắm tay chân con búp bê một cách thô bạo. Frank chỉ nhìn thấy Meggie từ phía sau lưng, cô bé đang đứng như trời trồng nhìn hai anh mình dằn vặt Agnès.

– Đồ quỉ sứ, bẩn thỉu. Frank quát.

Jack và Hughie nhanh chân, biến ngay và bỏ lại con búp bê. Khi Frank nổi nóng thì khôn hồn bỏ đi nơi khác.

– Tao mà bắt gặp tụi bây rớ vào con búp bê lần nữa, thì tụi bây lảnh ngay một thanh sắt đỏ vào mông, đồ thối tha! Frank hét lên.

Frank khom người xuống, hai tay đặt lên vai Meggie lay nhẹ.

– Thôi! thôi! có gì đâu mà khóc! Đừng sợ. Tụi nó bỏ đi hết rồi và không bao giờ dám sờ vào con búp bê của em đâu. Anh hứa với em mà. Bây giờ em hãy tặng cho anh một nụ cười sinh nhật đi nào…

Mặt cô bé như sưng, mí mắt phồng lên. Cô nhìn Frank trân trân bằng đôi mắt nâu, mở to, chứa đầy bi kịch vừa xảy ra và cô bé không nói nên lời. Frank lấy từ trong túi quần một chiếc khăn bẩn, lau mặt em gái một cách vụng về, rồi đặt khăn lên mũi bảo:

– Hỉ mũi đi cưng.

Cô bé nghe lời, hết khóc nhưng tiếng nấc vẫn chưa dứt.

– Frank – Frank – Frank! Mấy ảnh… đã lấy… Agnès của em! Tóc của Agnès bị rứt ra hết rồi và bị mất cả những hạt trai xinh đẹp. Frank, mấy hạt trai đó rơi trong cỏ đây nè… nhưng em tìm không ra.

Rồi cô bé lại khóc. Giọt nước mắt rơi xuống tay Frank. Anh đưa tay lên nhìn và lấy lưỡi liếm.

– Bây giờ phải tìm lại mấy hạt trai. Nhưng em sẽ không tìm thấy nếu cứ khóc mãi. Còn chuyện này nữa, sao em vẫn ngọng nghịu như một em bé mới biết nói? Hỉ mũi nữa đi và nhặt Agnès tội nghiệp của em lên. Nếu em không mặc ngay quần áo vào cho nó, nó sẽ bị cảm nắng bây giờ.

Frank đặt Meggie ngồi xuống bên lối đi rồi dịu dàng trao cho cô bé cho búp bê. Xong cậu ta vẹt cỏ đi tìm hạt trai, không mấy chốc vừa reo lên một cách đắc thắng vừa giơ cao cho Meggie xem hạt trai mới tìm được.

– Đây mới chỉ là hạt thứ nhất. Em chờ xem hai anh em mình sẽ tìm lại đủ tất cả.

Meggie nhìn người anh cả của mình bằng đôi mắt ngưởng mộ trong khi Frank tiếp tục vẹt cỏ, thỉnh thoảng đưa lên cao khoe một hạt trai vừa tìm được. Bây giờ Meggie bỗng nhớ lại làn da của Agnès rất mỏnh dễ bị ánh mặt trời thiêu đốt, thế là cô bé chăm chú lo mặc quần áo lại cho búp bệ Thật ra búp bê cũng không mang một vết thương nào đáng kể, tóc chỉ rối lên, tay chân dơ bẩn nhưng vẫn cử động được bình thường. Trên mái tóc của Meggie ở mỗi bên có chiếc lược cài, cô bé lấy xuống một cái để chải tóc cho búp bệVụng về, cô bé làm một chiếc nơ lớn trên đầu của Agnès bung ra. Thảm kịch. Tất cả tóc tai Agnès đều sút hết và dính trên chiếc lược cài. Phía trên cái trán rộng của búp bê chẳng có gì khác. Không có đầu, không có xương sọ Chỉ có một lỗ trống tác hoác. Meggie run rẩy gần như hoảng hốt, nhưng mắt vẫn nhìn vào phía trong lỗ trống. Những đường nét lồi lõm của mắt, mũi, miệng nhìn từ bên trong thật khiếp đảm, nhất là hai con mắt của Agnès chỉ là hai lỗ sâu hoắm, có một sợi dây kẽm xuyên qua…

Tiếng hét chát chúa của Meggie không phải là tiếng hét của trẻ thơ. Meggie quăng Agnès xuống đất rồi tiếp tục la, hai tay ôm mặt, run rẩy. Frank đến gỡ các ngón tay của Meggie rồi bế em gái vào lòng, đặt đầu cô bé vào chỗ êm ả nhất giữa cổ và vai mình. Cô bé càng thu mình sát vào Frank, tìm kiếm nơi người an niềm an ủi, cho đến lúc cơn xúc động giảm xuống, cô bé mới ngửi thấy cái mùi dể chịu từ thân người của Frank, đó là mùi ngựa, mùi mồ hôi và sắt nung đỏ.

Khi Meggie yên lòng trở lại, Frank hỏi em gái của mình nguyên do của sự hoảng hốt. Anh ta nhặt búp bê lên và đau xót nhìn thấy cái đầu trống rỗng và cố nhớ xem trong cái thế giới tuổi thơ của mình có bao giờ xảy ra nổi khiếp sợ lạ lùng như thế không. Anh nhớ lại hình ảnh đáng ghét lởn vởn như những bóng ma, những tiếng nói xì xào và những cái nhìn ghét bỏ. Còn gương mặt của mẹ nhăn nhó, khắc khổ, bàn tay của mẹ run rẩy nắm chặt lấy tay mình, người căng thẳng.

Còn Meggie đã thấy gì mà hoảng sợ như thế? Anh biết rằng Meggie sẽ ít hoảng hốt hơn nếu Agnès đáng thương bị chảy máu khi tóc bị rứt ra. Dù cho máu có thật. Vì rằng trong gia đình họ Cleary không có tuần nào là tránh được chuyện người này hay người nọ bị đổ máu.

Meggie nói thật nhỏ:

– Em sợ hai con mắt của nó – Trong khi nói, Meggie không dám nhìn con búp bê.

– Không Meggie, đừng sợ, nó đẹp tuyệt, một kỳ quan.

Frank cúi mặt vào mái tóc của em gái – mái tóc đẹp, dày và sáng rực. Phải mất nửa tiếng đồng hồ vỗ về, Frank mới thuyết phục được Meggie chịu quay lưng lại nhìn Agnès và thêm một khoảng thời gian như thế để dám nhìn thẳng vào cái lỗ trống trên đầu búp bệ Frank chỉ cho em xem hai con mắt của búp bê động đậy như thế nào, bằng cách nào mà hai mắt mở ra và khép lại.

– Thôi bây giờ đã đến lúc anh em mình phải vào nhà. Frank bế Meggie bằng một cánh tay, con búp bê đặt giữa ngực Frank và ngực Meggiẹ Mình sẽ nhờ mẹ chữa lại con búp bệ Mẹ sẽ giặt, ủi lại quần áo cho nó và tìm cách dán lại bộ tóc. Còn anh sẽ đính lại hạt trai bằng những cây kim găm, chắc chắn sẽ không bao giờ bị rơi ra nữa, mặc tình cho em muốn chải kiểu tóc nào cho nó cũng được.

Fiona Cleary đang ở trong bếp gọt khoai. Đó là một người đàn bà có nước da hơi nhợt nhạt, người thấp, nhưng gương mặt khá nghiêm và cứng rắn. Bà có một dáng đẹp, một thân hình mảnh khảnh dù đã sáu lần sinh. Chiếc áo dài vải trúc bâu gần chấm đất, thật sạch; một chiếc tạp dề lớn màu trắng, hồ cứng, phía trên được buộc quanh cổ, phía dưới ôm thân người và cột lại bằng một cái nơ thắt sau lưng thật gọn và đẹp. Từ sáng đến chiếu tối, bà ở trong bếp và ở khu vườn phía sau nhà; đôi giày ống ngắn màu đen rất bẩn của bà chỉ có một con đường quen thuộc lui tới bếp đến chỗ giặt quần áo, từ vườn ra đến sào phơi quần áo rồi quay trở lại bếp.

Bà đặt con dao lên bàn, nhìn Frank và Meggie; môi bà bỗng mím lại:

– Meggie, mẹ chỉ cho phép con mặc chiếc áo đẹp nhất vào ngày chủ nhật với một điều kiện: con không làm bẩn. Bây giờ con nhìn xem ra cái thứ gì. Đúng là một đứa trẻ dơ dáy.

– Mẹ ơi, không phải lỗi của Meggie đâu – Frank bào chữa. Chính Jack và Hughie đã giành lấy búp bê của Meggie để xem tay chân cử động như thế nào. Con có hứa với Meggie là mẹ và con sẽ chữa lại con búp bê. Làm được phải không mẹ?

– Con đưa mẹ xem – Fiona vừa nói vừa đưa tay ra. Bà là một người lặng lẽ, ít nói, và có vẻ như sống không được tự nhiên. Những gì trong đầu bà khó ai đoán biết, ngay cả chồng bà. Bà nhường quyền giáo dục các con cho chồng và tuân thủ các mệnh lệnh của chồng mà không có một phản ứng hay than phiền nào, ngoại trừ một vài trường hợp hết sức đặc biệt. Meggie nghe các anh mình nói nhỏ với nhau rằng mẹ cũng sợ ba như chúng và nếu thật thế thì mẹ đã giấu giếm cái sợ ấy dưới một lớp ngoài bình thản. Trên nét mặt ấy cũng tỏ ra một chút bướng bỉnh. Bà không bao giờ cười, cũng như không bao giờ nổi giận.

Fiona đặt con búp bê lên cái kệ gần bếp và nhìn Meggie:

– Sáng mai mẹ sẽ giặt quần áo cho Agnès và sẽ chải tóc lại. Sau buổi ăn chiều nay, anh con sẽ dán tóc và không chừng phải tắm cho nó sạch sẽ.

Meggie tỏ ra bằng lòng, nụ cười trên môi. Đôi lúc Meggie rất thèm được nghe tiếng cười của mẹ nhưng điều đó lại không bao giờ có được. Meggie cảm giác rằng mình đang chia xẻ với mẹ một điều gì đó rất đặc biệt mà cha cô và các anh không thể hiểu; thế mà cô bé vẫn không thể nào khám phá những gì chứa đựng bên trong con người mà Meggie hết lòng yêu thương.

Ngoài Frank, không một đứa con trong gia đình này hiểu được rằng Fiona luôn ở trong tâm trạng mệt mỏi, sự mệt mỏi không dễ gì vơi bớt. Có quá nhiều việc phải làm nhưng lại không có dư tiền và không đủ thìgiờ giải quyết. Bà chỉ trông cậy vào đôi taỵ Ngay bây giờ cô bé cũng đã giúp mẹ một số công việc vặt mãnh nhưng với bốn tuổi đầu, Meggie chưa đủ sức làm nhẹ bớt gánh nặng của bà. Sáu đứa con trai, chỉ có một đứa con gái, lại là con út. Những ai quen biết gia đình này đều thương hại bà nhưng điều ấy đâu có làm thay đổi được gì. Cái giỏ đựng đồ cần vá lại đầy những chiếc vớ chưa được mạng, có cả que đang dính vào một chiếc vớ khác đang dở dang. Hughie đã cao nhòng không còn mặc được những cái áo xănđai cũ; với Jack thì lại không đủ lớn để mặc áo của anh.

Chương 3

Padraic Cleary – tức Pađy – có mặt ở nhà trong tuần lễ sinh nhật của Meggie là chuyện hoàn toàn tình cờ. Mùa cắt long cừu chưa đến, ông tạm làm việc gần nhà, làm đất và trồng trọt. Pađy chuyên nghề cắt lông cừu, làm thời vụ từ giữa mùa hè đến hết mùa đông, sau đó là thời gian cừu đẻ. Thông thường Pađy tìm đủ việc làm để chịu đựng qua mùa xuân và những tháng đầu mùa hè; ông phụ lo cho cừu đẻ, cày đất, vắt sữa bò, hai lần mỗi ngày ở trang trại kế bên. ông sẵn sàng đi đến bất cứ đâu miễn có việc làm, để mặc gia đình sống trong căn nhà tuy lớn nhưng có vẻ cổ xưa, một mình vợ phải tự lo liệu các thứ. ông không thể làm khác hơn vì không có đất đai riêng.

Mỗi ngày Pađy về nhà lúc mặt trời khuất bóng, đèn đã đốt lên, in rõ những cái bóng đen nhảy múa trên trần. Tập hợp ở mái hiên nhà sau, mấy đứa con trai chơi đùa với một con ếch, ngoại trừ Frank. Padraic dư biết con trai lớn của ông hiện giờ ở đâu. ông nghe rõ tiếng bửa củi đều đặn. ông dừng lại ở hiên nhà, đá vào mông Jack một cái và đưa tay xoa đầu Bob một cách thương yêu:

– Ra phụ Frank chẻ củi, đồ làm biếng. Ráng làm xong trước khi mẹ đặt bàn, bằng không tao sẽ cho một trận nên thân.

Padraic ra hiệu bằng đầu hướng về Fiona đang bận rộn bên cái chảo; ông không bao giờ ôm hôn vợ trước mặt con cái. Những biểu hiện tình cảm ấy theo ông nên giới hạn trong phòng ngủ của hai vợ chồng. ông cởi đôi ủng dính đầy bùn; Meggie mang đến cho cha một đôi dép. ông nở nụ cười đón lấy. Trong lòng luôn tràn ngập một tình cảm rất lạ như bị chinh phục mỗi khi nhìn thấy Meggie con gái mình. Nó xinh quá, tóc đẹp làm sao; ông cầm một loạn tóc lay nhẹ rồi thả xuống, thích thú nhìn con. ông nhấc bổng Meggie lên rồi hai cha con cùng ngả xuống chiếc ghế bành êm ái đặt ở trong nhà bếp, đó là chiếc ghế bành thời Windsor, có lót gối dựa. Meggie nằm gọn trong lòng cha, hai tay bá vào cổ, gương mặt tươi tắn ngước lên hy vọng được đùa giỡn với trò chơi buổi tối – nhìn ánh sáng xuyên qua những sợi râu ngắn màu vàng của chạ

– Em có thấy khỏe không Feẻ – Pađy hỏi thăm vợ.

– Bình thường thôi anh ạ. Còn anh đã làm xong cái hàng rào dưới kia chưa?

– Xong rồi. Anh có thể bắt tay làm hàng rào phía trên vào sáng mai. Nhưng lạy chúa, anh mệt quá.

– Em cũng thấy anh mệt… Roberson còn giao cho anh con ngựa cá tính bất thường nữa phải không?

– Vẫn thế – Chẳng lẽ em nghĩ rằng hắn sẽ làm việc với con ngựa tồi ấy và dành cho anh một con ngựa tốt hơn sao? Tay anh rã rời cả. Hình như con ngựa cái này thuộc loại cứng đầu nhất ở Tân Tây Lan.

– Không quan trọng. Mấy con ngựa của ông già Roberson đều thuần cả. Sắp tới anh sẽ làm với lão phải không?

– Chưa làm ngay đâu.

ông nhồi thuốc loại rẻ tiền vào cái tẩu rồi lấy một que củi mồi lửa từ trong lò đang cháy đỏ. Sau đó ông lại ngả người lên ghế bành, rít mạnh một hơi.

– Con gái nói cho ba nghe con thấy thế nào khi được bốn tuổi – Pađy hỏi con.

– Con thấy thích lắm ba ơi.

– Mẹ có cho con quà không?

– Tại sao ba và mẹ biết được Agnès mà chọn cho con?

– Agnès? – Ông liếc nhìn qua Fiona, vừa mỉm cười vừa nhíu mày dò vợ. – Có phải tên của nó là Agnès?

– Dạ, nó đẹp tuyệt ba ạ. Con muốn nhìn nó suốt ngày.

– Rất may là còn lại cái gì đó để nhìn – Fiona nói bằng giọng hơi cằn nhằn. Jack và Hughie đã đoạt con búp bê trước khi Meggie có thời giờ nhìn ngắm.

– Hừ! Lại chuyện khỉ của mấy thằng con trai, phải trị chúng. Con búp bê con có hỏnh nhiều hông?

– Không đến nỗi. Frank đã bắt gặp hai đứa kịp lúc.

– Frank? Làm sao nó lại có mặt ở đó? Nó phải ở dưới lò rèn suốt ngày kia mà. Humter chờ nó làm xong cái cánh cửa nhỏ.

– Đúng là nó ở lò rèn suốt ngày – Fiona trả lời ngaỵ Nó chỉ lên nhà thoáng một cái để lấy cái gì đó cần cho công việc. Pađy quả rất khắc nghiệt với Frank.

– Ba ơi! Anh Frank dễ thương lắm. Không có anh ấy, Agnès đã chết rồi… Sau bữa cơm, anh Frank sẽ dán lại tóc trên đầu con búp bê cho con.

– Vậy thì tốt. Pađy nói lầm nhầm bằng một giọng mỏi mệt.

Mấy đứa con của ông đều có tóc màu hung dày và lượn sóng, tuy vậy không có đứa nào màu tóc lại rực sáng dữ dội như ông. Pađy thấp người, chắc như thép, chân vòng kiềng do cả đời ngồi trên lưng ngựa, hai cánh tay dài ra sau những năm làm công việc cắt lông cừu; ngực và hai cánh tay che phủ bởi một lớp lông màu vàng. Đôi mắt màu xanh và thường nheo lại như người thủy thủ hướng tầm nhìn ra xạ Gương mặt ông không có gì là kiểu cách lại dễ gây cảm tình. Mũi tuyệt đẹp, đúng là mũi rômanh, khiến cho những người đồng hương ái Nhĩ Lan của ông phải ghen tức. ông vẫn còn giữ được giọng nói dịu dàng của vùng Galway, nhưng sau hai mươi năm sống ở miền đất xa xôi này ông không còn nói năng nhanh nhẩu như xưa, giống như một cái đồng hồ treo tường cũ kỹ cần được lên dây lại. Một người hạnh phúc vì đã thành công trong cuộc sống lao động gay go vẫn xứng đáng hơn nhiều người khác và mặc dù cai quản cằn nhà này bằng một thứ kỷ luật sắt, ông vẫn được con cái yêu thương, ngoại trừ một đứa. Nếu không đủ bánh mì cho mọi người, ông nhịn ăn; nếu phải chọn lựa giữa quần áo mới cho bản thân hay cho một đứa con nào đó, ông bằng lòng mặc quần áo cũ. Theo cách của ông, đó là một bằng chứng biểu thị tình thương dành cho con, cụ thể hơn hàng biết bao nhiều cái hôn dễ dàng ban phát. ông dễ nóng giận và đã từng giết người. Nhưng sự may mắn đã nghiêng về phía ông hôm đó; nạn nhân là một người Anh chủ nhân chiếc tàu đậu ở cảng Dun Lacghaizẹ

Fiona xuất hiện ở ngưỡng cửa sau và nói lớn:

– Vào bàn ăn.

Mấy cậu con trai lần lượt bước vào; người cuối cùng là Frank tay ôm bó củi đến đặt vào chiếc thùng bên cạnh lò sưởi. Pađy để Meggie đứng xuống rồi đến ngồi ở đầu bàn. Riêng Meggie ngồi trên một cái thùng gỗ đặt bên cạnh chạ Fiona chia thức ăn vào dĩa một cách nhanh và gọn như một người phục vụ chuyên nghiệp, rồi mang mỗi lượt hai dĩa cho gia đình, trước hết cho Pađy rồi đến Frank, người sau cùng là Meggiẹ Bà lo cho mình khi mọi người đã có phần.

– Lại cái món ragu chán chết! – Stuart cằn nhằn; hai tay cầm dao và nĩa nhưng mặt mày nhăn nhó.

– Ăn đi! Pađy ra lệnh.

Fiona cũng ngồi vào bàn và nuốt nhanh phần ăn của mình. Rồi bà đứng lên đặt đầy bánh vào những cái dĩa mới. Đó là những bánh bích qui do bà làm, bên trên rưới đường, mứt và một loại kem. Cũng chính bà mang một lượt hai dĩa lên bàn. Khi xong đâu đấy rồi, Fiona mới ngồi thở và bắt đầu ăn phần tráng miệng không có gì vội vã.

– Ngon quá! Meggie la to lên. Bánh ngon quá!

Cô bé cắm sâu chiếc muỗng qua lớp kem.

– Bữa ăn này là mừng sinh nhật của con đó Meggie – Pađy vui vẻ nói – Do đó mẹ đã làm món tráng miệng mà con thích nhất.

Sau đó Fiona mang ra một chiếc ấm thật lớn rồi rót cho mỗi người một tách trà bốc hơi. Cả gia đình ngồi lại ở bàn nói chuyện, uống trà hoặc đọc sách khoảng một tiếng đồng hỗ nữa. Pađy ngậm ống vố, đầu nghiêng xuống đọc quyển sách vừa mượn của thư viện lưu động. Fiona cứ lo châm đầy trà vào mấy chiếc tách trong khi Bob cũng đọc. Những đứa con khác nhỏ hơn chuẩn bị cho thời khóa biểu ngày mai.

Nhà trường đã trả học sinh về trong dịp nghỉ hè; các cậu con trai được tự do tỏ ra rất hăng hái đảm nhận công việc được giao. Bob sơn phết lại bên ngoài căn nhà, chỉ những nơi cần thiết; Jack và Hughie đi kiếm gỗ về để làm củi, chăm sóc những phần phụ thuộc của nhà và vắt sửa; Stuart trồng rau. Thỉnh thoảng Pađy ngưng đọc sách ngẩng đầu lên để bổ sung thêm cho ai đó một công việc. Phần Fiona thì chẳng nói một lời, còn Frank ngồi im trên ghế uống hết tách trà này sang tách trà khác.

Cuối cùng Fiona đưa mắt ra hiệu gọi Meggie đến ngồi trên một cái ghế cao, bà chải tóc cho con gái, rồi bảo Meggie đi ngủ, cùng lúc với Stuart và Hughiẹ Jack và Bob xin đi ra ngoài cho chó ăn; Frank đặt con búp bê trên tấm ván kê làm bàn viết và bắt đầu dán lại tóc cho nó. Pađy vương vai, gấp sách lại rồi đặt cái ống vố trên chiếc ghế vỏ ốc lớn được dùng làm gạt tàn thuốc.

– Thôi, tôi đi ngủ nha mẹ chúng nó.

– Chúc anh ngủ ngon, Pađỵ

Fiona dọn dẹp thật nhanh, chén dĩa mang ra sau bếp rồi bắt đầu ngồi rửa. Frank vùi đầu vào việc sửa con búp bệ Nhưng khi liếc nhìn chồng dĩa cao ngất, cậu ta bật dậy và không nói một lời đi lấy nùi giẻ phụ mẹ. Frank biết rằng nếu bị cha mình bắt gặp thì ông không tha đâu. ông phân công rất dứt khoát: đàn ông con trai không được rớ vào công việc của đàn bà. Biết thế, nhưng Frank vẫn chờ cha mình vừa đi nghỉ là bắt tay vào phụ mẹ. Fiona trìu mến nhìn con trai lớn:

– Frank à, không có con mẹ không biết sẽ xoay sở ra sao. Nhưng đáng lý con không nên nhúng tay vào. Sáng mai con sẽ mệt…

– Mẹ đừng lọ Rửa vài cái dĩa chẳng hao tốn bao nhiêu sức. Giúp mẹ đỡ mệt một chút đâu phải là chuyện lớn.

– Công việc này là của mẹ, và chẳng có gì vất vả đâu Frank ạ.

– Con mong ngày nào đó nhà mình giàu có để có thể mướn thêm người phụ mẹ.

– Con đừng mơ chuyện hão huyền.

Với tay lấy miếng giẻ, bà lau hai bàn tay ửng đỏ đầy xà phòng. Khi nhìn Frank, trong đôi mắt của bà chứa đựng một nỗi âu lo mông lung. Bà đoán ra sự bất mãn của con và nỗi cay đắng vượt qua mức độ nổi loạn bình thường của một người lao động với số phận của mình.

– Frank, con không nên có những ước muốn điên rồ. Nó chỉ gây phiền lụy cho con. Chúng ta thuộc tầng lớp cùng cực có nghĩa là chẳng bao giờ giàu và cũng không có đầy tớ đâu con ạ. Con hãy bằng lòng với chính con và những gì con có. Khi con nói ra những chuyện như thế con đã làm nhục cha con đó. ông không uống rượu, không chơi bời, ngượi lại làm việc rất cực nhọc vì chúng tạ ông không giữ riệng một xu cho ông, tất cả cho chúng ta đấy thôi.

Đôi vai gân guốc của Frank nhúm lại, nét mặt sa sầm xuống:

– Mẹ ạ, nhưng tại sao muốn thoát khỏi số phần của mình lại bị trách cứ? Con không thấy điều gì xấu nếu con mong cho mẹ có được một người giúp việc để mẹ bớt cực.

– Điều đó chưa phải tốt đâu con, vì nó không xảy ra như thế! Con biết gia đình mình không đủ tiền để lo cho con học tiếp và khi con không tiếp tục đến trường thì làm thế nào con có thể tránh được cái số phận của một người lao động cực nhọc… Giọng nói, cách ăn mặc, hai bàn tay chai của con đã cho thấy con phải lao động mới nuôi sống được mình. Không có gì là nhục khi có hai bàn tay chai. Cũng như cha con thường nói: khi có một người có hai bàn tay như thế thì ai cũng biết ngay đó là một người lương thiện.

Frank nhún vai không nói.

Anh đứng dậy đặt con búp bê bằng sứ trên đầu tủ buýp phê, phía sau hợp bánh bích quỵ Anh không sợ mấy thằng em trai có những hành độg phá hoại lần thứ hai; chúng ngán Frank nổi giận hơn la cha vì rằng bản chất của Frank có một chút hung dữ. Nhưng cái tính xấu ấy không bao giờ Frank lộ ra khi anh ở bên cạnh mẹ hay cô em gái Meggiẹ

Fiona nhìn Frank mà lòng đau nhói; dường như ở Frank có cái gì đó cô đơn và tuyệt vọng và biết bao nhiều điều băn khoăn vây hãm. Phải chi Pađy và Frank hòa thuận! Nhưng cả hai đều không nhìn mọi sự việc dưới con mắt giống nhau. Họ hục hặc nhau thường xuyên.

Ngoại trừ một lần được đi chơi ở Wahine cách đây tám tháng. Meggie chưa bao giờ đi xa hơn nhà kho và cái lò rèn ở dưới thung lũng. Cho nên sáng đầu tiên Meggie đi học ở trường, cô bị căng thẳng đến đỗi nôn ra ngoài những gì đã ăn sáng. Thế là Meggie được bế về phòng ngủ, tắm rửa sạch sẽ và thay một bộ đồ khác. Bộ quần áo mới màu xanh đậm với cổ màu trắng theo kiểu lính thủy, được thay bằng một cái áo choàng màu nâu xấu xí với hàng nút cài trên cổ rất cao, khiến Meggie có cảm giác như bị nghẹt thở.

Bob, Jack, Hughie và Stuart vừa chạy vừa nhảy cò cò đã ra tới ngoài cổng. Lúc đó Fiona mới lo xong cho Meggie, bà thúc hối con gái mang theo thức ăn sáng, bánh mì xăng-uých phết mứt, bỏ vào chiếc cặp cũ.

– Mau lên Meggie, mọi người trễ hết đấy. Bob ra đến đường quay đầu lại la lớn.

Meggie chạy theo mấy anh đang khuất dần xa xạ

Từ nhà của họ Cleary đến thị trến Wahine khoảng chừng tám cây số.

Meggie nhìn cột cây số chỉ đường mà chân tay rụng rời. Tai của Bob lắng nghe tiếng chuông trường đã đổ chưa, còn mắt thì liếc sang Meggie đầy băn khoăn; cô bé đi bước thấp bước cao, thỉnh thoảng lại thở ra mệt nhọc. Dưới mái tóc dày màu hung, gương mặt đỏ hồng của Meggie bỗng trở nên nhợt nhạt. Bob giao chiếc cặp của mình cho Jack rồi đến bên em gái:

– Meggie, em ngồi lên lưng anh, anh cõng em đi cho nhanh.

Bây giờ thì Meggie có thể khám phá Wahine trong tư thế thoải mái.

Wahine chẳng có gì nhiều để xem. Không rộn rịp bằng một thị trấn lớn, nhà cửa trải đều hai bên con đường chính tráng nhựa. Khách sạn là tòa nhà đáng chú ý nhất cũng chỉ có một tầng với một tấm lợp bằng vải chịu trên hai cây trụ nhô ra sát đường để che nắng. Cửa hàng bách hóa là nơi đáng chú ý kế đó. Thị trấn chưa có một nhà chứa xe, ô tô ở đây còn rất hiếm. Trường học và Nhà thờ Anh quốc giáo đang được xây kế bên nhau, đối diện với nhà thờ Thánh Tâm và trường của giáo xứ.

Khi anh em Cleary đi ngang cửa hàng bách hóa thì chuông trường của giáo xứ vừa đổ, sau đó là chuông trường của thị trấn. Họ bước nhanh hơn vào sân trường kịp lúc năm mươi học sinh khác bắt đầu xếp hàng trước một nữ tu thấp người, tay cầm một cây roi mây dài. Đó là xơ Agathạ

Khong bị lôi cuốn bởi những tiếng cười đùa khúc khích của đám học sinh, Bob và các em mình đứng nghiêm trang rồi lần lượt đi theo hàng vào lớp trong tiếng hát Niềm tin của các Thánh Tổ phụ của chúng ta, xơ Catherine đệm dương cầm. Khi học sinh cuối cùng vào lớp, xơ Agatha mới rời khỏi vị trí của mình. Bà đi thẳng đến anh em Clearỵ

Meggia chưa bao giờ được nhìn thấy một nữ tu, nên miệng há hốc ra.

– Này Robert Cleary, tại sao em đi trễ? Giọng nói của xơ Agatha khô khan như hét lên.

– Thưa dì, con xin lỗi – Bob trả lời vụng về, mắt dán chặt vào cây roi mây đung đưa sau lưng xơ Agathạ

– Tại sao các em đi trễ? Bà hỏi gặng lần nữa.

– Con xin lỗi xợ

– Hôm nay là ngày tựu trường, Robert Cleary; tôi nghĩ rằng vào một dịp như thế, các em phải ráng đi học đúng giờ chứ?

Meggie run sợ, tập trung can đảm rồi lên tiếng:

– Thưa xơ, đó là lỗi của con – Tiếng nói nhỏ như thì thầm và tắt nghẽn trong cổ.

Cặp mắt màu xanh đầy đe dọa rời khỏi Bob, chuyển sang hướng Meggie tưởng như xuyên thủng vào tận tim cô bé, trong khi đó Meggie vẫn hồn nhiên giương đôi mắt nhìn vị nữ tu, hoàn toàn không ý thức rằng mình vừa phạm một sơ hở.

– Tại sao lại lỗi của cô – Vị nữ tu hỏi Meggie bằng một giọng lạnh lùng chưa bao giờ Meggie được nghe.

– Dạ thưa, con nôn ra đầy bàn, làm lấm cả quần áo. Mẹ con phải lau rửa và thay quần áo khác cho con, do đó chúng con bị trễ – Meggie giải thích một cách vụng về.

Nét mặt của xơ Agatha không hề thay đổi nhưng miệng mím chặt lại như một cái lò xo bị căng ra quá sức, còn đầu ngọn roi thì hạ thấp xuống vài centimét.

Chuyện gì thế? Bà hỏi Bob như nói với một loại sâu bọ vô cùng kinh tỏm như chưa từng có trong danh mục khoa hoc.

– Xin xơ tha lỗi chọ Đây là Meghann, em gái của con.

– Nghe đây nhé, phải cho cô em gái của cậu biết có những chuyện mà những người có lễ giáo không bao giờ nói đến. Trong mọi trường hợp, chúng ta không đề cập đến bất cứ một món quần áo lót nào. Không bao giờ và không bao giờ. Tất cả những đứa trẻ con nhà đàng hoàng đều phải hiểu điều ấy. Đưa tay ra, tất cả.

– Nhưng thưa xơ, lỗi của con mà! Meggie kêu lên.

– Im ngay! Agatha quay qua Meggie ra lệnh – Tôi không cần biết ai là thủ phạm. Tất cả đều đi trễ, vậy tất cả phải bị phạt. – Sáu roi.

Bà kết án bằng giọng đều đều, chứa đựng sự đắc ý.

Meggie hốt hoảng nhìn hai bàn tay không nhúc nhích của Bob, rồi nghe tiếng rít của cây roi dài quất xuống nhanh đến nỗi mắt Meggie không theo kịp. Tiếng voi vang lên khi đụng vào bàn tay, nơi da thịt mỏng và mềm. Những đường dàiđỏ ửng nổi lên ngay; lần đánh sau trúng gần ngón tay và lần chót trúng ngay các đầu ngón tay đau thốn tới óc. Xơ Agatha sử dụng cây roi một cách đặc biệt chính xác. Thêm ba roi nữa quất xuống dưới tay bên kia của Bob, rồi bà quay sang Jack. Mặt Bob tái nhợt nhưng không một tiếng rên. Và xơ Agatha đã dùng cách đánh ấy với các đứa em trai của Bob, kể cả Stuart hiền hậu và dịu dàng nhất. Tất cả không một tiếng rên. Đến Meggie, cô bé nhắm mắt lại khi ngọn roi giơ lên cao và không thấy nó sa xuống lúc nào. Nhưng sự đau đớn thật dữ dội, da thịt như bị xé ra và nhức thấu xương. Rồi ngọn roi thứ hai quất xuống; cơn đau lên đến vai thì ngọn roi thứ ba và thứ tư tiếp theo, trúng ngay những đầu ngón taỵ Meggie cắn môi đến khi rướm máu, và cảm thấy xấu hổ khi bật ra tiếng khóc. Tức giận phẫn nộ trước một sự bất công như thế, Meggie mở lớn đôi mắt nhìn xơ Agathạ Đó là bài học đầu tiên của cô bé, bài học không chứa đựng những điều mà đáng ra vị nữ tu phải đưa vào.

Mãi cho đến giờ ăn trưa, hai bàn tay Meggie mới có thể hoạt động lại bình thường. Meggie đã trải qua một buổi sáng đầy sợ hãi sửng sốt về những gì đã xảy ra, đã nghe thấy. Ngồi trước chiếc bàn có hai ghế, ở tận cùng phòng học, Meggie cũng không chú ý người bạn cùng bàn mình là ai. Cô bé trải qua giờ cơm trưa buồn bã.

Khi tiếng chuông báo hiệu tiết học trưa bắt đầu, Meggie tìm một chỗ đứng vào hàng, lúc ấy cô bé mới nhận ra những gì chung quanh. Nỗi xấu hổ bị phạt chưa vơi nhưng cô bé vẫn ngẩng cao đầu và làm như không nghe những tiếng xì xào trong đám bạn nhỏ cùng lớp, cũng như không để ý đến những chiếc cùi chỏ thúc vào nhau.

Xơ Agatha đứng oai vệ trước học sinh với cây roi dài trong tay; xơ Declan đi đi lại lại ở cuối hàng. Xơ Catherine ngồi trước đàn dương cầm bắt đầu đánh bản: Hãy tiến lên, các con chiên của Chúa. Các cô cậu dễ thương này đi đều bước như những người lính nhỏ – xơ Catherine thầm nghĩ như thế với tất cả niềm kiêu hãnh.

Trong ba nữ tu, xơ Declan là mẫu chép nguyên bản của xơ Agatha với mười lăm tuổi nhỏ hơn, chỉ có xơ Catherine thì còn có chút gì nhân từ.

Ở hàng ghế cuối lớp, Meggie liều lĩnh liếc mắt nhìn sang cô bạn gái nhỏ ngồi chung bàn với mình. Một nụ cười sún răng đáp lại. Đôi mắt đen tròn làm gương mặt u buồn trở nên rực sáng. Cô bé thu hút Meggie có màu tóc đỏ hoe, gương mặt đầy những vết tàn nhang.

– Bạn tên gì? Cô bé có vẻ đẹp buồn hỏi Meggie, miệng cắn đầu cây bút chì.

– Meggie Cleary – tiếng trả lời của Meggie thật nhỏ.

– Hai em đằng kia! một giọng khô khan vang lên từ đầu lớp.

Meggie giật thót người, nhìn dáo dác xung quanh hoảng sợ, tim cô bé như va chạm vào lồng ngực. Meggie nhận ra là cả lớp đang nhìn mình. Xơ Agatha bước xuống đi thẳng đến Meggiẹ Sự sợ hãi khiến Meggie mong chờ một phép lạ nào giúp mình biến mất, hoặc phải co chân chạy ngay khỏi nơi này. Phía sau là bức tường, hai bên là những bàn học, còn trước mặt là xơ Agathạ

– Meghann Cleary, em đã nói chuyện.

– Thưa xơ, vâng.

– Em nói gì đấy?

– Tên con, thưa xợ

– Tên em? Xơ Agatha lặp lại bằng giọng chế diễu vừa đảo mắt nhìn khắp lớp, như muốn giải thích những lời lên án của mình.

– Này các em, hết chuyện rồi! Thêm một thành viên của gia đình Cleary mang lại vinh dự cho trường của chúng ta bằng sự hiện diện của họ Do đó cô ta phải loan báo một cách ầm ĩ tên mình – Rồi xơ quay lại phía Meggie. – Đứng lên! Em phải đứng lên khi tôi đang nói với em, đồ con nhỏ rừng rú! Đưa hai tay ra.

Meggie bước nhanh ra khỏi hàng ghế, những lọn tóc dài tung lên rồi rơi xuống che khuất một phần gương mặt. Cô bé vặn chéo hai tay một cách tuyệt vọng nhưng xơ Agatha vẫn không nhúc nhích, bà ta cứ chờ, cứ chờ, cứ chờ… Sau cùng Meggie tìm được chút gan dạ chìa lòng bàn tay ra. Nhưng ngay lúc cây mây đập xuống, cô bé rút bàn tay lại thật nhanh vừa thở hổn hển, mặt xanh như cắt. Xơ Agatha chụp lấy và kéo chùm tóc hung về phía bà, gương mặt của Meggie áp sát vào cặp kính của bà.

– Đưa tay ra, Meghann Cleary – xơ Agatha ra lệnh, giọng lịch sự nhưng lạnh lùng và quyết liệt.

Meggie há miệng ra và nôn cả buổi ăn trưa lên chiếc áo dài của xơ Agathạ Tiếp đó là tiếng hét kinh hãi của học sinh trong lớp; trong khi đó xơ Agatha trố mắt nhìn những thứ gớm ghiếc vừa nôn ra chảy dài từ trên xuống theo những đường xếp của chiếc áo. Mặt bà đỏ gay vì tức giận điên người cùng với chút kinh hãi. Cây mây quất xuống không cần biết nhắm vào đâu, Meggie đưa hai tay lên che mặt rồi chạy trốn vào một góc lớp, miệng vẫn tiếp tục nôn mửa. Xơ Agatha đã mỏi mệt không thèm đánh nữa, bà chỉ ra cửa:

– Ra khỏi đây! Về nhà của mày đi, đồ thất học đáng ghê tởm.

Rồi bà quay phắt lại bước sang lớp học của xơ Declan.

Đôi mắt luống cuống của Meggie tìm thấy Stuart, người anh học chung lớp ra hiệu cô phải vâng lời. Cái nhìn hiền hòa của Stuart đầy thương hại và thông cảm với Meggiẹ Cô bé lấy khăn tay chùi miệng và khập khiễng bước ra khỏi lớp. Còn những hai tiếng đồng hồ nữa mới hết giờ học; Meggie rời sân trường như một cái máy đi xuống đường và biết rằng các anh mình sẽ không theo kịp. Vì quá sợ hãi, Meggie không biết phải đứng lại nơi nào để chờ các anh; Meggie muốn về trước một mình và chỉ một mình thôi để kể với mẹ tất cả những gì xảy ra.

Chương 4

Fiona suýt nữa ngã vào con gái khi bước qua ngưỡng cửa sau nhà, tay xách một giỏ quần áo sắp sửa đem phơi. Meggie đang ngồi trên bậc cao nhất ở ngoài hàng hiên, đầu gục xuống, tóc rũ rượi, dơ bẩn. Fiona đặt chiếc giỏ nặng xuống, thở ra, đưa tay vẹt qua một bên phần tóc che khuất mặt Meggie.

– Nói cho mẹ nghe chuyện gì đã xảy rả Bà hỏi bằng giọng mệt mỏi.

– Con nôn ra đầy áo của xơ Agathạ

– Chúa ơi! Fiona kêu lên, hai tay chống vào hông.

– Bà cũng đã quất cho con nhiều roi – Meggie nói không ra tiếng, nước mắt ràn rụa.

– Thật sạch sẽ quá – Fiona đứng lên khó nhọc xách chiếc giỏ quần áo đầy nắp – Meggie, mẹ không biết phải làm gì đây, rồi ba về sẽ cho một trận.

Nói xong bà băng qua sân đi về phía hàng dây phơi quần áo.

Meggie lấy tay quệt nước mắt; nhìn theo mẹ một lúc rồi đứng lên và đi xuống con đường dẫn đến lò rèn.

Frank vừa đóng móng xong cho con ngựa cái của ông Roberson thì Meggie xuất hiện. Anh ta quay lại và thấy Meggiẹ Những kỷ niệm không lấy gì tốt đẹp mà cậu ta từng trải qua ở nhà trường lại ập đến. Meggie quá nhỏ bé, mũm mĩm thơ ngây biết bao, và những gì Frank nhìn thấy trước mắt khiến anh không thể không nghĩ đến việc giết ngay xơ Agathạ Giết bà ta, giết bà ta thật sự. Anh ta buông mấy thứ đang cầm trong tay, tháo cái tạp dề bằng da ra và đến nhanh bên Meggiẹ

– Chuyện gì đã xảy ra em gái cưng của anh? Frank vừa hỏi vừa quì xuống trước mặt em gái.

Mùi nôn mửa xông ra từ em gái làm cho Frank cũng khó chịu nhưng cậu ta cố chịu đựng.

– Anh Frank – Frank – Frank! Cô bé nói như rên siết, gương mặt nhăn nhó đau đớn, và bây giờ nước mắt mới tuôn trào. Meggie nhào tới ôm ghì lấy Frank, và khóc không ra tiếng, nhưng lại rất đau khổ.

Khi Meggie dịu bớt cơn xúc động, Frank bế em gái đặt trên đống cỏ khô mùi dễ chịu, bên cạnh con ngựa cái của ông Roberson. Cả hai ngồi yên lặng nhìn con vật nhấm ở rơm. Đầu của Meggie ngả vào phần ngực trần êm ái của Frank.

– Tại sao bà ta phạt tất cả anh em mình hở anh Frank? – Meggie hỏi. Em đã nói là lỗi riêng của em mà.

Bây giờ thì Frank đã quen cái mùi toát ra từ chiếc áo của em và anh ta không còn chú ý nữa. Bất chợt, Frank đưa tay ra, lơ đãng vuốt mũi của con ngựa cái, đẩy nó ra khi nó có vẻ quá thân mật.

– Chúng ta nghèo, Meggie, đó là lý do chính. Các dì phước luôn luôn ghét học sinh nghèo. Nếu em còn đi học ở cái trường hắc ám đó của xơ Agatha vài ngày nữa, em sẽ thấy bà ta không chỉ nhắm vào anh em Cleary, mà cả anh em Marshall Mac Donald. Tất cả đều nghèo. Ngược lại, nếu chúng ta giàu, đi học bằng xe ngựa có mui sập sang trọng như dòng họ Ó Brien, các bà xơ sẽ nhảy tới ôm cổ chúng tạ Nhưng chúng ta không có điều kiện để tặng một cây đàn ócgơ cho nhà thờ, cũng không có những áo choàng lễ nạm vàng, hay một con ngựa, một chiếc xe cũ tặng cho các bà nữ tu dùng việc riêng, nên chúng ta chẳng là gì. Các bà muốn đối xử với chúng ta như thế nào tùy ý.

Cô bé ngái ngủ, hai mí mắt trì nặng xuống. Frank đặt em nằm trên đống cỏ khô và trở lại công việc của mình, trên môi điểm một nụ cười và cất tiếng hát nho nhỏ.

Meggie đang ngủ thì Pađy bước vào, tay lấm đầy phân vì ông ta vừa chùi rửa chuồng ngựa của ông Jarman.

– Mẹ con mới cho ba hay la Meggie bị phạt ở trường và bị đuổi về nhà. Con có biết lý do hay không?

Frank để cái trục xe qua một bên.

– Tội nghiệp nó đã nôn vào áo của xơ Agathạ

Pađy đổi sắc mặt, mắt nhìn thẳng về phía bức tường xa nhất như đang tìm một thái độ Rồi ông lại hướng mắt về phía Meggiẹ

– Con bé bị xúc động quá mức ngay buổi học đầu tiên chứ gì?

– Con không rõ. Nó đã nôn ở nhà trước khi đi và do đó làm cho cả bốn đứa phải trễ giờ. Chúng đến trường sau khi kiểng đổ. Mỗi đứa đều bị ăn sáu roi, riêng Meggie bấn loạn vì cho rằng nó là người có lỗi duy nhất đáng bị phạt. Sau buổi ăn trưa, Meggie lại bị xơ Agatha đánh một lần nữa, thế là Meggie của chúng ta đã trút toàn bộ bánh mì và mứt lên trên chiếc áo dài màu đen của xơ Agathạ

– Rồi chuyện gì xảy ra tiếp đó?

– Xơ Agatha đã tặng thêm một trận đòn cho Meggie và đuổi nó về nhà.

– Như vậy, Meggie đã bị phạt là đúng. Ba rất kính trọng các dì phước và ba cũng ý thức rằng chúng ta không có quyền chỉ trích hành động của các dì. Nhưng ba mong rằng các dì sẽ sử dụng roi thước bớt đi. Ba biết các dì phải khổ tâm lắm mới nhét được vào những cái đầu khó bảo của người ái Nhĩ Lan chúng ta một chút văn hóa. Dù sao đó là ngày đi học đầu tiên của Meggiẹ

Frank nhìn cha sửng sốt. Lâu nay chưa bao giờ Pađy nói chuyện với con trai lớn trong tứ thế giữa hai người đàn ông. Lần đầu tiên được lôi ra khỏi những oán giận thường xuyên đầy ắp, Frank hiểu ra rằng dù với bề ngoài cứng rắn, cha mình vẫn tỏ ra âu yếm Meggie hơn cả bọn con trai. Frank cảm thấy gần với cha hơn. Anh mỉm cười không có chút ẩn ý.

– Meggie là một đứa trẻ tuyệt vời phải không bả Pađy tán đồng một cách lơ đãng câu hỏi của Frank vì ông đang nhìn Meggiẹ Con ngựa cái nhe răng, hỉnh mũi thở phì phì; Meggie trở mình, lăn qua một bên rồi mởt mắt. Khi nhìn thấy cha đứng kế bên Frank, cô bé bật ngồi dậy, mặt tái nhợt vì sợ sệt.

– Sao cô gái bé nhỏ, con đã trải qua một ngày rất mệt nhọc phải không?

Pađy bước tới, bế Meggie lên và không khỏi giựt mình vì mùi tanh xông lên mũi. Nhưng ông nhún vai và ôm con gái vào lòng.

– Con bị đánh đòn bằng gậy… Meggie nói với chạ

– Này nhé, xơ Agatha cho ba biết đây chưa phải là lần cuối cùng đâu (ông đặt Meggie lên vai) – Bây giờ tốt hơn hết con xem mẹ có sẵn nước nóng để tắm không. Con gái ba mà hôi hám hơn cả chuồng ngựa của Jarman.

Những lần nôn mửa của Meggie đã mang lại một kết quả khá tốt. Xơ Agatha vẫn dùng roi đánh cô bé nhưng bây giờ bà luôn luôn giữ một khoảng cách đủ để tránh những hậu quả bất ngờ. Do đó mà sực mạnh của làn roi và sự chính xác đã không còn như trước.

Khi Meggie chưa đến trường thì Stuart là mục tiêu chính của ngọn roi trong tay xơ Agathạ Nhưng thật ra, Meggie lại là đối tượng hành hạ thích thú hơn, vì tánh hay mơ mộng và kín đáo của Stuart ít có chỗ sơ hở cho xơ Agatha khai thác.

Meggie quen tay trái. Đó là cái tội đáng trị nhất. Ngày tập viết đầu, khi cô bé cầm cục phấn lên, xơ Agatha đã lao vào cô bé như César lao vào lính Gaulois:

– Meghann Cleary, bỏ cục phấn xuống ngay! bà ta hét lên.

Thế là một trận chiến dằng lại diễn ra. Meggie quen tay trái, bất trị, không khoan nhượng. Khi xơ Agatha bẻ cụp bàn tay mặt của Meggie trên tám bảng, Meggie thấy đầu óc đảo lộn, khổng biết cách nào điều khiển bàn tay bất lực của mình làm theo đòi hỏi của xơ Agathạ Bà ta có làm gì đi nữa, bàn tay mặt của Meggie vẫn không thể kẻ được chữ Ạ Thừa lúc xơ Agatha vừa quay sang chỗ khác, Meggie nhanh hơn dùng tay trái viết một chữ A thật đẹp.

Nhưng cuối cùng xơ Agatha đã thắng. Một buổi sáng trong lúc các học sinh đang xếp hàng, xơ Agatha đến lắm lấy tay của Meggie kéo ra sau lưng rồi dùng một sợi dây thừng cột chặt lại. Xơ Agatha chỉ tháo dây khi chuông báo tan học vào lúc ba giờ chiều. Ngay giờ nghỉ buổi trưa, Meggie cũng phải ăn, đi dạo và chơi với một bên tay trái hoàn toàn bất động. Ba tháng sau, Meggie tập được viết bằng tay mặt khá ngay ngắn, theo những qui định do xơ Agatha đề ra. Để đảm bảo chắc chắn cô bé không sử dụng trở lại tay trái, bà ta tiếp tục cột như thế thêm hai tháng. Sau đó xơ Agatha tập hợp tất cả học sinh để đọc một tràng kinh, cảm ơn Đức Chúa Trời với lòng nhân từ của Ngài, đã chứng minh sai lầm của Meggie – Những đứa con của Đức Chúa Trời nhân từ đều sử dụng tay mặt; những người sử dụng tay trái là do quỷ sứ sinh ra, nhất là khi chúng có tóc màu hung. Năm học sắp hết, tháng 12 đến và ngày sinh nhật của Meggie cũng gần rồi. Như một thông lệ của gia đình khi sinh nhật của các con rơi vào một ngày đi học thì buổi lễ được dời qua ngày thứ bảy.

Quà sinh nhật của Meggie năm nay là một bộ tách dĩa với những hình vẽ đề tài Trung Quốc mà cô bé mong muốn từ lâu. Bộ tách dĩa ấy được đặt trên một chiếc bàn nhỏ xinh sắn màu xanh dương chung quanh có những chiếc ghế nhỏ. Tất cả do Frank làm cho em trong những lúc rỗi rảnh. Thế là Agnès mặc chiếc váy màu xanh mới, do chính mẹ. Meggie cắt và may, được đặt trên một trong những chiếc ghế ấy.

Hai ngày trước Noel năm 1917, Pađy trở về nhà đặt lên bàn tờ tuần báo và một chồng sách mượn của thư viện lưu động. Lần thứ nhất, việc đọc báo được chọn trước việc đọc sách. Tổng biên tập vừa áp dụng một công thức mới cho tờ tuần báo phỏng theo các tạp chí Mỹ. Ở phần giữa tờ báo được dành trọn để phản ánh tình hình chiến cuộc đang diễn ra.

Frank chụp lấy tờ báo và đọc ngấu nghiến các bài tường thuật.

– Thưa ba, con muốn ghi tên vào quân đội – Frank vừa nói vừa đặt tờ báo xuống bàn một cách lễ phép.

Fiona quay phắt đầu lại, làm đổ món ragu xuống bếp; Pađy giật nẩy mình trong ghế bành Windsor, ngưng đọc sách.

– Con còn quá trẻ, Frank, ông đáp lại.

– Thưa ba, con đã 17 tuổi. Con là một người lớn! Tại sao bọn Đức và bọn Thổ có quyền tàn sát quân lính của chúng ta như những con heo, trong khi đó con lại ở nhà ngồi bình yên? Đã đến lúc một thanh niên của dòng họ Cleary phải phụ vụ Tổ quốc.

– Nhưng con chưa tới tuổi, Frank – người ta không nhận con đâu.

– Nhận. Nếu ba không ngăn trở – Frank nói ngược lại một cách quyết liệt, mắt vẫn nhìn chạ

– Nhưng ba không đồng ý. Con là lao động duy nhất trong gia đình hiện naỵ Gia đình cần tiền do con làm ra. Con biết điều đó.

– Nhưng trong quân đội con cũng được trả lương.

– Lương lính hả? Pađy vừa hỏi vừa cười. Một thợ rèn ở Wahine có thu nhập nhiều hơn một người đi lính ở châu âu.

– Nhưng khi con ở đó, con có hy vọng đổi thay số phận thợ rèn của con! Đây là lối thoát duy nhất của con.

– Tất cả điều đó đều là chuyện tầm phào! Trời ơi, con không hiểu chút nào về những điều con đang nói. Ba sinh ra từ một đất nước trải qua một ngàn năm chiến tranh, do đó ba biết ba đang nói gì. Con có bao giờ nghe, các cựu chiến binh kể lại cuộc chiến của những người nông dân góc Hà Lan ở Nam Phi chống lại quân Anh? Con thường ra thị trấn Wahine; vậy lần tới con hãy tìm hiểu. Ba nghĩ điều đó sẽ rất bổ ích cho con. Ngoài ra ba có cảm tưởng bọn Anh không thích dùng người Tây Tây Lan; bọng chúng luôn bố trí lính Tây Tây Lan ở những nơi dễ chết nhất để tránh nguy hiểm cho mạng sống quí giá của họ. Cứ xem cái cách mà viên tướng Chwichell đã đưa quân lính của chúng ta đến một khu vực hoàn toàn không cần thiết như ở Gallipili thì cũngbiết. Mười ngàn người bị thiệt mạng trong số năm mươi ngàn. Tại sao lại phải đi chiến đấu cho cuộc chiến của Anh? Nước Anh đã giúp ích gì cho con, cái xứ gọi là Mẹ Tổ Quốc ấy, ngoại trừ việc hút các thuộc địa đến giọt máu cuối cùng. Nếu con đến nước Anh, con sẽ gặp ngay sự khinh bỉ vì con đến từ một xứ thuộc địa. Tây Tây Lan không hề bị đe dọa, kể cả úc.

– Nhưng con vẫn muốn vào quân đội.

– Con có thể muốn bất cứ điều gì nhưng con sẽ không rời khỏi nơi đây. Hay nhất là con quên đi tất cả những chuyện ấy. Hơn nữa con còn quá nhỏ để trở thành người lính.

Gương mặt của Frank đỏ gay, hai môi mím chặt lại, cậu ta cảm thấy đau khổ về chiều cao dưới trung bình của mình. Mới đây, một nỗi nghi ngờ đáng sợ lại xâm chiếm Frank. Mười bảy tuổi rồi mà Frank vẫn cao đúng một thước năm mươi chín, đó là chiều cao khi Frank được 14 tuổi; phải chăng mình không còn cao lên nữa.

Thế nhưng, công việc ở lò rèn đã mang lại cho anh một thể lực hơn hẳn vóc dáng của anh. Tuy nhỏ con nhưng Frank có một sức mạnh vô địch. Ở tuổi 17; anh chưa bao giờ bị đánh bại trong bất cứ một cuộc thi đấu quyền Anh nào. Frank được nhiều người khắp bán đảo Taranaki biết đến.

Pađy nhìn chăm chú Frank, cố tìm hiểu đứa con trai lớn của mình nhưng ông cảm thấy bất lực, Frank là đứa con “xa con tim” của ông nhất dù cho ông đã cố gắng không thiên vị bất cứ đứa con nào.

Cuộc tranh luận trên bàn ăn bỗng tắt ngang khi Pađy nhận xét về chiều cao của Frank; cả gia đình cúi đầu và im lặng khác thường, họ ăn món ragu thỏ. Meggie không ăn, mắt cứ nhìn Frank như lo sợ lúc nào đó anh mình có thể biến đi mất. Còn Frank, sau khi ăn sạch, ngồi nán lại một lúc cho đủ lễ, rồi đứng lên đi ra ngoài. Một phút sau tiếng rìu bửa củi vang vào tận trong nhà. Frank tấn công những khúc gỗ cứng nhất mà Pađy đã dự trữ để chuẩn bị đốt vào mùa đông, củi loại này cháy chậm.

Trong khi mọi người nghĩ rằng Meggie đã ngủ, cô bé lẻn ra khỏi phòng bằng ngã cửa sổ và đi đến vựa củi, nơi đây được coi là đáng kể nhất trong đời sống của cả nhà. Vựa củi chiếm khoảng đất rộng một trăm mét vuông, Frank đang đứng giữa bãi, chiếc rìu sáng loáng giơ cao hạ xuống nghe rít trong gió, những mảnh gỗ nhỏ văng tứ tung, lưng trần của Frank như thoa mỡ, mồ hôi chảy xuống từng giọt.

Meggie rón rén đến im bên chiếc áo sơ mi và áo lót của Frank vứt ở một góc, nhìn anh mình với chiếc rìu, Meggie không khỏi ngạc nhiên. Có đến ba cái rìu như thế sẵn sàng để thay vì vỏ cây bạch đàn có thể làm lụt đi nhanh chóng những cái bén nhất.

Frank tiếp tục làm việc gần như theo bản năng dưới ánh sáng hoàng hôn đang tắt lịm. Meggie né tránh nhanh nhẹn những mảnh gỗ nhỏ và chờ cho Frank khám phá sự hiện diện của mình.

Khi Frank quay lại để lấy một cái rìu khác thi anh ta bắt gặp cô em gái, ngồi đó im lặng trong chiếc áo sơ mi của Frank cài nút thật kỹ từ trên xuống dưới. Frank bước đến gần Meggie ngồi xổm xuống, chiếc rìu vẫn để giữa hai đầu gối.

– Em ra đây bằng cách nào hỡi cô bé lém lỉnh?

– Ngã cửa sổ. Em chờ cho Stuart ngủ mệ

– Coi chừng đấy, em sẽ trở thành một thằng con trai hư hỏng mất.

– Mặc kệ. Em vẫn thích chơi với bọn con trai hơn là buồn hiu một mình.

– Dĩ nhiên là thế.

– Có chuyện gì không Meggiẻ

– Frank, anh không đi thật chớ?

Meggie đặt hai bàn tay lên đùi anh mình và ngước nhìn bằng mắt âu lo, miệng mở lớn, còn nước mắt dã chảy xuống đầy lỗi mũi làm cho cô bé cảm thấy khó thở.

– Vâng có lẽ anh sẽ đi Meggie ạ – Frank trả lời dịu dàng.

– Anh Frank ơi, không nên! Mẹ và em rất cần anh! Nhà này không thể thiếu vắng anh được.

Frank mỉm cười dù biết khi nghe Meggie hồn nhiên lặp lại những lời nói giống hệt mẹ.

– Meggie, có những việc xảy ra không như mong muốn của chúng tạ Em phải biết điều đó. Trong nhà này các thành viên của gia đình Cleary đã được dạy phải làm việc chung nhau vì lợi ích của mọi người mà không bao giờ nghĩ đến bản thân mình. Anh muốn ra đi vì anh đã 17 tuổi, đã đến lúc phải tự lập. Nhưng cha không đồng ý. Người ta cần anh ở nhà vì lợi ích chung. Vì anh chưa đủ 21 tuổi nên anh phải nghe lời chạ

Meggie gật đầu thật nhanh, cố gắng hiểu cho được những điều mà Frank giải thích.

– Thế đấy Meggiẹ Anh đã suy nghĩ rất kỹ và anh sẽ ra đi, anh không thay đổi quyết định. Anh biết mẹ và em không muốn thiếu anh, nhưng Bob lớn rất nhanh rồi ba và các em sẽ không nhận ra sự vắng mặt của anh đâu. Chỉ có đồng tiền của anh kiếm đuợc là đáng kể đối với ba thôi.

– Thế là anh không thương ba mẹ và tụi em nữa sao hở anh Frank?

Frank quay lại ôm Meggie trong vòng tay, siết mạnh vào lòng, vuốt ve cô em gái với nỗi sung sướng. Hình như có gì quyện chặt vào như là sự tra tấn, pha lẫn đau buồn, cùng xót xa và cả đói.

– Không đâu Meggie! Anh thương em vô cùng, thương mẹ và em hơn tất cả mọi người cộng lại. Chúa ơi, phải chi em lớn hơn thì anh có thể giải thích cho em nghe. Nhưng có lẽ cũng may khi em còn bé bỏng như thế này… Đúng thế, như thế này vẫn tốt hơn…

– Em van anh, anh đừng đi Frank ạ.

– Meggie của anh, em không hiểu những gìanh đã nói à? Nhưng thôi, điều đó không quan trọng. Cái chính là em đừng nói cho ai biết em đã gặp anh. Em có nghe không? Anh không muốn nguời khác biết em đã ro chuyện này.

Meggie đứng lên, ráng nở nụ cười:

– Anh thấy cần phải đi thì cứ đi, anh Frank.

– Meggie, em nên trở về phòng và lên giường trước khi mẹ biết được em không có ở đó. Đi đi, chạy nhanh lên…!

Sáng hôm sau, Frank đã đi khỏi nhà. Khi Fiona vào đánh thức Meggie, nét mặt của bà căng thẳng, nghiêm nghị hơn lúc nào hết. Meggie nhảy ra khỏi giường như con mèo bị phỏng nước sôi và tự mặc quần áo vào không cần nhờ mẹ cài những chiếc nút nhỏ.

Ở bếp, mấy cậu con trai đã ngồi chung quanh bàn, buồn bã. Ghế của Pađy trống. Ghế của Frank cũng trống. Meggie im lặng rón rén ngồi vào chỗ của mình, răng cắn chặt vào nhau lo sợ. Sau buổi ăn sáng, Fiona ra lệnh cho các con dọn dẹp nhà. Ra phía sau nhà kho, Bob báo tin với Meggiẹ

– Frank đã đi rồi – Bob nói thật nhỏ.

– Có lẽ anh ấy chỉ đi Wahine – Meggie đặt giả thiết.

– Không đâu. Đồ ngu như bò. Anh ấy bỏ nhà ra đi để đăng vào lính. Anh cũng muốn lớn nhanh lên để có thể làm như Frank! Anh ấy may mắn lắm.

– Còn em thì thíc hanh ấy ở lại nhà hơn.

– Đúng quá, em chỉ là một đứa con gái.

Khi Meggie trở vào nhà, cô bé hỏi mẹ.

– Ba đâu rồi?

– Ba đi Wahinẹ

– Có phải ba đi để đem Frank về?

– Thật không có cách nào giấu chuyện bí mật trong gia đình này – Fiona cằn nhằn. – Không, ba không đi tìm Frank ở Wahinẹ Ba biết Frank đi đâu. Ba đi đánh điện tín cho cảnh sát và cho quân đội ở Wanganui. Lính quân cảnh sẽ mang anh con về đây.

– Mẹ ơi, con hy vọng rằng họ sẽ tìm ra Frank. Con không muốn Frank đi luôn.

– Không một ai trong chúng ta muốn Frank ra đi. Chính vì thế mà ba sẽ lo liệu những điều cần thiết… để người ta đưa Frank trở về đây. Tội nghiệp thằng Frank con tôi! Tội nghiệp Frank! Bà không nói với Meggie mà than vãn một mình. Tôi không hiểu tại sao trẻ con phải gánh chịu mọi tội lỗi của người lớn. Thằng Frank tội nghiệp của tôi, nó khác tất cả…

Ba hôm sau, cảnh sát mang Frank trở về! Cậu ta chống lại dữ dội như một con sư tử – theo lời của viên trung sĩ ở Wanganui kể lại cho Pađỵ

– Hắn ta đúng là một tên võ sĩ. Khi anh chàng biết được rằng Văn phòng tuyển binh đã được thông báo về trường hợp của hắn, hắn vọt chạy nhanh như một ngọn lao. Nếu hắn không xui rủi đụng đầu một toán lính tuần thì có lẽ đã thoát thân. Hắn chống lại dữ dội như một kẻ bị ma ám. Phải cần tới năm người mới còng hắn được. Anh ta quậy như làm xiếc.

Vừa kể lể một cách hấp dẫn, viên cảnh sát vừa tháo những dây xích nặng nề trả lại tự do cho Frank rồi đẩy Frank qua ngưỡng cửa. Frank bị loạng choạng và khi lấy lại thăng bằng anh đã đứng ngay trước mặt Pađỵ Cậu ta co rúm người lại như thể sợ bị phỏng nếu chạm phải thân thể của chạ

Các em của Frank đứng chung quanh nhà nhìn lại. Meggie âu lo không biết người ta có làm gì hại Frank không.

Frank quay sang nhìn mẹ trước hết, hai mắt màu đen và màu nâu pha trộn nhau trong một sự kết hợp chưa bao giờ được nói ra và cũng không bao giờ nên nói ra. ánh mắt khắt khe màu xanh của Pađy nhìn thẳng Frank vừa khinh miệt, vừa chua cay, như ngầm nói không thể chờ đợi gì khác hơn ở một đức con như thế. Mắt Frank nhìn xuống đất, chấp nhận cái quyền nổi giận của cha mình. Từ hôm đó, Pađy không nói chuyện với con trai ngoại trừ những câu cần nói.

Gặp lại các em mình, đó là điều hết sức khổ tâm với Frank vừa hổ thẹn, vừa khó chịu, như con chim lộng lẫy bay lên cao từ phương trời xa thẳm nào đó, rồi bỗng bị bắt phải quay về bị gẫy cánh, tiếng hót trở nên lặng lẽ.

Buổi tối như thường lệ, Meggie chờ mẹ kiểm soát xong các con đi ngủ, cô bé mới chuồn ra cửa sổ và băng qua sân sau; Meggie biết rõ Frank ở đâu giờ này. Ở một góc nhà khi, tránh mọi cái nhìn soi nhói, nhất là của chạ

– Frank, Frank, anh ở đâu? Cô bé hạ thấp giọng hỏi. Meggie bước vào nhà kho tối mịt, chân dò dẫm mặt đất với nỗi lo sợ chạm phải một con vật nào đó.

– Lại đây, Meggiẹ

Cô bé rất khó khăn mới nhận ra được giọng nói của Frank. Giọng nói ấy trước đây rất quen thuộc với Meggie bây giờ lại nghe đều đều, không còn sự nồng ấm trong đó.

Theo hướng gọi, Meggie đi lần đến chỗ Frank nằm rồi ngã vào lòng anh, hai tay ôm Frank, tay dài được bao nhiêu cô bé ôm hết bấy nhiêu.

– Frank ơi, em sung sướng quá vì anh đã trở về đây.

Frank tìm cách nằm sát hơn nữa dưới đống cỏ khô để có thể nhìn ngang mặt Meggiẹ Tay cô bé luồn vào tóc của Frank miệng kêu lên gừ gừ như con mèo con. Bóng đen dày đặc không cho Frank nhìn rõ mặt em, thế nhưng tình cảm của Meggie bỗng chốc phá tung những gút mắc trong lòng anh. Frank bắt đầu khóc, run rẩy toàn thân một cách đau đớn, nước mắt làm ướt áo cô bé. Meggie thì không khóc. Cái gì đó trong tâm hồn nhỏ bé của Meggie đã sớm chín muồi và cô bé trở thành một người khác có thể cảm nhận được niềm vui tràn ngập, dữ dội, ý thức rõ về sự cần thiết của mình. Meggie ngồi tay lay nhẹ đấu tóc nâu thân yêu, cứ thế cho đến khi nỗi đau ở Frank dịu bớt và tan vào khoảng trống.

Chương 5

Con đường đi Drogheda chẳng gợi một chút kỷ niệm thời thơ ấu của mình – cha Ralph de Bricassart thầm nghĩ như thế. Mắt chỉ mở phân nửa đủ để chống chỏi lại ánh sáng quá chói chang giữa lúc chiếc ô tô mới hiệu Daimler đang lăn bánh trên con đường đất gồ ghề bị đào xới bởi những chiếc xe bò qua lại.

Không có chút gì êm ả, xanh tươi và mờ ảo của Ailen ở cái xứ này. Drogheda! chẳng phải chiến trường mà cũng chẳng có cuộc vây hãm của cường quốc nào trong lịch sử. Nói thế có quá lố không? Trong con người cha Ralph tính hài hước vẫn rất nhạy, nó đã vẽ ra trong ông hình ảnh một Mary Carson ác cảm và đầy quyền lực theo kiểu nhân vật Cromwell.

Cổng rào cuối cùng hiện lên đàng sau một cụm cây. Chiếc xe đỗ lại, tiếng máy nghe khá tọ Cha Ralph bước xuống, đầu đội chiếc nón rộng vành màu ghi đã bạc. ông kéo cái chốt ra rồi đẩy cánh cổng bực bội. Có ít nhất hai mươi bảy chiếc cổng rào như thế từ nhà của cha Ralph ở Gillanbone đến lãnh địa Drogheda; cứ đến mỗi cổng rào cha Ralph phải dừng xe lại bước xuống, mở cổng rồi trở lên xe, cho xe chạy vào bên kia cổng rồi lại dừng xe lại, bước xuống đóng cổng lại, rồi lại trở lên xe cho đến cổng kế tiếp. Nhiều lúc ông có ý định giảm bớt phân nửa cái công việc đều đặn mất công ấy bằng cách bỏ lại phía sau những cái cổng không được đống lại. Nhưng dù với cương vị thầy tu khiến cho nhiều người nễ trọng nhưng ông cũng biết rằng điều đó vẫn không ngăn cản các vị chủ của những cổng rào sẽ buột ông trả một giá đắt cho sự cẩu thả của mình. Cỡi ngựa thì không đi nhanh và tiện lợi bằng xe ô tô nhưng đi ngựa lại có thể mở và đóng các cổng lại mà không cần đặt chân xuống đất. “Tấm huy chương nào cũng có bề trái của nó” vừa nói, tay cha Ralph vừa mân mê cái bảng chỉ dẫn tốc độ. Cái cổng ở phía sau đã được cài chặt lại, cha cho ô tô chạy nốt cây số cuối cùng, tiến vào chính điện của khu vực Droghedạ

Trang trại này ở úc khiến cho bất cứ ai cũng phải kính nể kể cả một người ái Nhĩ Lan quen thấy những lâu đài và dinh thự quí tộc. Drogheda là trang trại xưa nhất và rộng nhất trong vùng. ông chủ của nó, lão Michael Carson, – đã qua đời – xây một tòa nhà rất hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, vật liệu xây dựng là sa thạch màu vàng lấy cách đây tám cây số; kiểu kiến trúc của tòa nhà nghiêm trang theo thế kỷ thứ 18 đời vua George đệ nhất ở Anh với một tầng và những cửa sổ rộng chia thành ô vuông nhỏ; một hành lang được chịu trên những cột sắt chạy dài theo tầng trệt. Những cánh cửa sổ bằng gỗ màu đen trang điểm cho chính diện của tòa nhà cũng có công dụng của nó: giữa cái nóng oi bức mùa hè, các cánh cửa đóng chặt để giữ cái mát mẻ bên trong.

Hôm nay, trời vào thu, các gốc nho mọc lên cao những tua xoắn và lá rất xanh. Nhưng vào mùa xuân, những dây đậu tía trồng vào lúc tòa nhà vừa xây – năm mươi năm trước – kết thành một khối chắc nịch với những chùm cây tử đinh hương, cành túa ra rậm rạp, đầy hoa bám dài theo tường và trên mái hiên. Quanh ngôi nhà, nhiều hecta cỏ trải rộng như một tấm thảm, được chăm sóc rất kỹ lưỡng, rải rác đây đó là những hình khối đối xứng, dù ở mùa nào, cũng rực rỡ màu sắc; hoa hồng, thược dược, đinh tử v. v… chen nhau. Một cụm cây bạch đàn đẹp tuyệt màu trắng xám, với những chiếc lá thon dài đong đưa cách mặt đất hai mươi thước, làm cho ngôi nhà tránh được sức nóng dữ dội của mặt trời.

Ngay cả những tháp chứa nước xấu xí cũng được cái loại cây có hoa mọc đan len nhau che kín. Nhờ say mê trang trại, Michael Carson còn sống đã xây không biết bao nhiêu là tháp và bồn nước. Người ta đồn rằng Drogheda có thể giữ cho các thảm cỏ và các vườn hoa tiếp tục xanh tươi dù cho trời không mưa trong mười năm.

Cha Ralph rời ô tô, đang băng qua bãi cỏ thì một đầy tớ gái xuất hiện ở hiên trước nhà. Gương mặt cô ta đầy tàn nhang, cười hết miệng.

– Chào chị Minnie – cha Ralph lên tiếng trước.

– Thưa cha, thật hoan hỉ được gặp cha vào buổi sáng đẹp này – Tiếng của chị ta vang lên vui vẻ, pha giọng Ailen.

Một tay chị giữ cánh cửa bật mở rộng, tay ia chị đưa ra đón lấy chiến nón cũ hình dáng không có vẻ gì là đồ dùng của một tu sĩ.

Mary Carson ngồi trên chiếc ghế bành gần cửa sổ lớn mở rộng, dường như bà không chú ý đến cái lạnh đang tràn vào căn phòng này. Mái tóc màu vàng hung của bà vẫn rực rỡ không kém thời trẻ trung. Trên mặt điểm những nốt tàn nhang màu nâu vì tuổi tác, nhưng không thể che giấu được dưới những nét nhăn. Dấu hiệu duy nhất về bản tính bướng bỉnh của người đàn bà này ẩn chứa trong hai đường khắc sâu hai bên mũi chạy dài xuống mép môi và trong đôi mắt màu xanh nhợt lạnh lùng.

Cha Ralph lặng lẽ đi ngang qua tấm thảm Aubusson và hôn tay lên bà chủ trang trại. Cử chỉ đó hoàn toàn phù hợp với tầm vóc cao lớn, dáng dấp quí phái của vị linh mục. Hơn nữa chiếc áo dòng màu đen giản dị còn mang lại ông cái vẻ lịch thiệp của một nhà tụ Đôi mắt thản nhiên của bà Mary Carson bỗng sáng lên và hình như bà cố làm duyên khi lên tiếng:

– Cha dùng chút trà nhé?

– Rất sẵn sàng, thưa bà Carson nếu trước hết bà yêu cầu được xem lễ, ông đáp.

ông buông mình xuống chiếc ghế bành; chiếc áo dòng bị giật lên để lộ ra ở bên trong chiếc quần cỡi ngựa mà hai ống nhét vào đôi ủng cao đến gần đầu gối.

– Tôi có mang theo bánh thánh cho bà. nhưng nếu bà muốn xem lễ, tôi sẵn sàng làm lễ trong vài phút. Có lẽ tôi không cần phải nhịn ăn lâu hơn.

– Cha đã đối xử quá tối với chúng tôi, thưa chạ Bà nói với một thái độ khá kiêu kỳ. Bà biết chính xác là linh mục này, những như bao nhiêu linh mục khác đến với bà, không phải do lòng kính trọng mà vì đồng tiền của bà.

– Xin mời cha dùng trà – bà nói tiếp – Tôi thấy cha làm lễ đã đủ.

Cha Ralph cố che giấu những ác cảm của ông về người phụ nữ lớn tuổi này. Rõ ràng, giáo khu này lý tưởng để cho ông rèn luyện lại. Nếu có dịp thoát khỏi thờ kỳ thất sủng mà ông đã rơi vào do tánh tình kỳ khôi của mình, thì ông sẽ không bao giờ lặp lại sai lầm cũ. Và nếu ông biết giữ gìn các lợi thế sẵn có, bà già này có thể thỏa mãn những ước nguyện của ông.

– Tôi phải thú thật, thưa cha, năm vừa qua là một năm đặc biệt dễ chịu – bà ta nói. Cha là người chăn dắt được hơn cha Kelly già rất nhiều, mong Chúa trừng phạt tâm hồn mục nát của ông ấy.

Bà nói những tiếng sau cùng giọng đanh lại, thù hằn.

– Bà Carson thân mến! Đó là một tình cảm không được nhân từ lắm.

– Có thể đúng, nhưng nó là sự thật. ông ta chỉ là một lão già say rượu và tôi tin chắc rằng Chúa sẽ khiến cho tâm hồn lão ta bị thối rữa y như sự thối rữa thân xác của lão tạ Bây giờ tôi bắt đầu hiểu cha khác nhiều. Tôi nghĩ tôi có quyền đặt ra với cha vài câu hỏi chứ? Nói cho cùng, cha coi Drogheda như nơi nghỉ ngơi của chạ Trang trại này sẽ tạo điều kiền cho cha làm quen với chăn nuôi và hoàn toàn chỉnh kỹ thuật cỡi ngựa của chạ, tránh những thăng trầm của đời sống ở Gillỵ Dĩ nhiên tất cả những chuyện đó là do sự mời mọc của tôi, nhưng ngược lại tôi có quyền đặt ra một số yêu cầu.

Cha Ralph không thể nào chấp nhận được cái cách mà bà ta nhắc nhở ông là người chịu ơn bà. Nhưng ông đoán biết sẽ có ngày bà ta đánh giá, gây ảnh hưởng, chi phối mình, đủ để có thể đưa ra một số đòi hỏi.

– Đúng thế, bà Carson. Tôi có cảm ơn bà thế nào cũng không đáp lại được sự đón tiếp ở Drogheda và tất cả những ân huệ … nào là ngựa, xe ô tô…

– Cha bao nhiêu tuổi? – bà ta cắt ngang.

– Hai mươi tám.

– Cha trẻ hơn tôi nghĩ. Dù sao người ta không gởi một linh mục như cha vào một nơi như Gillỵ Cha đã làm gì để bị người ta tống về đây, ở tận cùng thế giới?

– Tôi đã nhục mạ giám mục – ông trả lời một cách bình thản, nụ cười trên môi.

– À! Nhưng tôi không thể tưởng tượng một linh mục có tài năng như cha lại có thể vui thích ở cái hóc xó như Gillanbonẹ

– Đó là ý muốn của Chúa.

– Không đúng. Cha đến đây do những sai lầm của con người…, của bản thân cha, và của vị giám mục của chạ Chỉ có Đức Giáo Hoàng là không thể sai lầm mà thôi. Cha hoàn toàn bị tách khỏi môi trường tự nhiên của mình ở Gilly; mọi người đều nhận thấy điều đó, mặc dù tất cả chúng tôi rất sung sướng có được một người như cha; sự kiện này đã mang lại cho chúng tôi một sự thay đổi dễ chịu vì cho đến nay người ta đã gửi đến đây những tên không ra gì lại mặc áo dòng – Cũng không cấm cản cái môi trường tự nhiên của cha ở trong một phòng chờ nào đó đầy quyền lực giáo hội; chớ không phải ở đây giữa ngựa và cừu. Màu đỏ tía Hồng y thật hạp với chạ

– Tôi e rằng đó không phải là vấn đề. Tôi không coi Gillanbone ở đúng ngay trung tâm lãnh thổ dành cho người đại diện của Giáo Hoàng. Tôi may mắn gặp được bà ở tại Drogheda này.

Bà Carson đón nhận lời nịnh hót được tô đậm không khác lắm với sự dự tính của người đã thốt ra. Bà thích thú về vẻ đẹp trai, sự ân cần của vị linh mục có đầu óc sắc bén và tế nhị. Thật ra ông có thể là một Hồng y tuyệt vời. Trong cả đời, bà không nhớ được khi nào đã gặp được một người đàn ông đẹp đến thế hoặc sử dụng cái đẹp của mình một cách tài tình như cha Ralph. ông ta biết rõ sức lôi cuốn của mình: dáng dấp cao, thân mình cân đối, nét thanh và quý phái. Có thể nói mỗi yếu tố của cái đẹp thể xác ấy đều kèm theo sự chăm chút sực kỳ cái bề ngoài mà Chúa chỉ trao cho một số rất ít người. Từ mái tóc đen và mịn, đến màu xanh đáng kinh ngạc của đôi mắt, bàn tay, bàn chân thanh nhã và cân đối, ông ta thật hoàn toàn. Đúng thế, ông ta ý thức rất rõ về vẻ đẹp của mình. Thế nhưng ông ta làm ra vẻ dè dặt như muốn chứng tỏ không bao giờ ông để mình nô lệ với cái bề ngoài đẹp trai ấy. Cũng có thể ông ta sẵn sàng sử dụng sức lôi cuốn của mình để đạt được điều mong muốn không chút ngại ngùng nếu ông xét thấy cần thiết nhưng không hề tự mê hoặc. Bà Mary Carson thiết tha muốn biết điều gì đã đưa đẩy vị linh mục cư xử theo cách đó.

Thật lạ lùng. Có lắm linh mục đẹp như những chàng Adonis trong huyền thoại, cộng thêm sức quyến rũ nhục dục của một Don Jucạ Có phải chăng họ chọ sự độc thân để lánh mình trốn tránh các hậu quả.

– Tại sao cha lại chấp nhận cuộc sống ở Gillanbonẻ Tại sao cha không cởi bỏ áo dòng mà phải theo đuổi một cuộc sống như thế này? Những năng lực trời phú cho phép cha trở nên giàu có và uy quyền… Trước hết, cha đừng nói là cha dửng dưng với ý niệm về quyền lực.

– Bà Carson thân mến, bà là một tín đồ công giáo – ông nói, mày nhíu lại – Bà biết rằng ước nguyện của tôi là thiêng liêng; tôi không thể từ bỏ. Tôi sẽ mãi mãi là linh mục cho đến chết.

Bà ta hít mạnh vào rồi cười ngặt nghẽo.

– Thôi đi, thôi đi! Bộ cha thật sự tưởng rằng nếu cha từ bỏ ước nguyện của mình, cha sẽ bị một cơn sấm chớp, chó và súng đạn rượt đuổi?

– Dĩ nhiên là không. Cũng như tôi không tin bà có thể nghĩ rằng sự sợ hãi bị trừng phạt sẽ giữ tôi lại con đường ngaỵ

– Ồ! Cha đừng dùng những lời lẽ trịnh trọng như thế. Thế thì cái gì ràng buộc chả Cái gì đã buột cha phải chịu đựng ở nơi bụi bặm, nóng bức và đầy mũi mòng như cái xứ Gilly này? Và nhất là cha có thể ở lại đây vĩnh viễn.

Một thoáng suy nghĩ xuất hiện trong đôi mắt màu xanh của vị linh mục nhưng ông lại mỉm cười, nhìn bà Carson thương hại.

– Quả thật bà còn sức sống lắm – ông nói như thì thầm. Tôi đã chọn lựa trở thành linh mục khi còn ở trong nôi. Làm sao tôi có thể giải thích điều đó với một phụ nữ? Phần nào đó tôi là nơi thu nhận, thưa bà Carson, và nhiều lúc, tôi cảm thấy chúng tràn ngập trong tôi. Nếu tôi là một linh mục xứng đáng hơn, sẽ không cần một thời kỳ chuyển tiếp nào. Và cái trạng thái trọn vẹn, sự đồng nhất với Chúa không lệ thuộc ở một nơi nào nhất định, dù tôi ở Gillabone hay giữa các bức tường trong một tòa giám mục, ơn Chúa vẫn đến như nhau. Dĩ nhiên rất khó giải thích vì nó vẫn là điều huyền bí, ngay cả với các linh mục. Có phải chăng chính là thế. Từ bỏ sự thiêng liêng ấy? Tôi không thể từ bỏ được.

– Như vậy, cha giải thích có thể giống như một thứ quyền lực, phải không? Tại sao nó chỉ ban cho các linh mục? Điều gì làm cho cha tin rằng chỉ cần một lần xức dầu thánh trong một buổi lễ dài và mệt mỏi là đủ mang đến điều thiêng liêng ấy cho mọi người?

ông lắc đầu.

– Phải nhiều năm suy nghĩ trước khi được thụ phong, thưa bà Carson. Một tiến triển chậm đưa đến một trạng thái tâm hồn mở ra cho Chúa ngự. Việc thụ phong tự nó xứng đáng và mỗi ngày, chúng ta tỏ ra xứng đáng; đó là mục đích của khánh nguyện, bà thấy không? Không một yếu tố thế tục nào, xen vào giữa người giáo sĩ và thiên hướng của ông ta… kể ca tình yêu của người phụ nữ hay tiền bạc, hoặc sự ghê tởm phải khuất phục trước những mệnh lệnh của những người khác. Sự nghèo khó không phải mới lạ đối với tôi, tôi không xuất thân từ một gia đình giàu có. Tôi chấp nhận sự thanh khiết mà không thấy khó khăn lắm. Còn sự phục tùng? Đối với riêng tôi, đó là điều khó nhất. Nhưng tôi tùng phục vì rằng nếu tôi tự coi mình quan trọng hơn chức năng thừa sai của Chúa thì tôi đã lạc hướng. Tôi phục tùng. Và nếu cần, tôi sẵn sàng chấp nhận Gillanbone suốt đời.

– Như thế thì cha là thằng ngốc – bà Carson vặn lại. Tôi cũng thế, tôi cho rằng có nhiều điều quan trọng hơn là tìm cho mình một nhân tình. Nhưng tự cho mình là nơi Chúa ngự, tôi không coi đó là một trong những điều quan trọng. Tôi không bao giờ nhận ra được rằng cha lại tin ở Chúa với một nhiệt tâm như thế. Tôi nghĩ ở cha cũng có sự hoài nghị

– Ồ, tôi cũng thế thôi! Có con người lý trí nào lại không hoài nghi! Chính vì thế mà có những lúc tôi trở nên trống rỗng. Bà biết không, tôi nghĩ rằng tôi có thể từ bỏ mọi tham vọng, và bóp chết mọi ham muốn để có hy vọng trở thành một linh mục hoàn toàn.

– Sự hoàn toàn dù ở bất cứ lĩnh vực nào cũng không thể chịu được, một thứ buồn chán thảm hại – Bà Carson nhận xét – Riêng tôi, tôi thích và thích hơn nhiều một nét nào đó không hoàn toàn.

Cha Ralph cười, nhìn bà Carson với sự ngưỡng mộ lẫn sự đố kỵ Một người đàn bà đặc biệt.

Sự góa bụa đến với bà cách đây 30 năm và đứa con duy nhất, đứa con trai, đã chết lúc tuổi còn nhỏ. Do hoàn cảnh đặc biết của bà ở giữa Gillanbone, bà đã không nhận lời bất cứ một người đàn ông nào hỏi cưới bà trong số những người nhiều cao vọng nhất mà bà có quan hệ Với tư cách vợ góa của Michael Carson, bà là một bà hoàng không thể chối cãi. Nhưng với tư cách vợ của một gã nào đó bà đành chuyển cả quyền lực của mình cho người mình chọn. Chính vì thế mà bà từbỏ các khoái lạc xác thịt, thích cầm lấy cây gậy quyền hành hơn. Thật khó tưởng tượng được bà ta lấy chồng ở cái xứ Gillanbone này vốn rất thích cái món ngồi lê đôi mách, nói xấu. Thì đã ra sao. Biết đâu bà lại không đi ngược lại cách xử thế lâu nay và trở nên nhân hậu, yếu đuối.

Nhưng bây giờ bà đã khá lớn tuổi và người ta biết rằng bà ở ngoài vòng cám dỗ xác thịt. Khi vị linh mục trẻ tỏ ra cần mẫn trong các nhiệm vụ, bà có thể trả ơn ông bằng những món quà nhỏ, như chiếc ô tộ Cử chỉ đó không hề bị coi là khiếm nhã. Là cột cụ không hề lay chuyển của nhà thờ trong suốt cuộc đời, bà đã giúp cho xứ đạo và người dìu dắt tinh thần đúng như điều nên làm, ngay cả khi cha Kelly say mèm lảo đảo trong khi làm lễ. Bà không phải là người duy nhất quan tâm một cách đặc biệt người thay thế cha Kelly; cha Ralph de Bricassart xứng đáng được lòng tất cả các con chiên nghèo cũng như giàu. Nếu giáo dân ở xa nhất không có khả năng đến gặp ông ở Gillanbone thì ông đến với họ và cho tới khi Mary Carson tặng cho ông chiếc ô tô Daimler, ông di chuyển bằng ngựa. Sự kiên nhẫn và lòng tố của ông khiến cho mọi người đều biết ơn. Một số người yêu mến ông một cách chân thành; chẳng hạn như Martin King ở Bugela đã trang hoàng lại rất tốn kém nhà xứ; Dominique Ó Rourke ở Dibbanđibban trả tiền lương hàng tháng cho người quản gia giỏi giang.

Do đó, đứng trên đài cao của tuổi tác và đơn vị, Mary Carson tự cho phép mình được hưởng mối quan hệ thân mật với cha Ralph mà không hề sợ tai tiếng. Bằng thích tấn công ông bằng trí tuệ, con người mà bà đánh giá ngang mình về mặt này. Bà lấy làm thích thú khi tìm cách xuyên thủng các ý nghĩ thầm kín của cha Ralph bởi vì bà chưa bao giờ tin rằng mình đã hiểu rõ con người này.

Minnie đẩy chiếc bàn có bốn bánh xe nhỏ vào phòng, trên đó đặt trà và bánh ngọt.

Mary Carson trao cho khách bánh galét và lát bánh mì nướng.

– Cha thân mến – bà nói sau một tiếng thở ra – tôi mong cha sẽ cầu nguyện cho tôi với một sự nhiệt tình đặc biệt như sáng naỵ

– Bà hãy gọi tôi là Ralph. Tôi nghi ngờ về khả năng tôi cầu nguyện cho bà với một nhiệt tình cao hơn mọi khị Tuy nhiên tôi sẽ cố gắng.

– Ồ, cha quả là người quyến rũ! Nhưng nhận xét của cha không hồn nhiên như người ta tưởng. Nói chung, tôi không quan tâm đến cái gì đương nhiên có, nhưng ở cha tôi không dám tin chắc rằng điều đập vào mắt thật ra chỉ là cái phần chìm dưới nước của tảng băng; phần nào đó giống như củ cà rốt mà người ta nhử trước con lừa. Thật sự cha nghĩ thế nào về tôi, cha De Bricassart? Tôi sẽ không bao giờ biết được điều đó vì rằng cha là người quá tế nhị phải không? Thật quyến rũ, quyến rũ… Nhưng cha nhớ hãy cầu nguyện cho tôi. Tôi già rồi và phạm nhiều tội lỗi.

Rồi bà Carson cười khúc khích.

– Tôi rất muốn biết được cha đã phạm tội như thế nào? Đúng thế, tôi rất muốn biết. Trong lúc này, tôi đang thiếu một người quản lý.

– Lại thiếu nữa?

– Có tất cả năm người lần lượt làm công việc ấy trong năm quạ Thật khó mà tìm được một người tin cậy.

– Nếu dư luận đồi đãi mà đúng thì rõ ràng bà không phải là một người chủ quảng đại và tốt bụng đối với những người làm công.

– Ồ sao lại ăn nói trâng tráo thế – Mary Carson vừa nói vừa cười – Ai đã tặng cho cha chiếc Daimler mới toanh để cho cha khỏi phải đi ngựa.

– à! Nhưng bà cũng thấy với nhiệt tình của tôi như thế nào khi cầu nguyện cho bà.

– Nếu Michael có được một chút trí tuệ và cá tính của cha, tôi tin rằng tôi đã yêu anh ấy – Bà ta buông câu nói đột ngột, sắc mặt của bà đổi ngay và trở nên cau có. – Có lẽ cha nghĩ rằng tôi không còn một người bà con nào ở trên cõi đời này và tôi buộc phải để lại tiền bạc, đất đai cho Mẹ của giáo hội chúng tả

– Tôi hoàn toàn không biết một tí gì – cha Ralph đáp lại một cách thản nhiên, tay vừa châm trà vào tách.

– Đây nhé, tôi vẫn còn một người em gia đình đông con phần nhiều là con trai.

– Bà quả thật rất may mắn – giọng cha Ralph nghiêm nghị.

– Khi tôi lấy chồng, tôi hoàn toàn không có một tài sản đất đai nào. Lúc đó tôi biết rằng tôi không thể kiếm một tắm chồng khá giả ở Ailen nơi mà một cô gái muốn câu được một ông chồng giàu phải có học và thuộc dòng dõi tiếng tâm. Cho nên tôi đã làm ăn vất vả để dành dụm một số tiền đủ để đi đến một nước khác, ở đó đàn ông giàu có và ít đòi hỏi hơn. Khi đặt chân lên đất này, tôi chỉ biết dựa vào gương mặt dễ coi, vóc dáng và một bộ óc trên trung bình của mình. Như thế tôi đã đóng đinh Michael Carson, một thằng giàu ngu độn. ông ta yêu tôi cho đến hơi thở cuối cùng.

– Còn người em của bà? – Cha Ralph vội vàng hỏi với hy vọng kéo bà ta trở lại đề tài chính.

– Em trai tôi Padraic nhỏ hơn tôi 11 tuổi. Vậy là hắn đã 54 rồi. Chúng tôi là hai kẻ duy nhất của gia đình còn sống sót lại. Tôi biết rất ít về em tôi vì khi tôi rời Galway nó vẫn còn quá nhỏ. Hiện nay em tôi sống ở Tây Tây Lan. Nó đã bỏ xứ ra đi mưu tìm sự nghiệp nhưng lại không thành công. Tối hôm kia lúc một trong những công nhân của tôi đến cho hay tên quản gia Arthur Teviot đã chuồn với bọc quần áo của hắn, tôi chợt nghĩ đến Padraic, một người sống chết với đất đai, nhiều kinh nghiệm nhưng không có điều kiện để trở thành ông chủ. Thế thì tại sao tôi không viết thư cho em tôi và yêu cầu Padraic đưa con cái đến đây làm ăn sinh sống – Tôi đã tự nói với mình, khi tôi chết, sẽ cho nó thừa kế Drogheda và công ty Michael Limited vì nó là bà con gần nhất của tôi, không kể vài người anh em bà con xa xôi còn ở lại Ailen.

Bà cười và nói tiếp:

– Tại sao lại phải chờ đợi? Nó đến ngay bây giờ vẫn tố hơn là khi tôi đã chết. Ngay bây giờ nó có thể làm quen với công việc nuôi cừu trên những cánh đồng đất đen mà theo tôi rất khác xa với các điều kiện ở Tây Tây Lan. Sau đó, khi tôi không còn nữa, nó đã có thể mang đôi ủng của tôi một cách thoải mái

Đầu hơi nghiêng, bà quan sát rất kỹ cha Ralph.

– Tôi tự hỏi tại sao bà không nghĩ đến chuyện này sớm hơn – Ralph chỉ nói thế.

– Ồ, tôi có nghĩ chứ! Tuy nhiên gần đây, tôi muốn tránh bằng mọi giá cái đám kên kên chờ đợi một cách sốt ruột ngày tàn của tôi. Tôi có cảm giác là cái ngày của số mệnh gần kề và tôi tin rằng… Ồ! Tôi không biết. Gía mà cái ngày ấy quanh tôi là những người ruột thịt chắc là những người ruột thịt chắc là tôi sẽ dễ chịu hơn.

– Chuyện gì đã xảy ra, bà đang bệnh? Cha Ralph hỏi dồn đầy lo âu.

– Tôi hoàn toàn khỏe mạnh – Bà Mary Carson nhún vai – Tuy nhiên, vượt qua cái tuối 65 cũng có cái gì đáng lo ngại.

– Tôi hiểu, và bà rất có lý. Chắc hẳn bà muốn được nghe những giọng nói trẻ trung trong ngôi nhà này.

– Ồ, họ không ở đây đâu – Bà Carson kêu lên – Họ sẽ ở tại nhà dành cho quản lý, nằm bên con suối cách đây không xạ Đặc biệt tôi không thích trẻ con, kể cả tiếng nói của chúng.

– Phải chăng làm như thế là keo kiệt với em trai duy nhất của bà?

– Nó sẽ có gia tài… vậy nó phải xứng đáng để được nhận cái gia tài đó! Bà Carson nói một cách sòng phẳng.

Fiona lại sinh thêm một đứa bé trai sáu ngày trước khi Meggie kỷ niệm sinh nhật lần thứ chín. Bà coi đó la điều may mắn sau hai lần sẩy thai. Chín tuổi, Meggie có thể giúp đỡ cho mẹ. Fiona đã bốn mươi – cái tuổi không còn trẻ để sinh con mà không thấy cực nhọc và mất sức. Đứa con trai kém sức khỏe được đặt tên là Harold, và đây là lần đầu tiên bà phải nhờ bác sĩ đến nhà chăm sóc thường xuyên.

Đúng là họa vô đơn chí, biết bao nhiêu khó khăn lại chồng chất lên gia đình Clearỵ Sau chiến tranh thời kỳ phát triển vẫn còn là chuyện xa vời, tệ hơn nữa các miền quê đang bước vào cơn khủng hoảng nên việc làm càng ngày càng khó hơn.

Lão Angus Mac Whirter một hôm mang đến cho gia đình bức điện lúc buổi cơm trưa vừa xong. Hay tay run run. Pađy mở phong thư ra: một bức thư gởi như thế thường không phải là những tin vui. Mấy đứa con trai tụ tập lại quanh ông, chỉ trừ Frank cầm tách trà và rời khỏi bàn ăn. Fiona nhìn theo Frank rồi quay nhìn ông chồng. Pađy lẩm bẩm gì đó.

– Chuyện gì đó hở anh? Bà hỏi chồng đang nhìn tờ giấy và ông trả lời như một tin báo tử.

– Archibald không cần cha con chúng ta – Bob đấm mạnh một cách tức giận xuống bàn. Anh đã quá hy vọng về việc theo tập sự làm thợ cắt long cừu mà khởi đầu là đàn cừu của Archibald.

– Tại sao hắn lại chơi mình một vố đau như vậy hở bả Đáng lẽ ngày mai chúng ta đã bắt đầu.

– Hắn không nêu ra lý do nào cả. Ba đoán chắc một tên vô loại nào đó đã hạ giá thấp để “chặt co” dưới chân chúng tạ

– Ồ, Pađy! Bà vợ thở ra.

Đứa bé mà cả nhà gọi là Hal bắt đầu khóc trong chiếc nôi đặt gần nhà bếp. Fiona chưa kịp quay lại thì Meggie đã nhanh chân đến bên em. Frank vừa trở lại đứng gần cửa, vẫn tách trà trên tay, anh nhìn cha một cách chăm chú.

– Vậy thì bắt buộc tôi phải đi gặp Archibald – Cuối cùng Pađy đã nói như thế – Bây giờ đã quá trễ để đi tìm một chỗ có người thuê cắt lông cừu. Tôi cho rằng hắn phải giải thích với tôi rõ ràng. Chúng ta chỉ còn hy vọng kiếm được công việc vắt sữa cho đến khi đến Willoughly vào tháng bảy.

Trong khi nhìn Meggie thay tã cho em, Frank trêu chọc:

– Một người mẹ nhỏ…

– Ồ, đừng nói thế – Meggie bẻ lại, giận dỗi – Em chỉ giúp mẹ thôi mà…

– Anh biết – Frank gật đầu dễ thương – Em là một cô gái rất tốt, Meggie bé nhỏ của anh.

Nếu không vì Meggie và mẹ, Frank đã dứt khoát rời khỏi ngôi nhà này. Anh nhìn cay độc về phía cha, người trách nhiệm chính về cuộc sống mới có lắm xáo trộn trong gia đình.

Vì đã lớn Frank không bị đuổi ra khỏi nhà lúc mẹ sinh bé Hal, cho nên anh nghe tất cả những tiếng rên la khủng khiếp từ phòng mẹ hôm Hal ra đời. Chưa có một người phụ nữ nào lại chịu một thử thách ghê gớm như thế – anh đã lặp lại câu này cả ngàn lần. Một người đàn ông ích kỷ, không chịu để cho vợ được yên.

Meggie đặt Hal trở vào nôi và đến đứng bên cạnh mẹ. Lại một cô gái mà cuộc đời sau này sẽ vứt đi – Frank chua xót thầm nghĩ. Cũng gương mặt nghiêng nghiêng, sự nhạy cảm có cái gì đó của mẹ trong đôi tay, trong thân hình nhỏ bé của Meggiẹ Cô bé sẽ giống mẹ rất nhiều khi trở thành một phụ nữ. Meggie sẽ lấy ai làm chồng? Một thằng bặm trợn nào khác làm nghề cắt lông cừu người Ailen hay một tên nào đó thô lỗ, dơ dáy, làm mướn tại một hãng sữa ở Wahinẻ Con bé xứng đáng có một người chồng hơn thế nhưng gốc gác gia đình không cho phép Meggie đòi hỏi cao hơn. Tình thế bế tắc, đó là điều mà ai cũng nói đến và mỗi năm như khẳng định thêm lời tuyên án này.

Đoán biết cái nhìn chăm chú của Frank; Fiona và Meggie quay lại, cùng một lúc cả hai cười thật trìu mến, nụ cười mà phụ nữ thường chỉ dành cho người mình yêu thương nhất. Frank đặt tách trà xuống rồi đi ra sân cho chó ăn, anh thèm được khóc hay giết người miễn là làm sao vơi đi sự đau khổ.

Ba ngày sau Pađy nhận được tin buồn từ Archibald thì thư của Mary Carson đến. ông mở thư ngay tại trạm bưu điện Wahine và trở về nhà vui mừng nhảy nhót như một đứa trẻ con.

– Chúng ta sẽ đi úc! ông hét lên, tay giơ cao những tờ giấy trắng mịn đắt tiền trước sự ngơ ngác của gia đình.

Im lặng. Mọi người nhìn ông. Sắc mặt của Fiona lộ nét băn khoăn, Meggie cũng thế, nhưng ánh mắt của mấy đứa con trai thì đầy niềm vui. Mắt Frank sáng chói.

– Nhưng này Pađy, tại sao chị ấy bỗng nhiên nhớ đến anh sau bao nhiêu năm xa cách? – Fiona hỏi chồng sau khi đọc lá thự Từ lâu nay chị ấy vẫn giàu có và vẫn sống cô độc. Thế nhưng có lúc nào bà ấy ngỏ lời giúp đỡ chúng ta đâu.

– Hình như chị ấy sợ chết một mình – Pađy nói để vừa xua đuổi nỗi lo sợ của mình vừa làm yên lòng Fionạ Em có thấy chị ấy nói: chị không còn trẻ và gia đình các em là những người thừa kế của chị. Chị nghĩ rằng chúng ta nên gặp nhau trước khi chị chết và đã đến lúc em tập làm người quản lý của chị, đó là một cách đào tạo tốt. Các con của em đã đến tuổi làm việc, cũng có thể tham gia có hiệu quả vào việc chăn nuôi. Drogheda sẽ trở thành một kiểu làm ăn gia đình, điều khiển bởi gia đình, không cần sự tiếp tay từ bên ngoài.

– Chị ấy không nói gì đến chuyện gởi tiền cho chúng ta đi à?

Pađy ưỡn người lên vàdứt khoát:

– Không bao giờ tôi chịu hạ mình xuống xin xỏ chị ấy! Chúng ta có thể đến úc mà không cần ăn mày tiền của chị ấy. Tôi có một số tiền dành dụm lâu naỵ

– Tôi nghĩ đúng ra chị ấy phải chịu cái khoản chi phí này chứ – Fiona vặn lại không chịu bỏ quạ

Sự bướng bỉnh của Fiona làm ai cũng ngạc nhiên bở lâu nay ít khi Fiona nói năng như vậy.

– Tại sao anh lại từ bỏ cuộc sống của anh tại đây và đi làm việc cho chị ấy chỉ vì tin vào một lời hứa trong thử Chị ấy chưa bao giờ nhúc nhích một ngón tay để giúp chúng ta, tôi không tin ở chị ấy. Tôi nhớ đã nghe chính anh nói về chị ấy tựu chung chị ấy có những ngón tay cong quắp đáng tởm hơn cả bọn người bòn rút từng xụ Anh Pađy à, dù sao thì anh cũng không biết rõ chị ấy; anh và chị ấy cách xa nhau về tuổi, chị ấy đi lúc trước khi anh bắt đầu đi học kia mà.

– Anh thấy điều đó chẳng ăn thua gì. Và nếu chị ấy thuộc loại người bòn rút từng xu, lại càng tốt, vì như thế chẳng qua là chúng ta sẽ được nhiều tiền hơn. Đừng kèo nài nữa Fiona à. Chúng ta sẽ đi úc và chúng ta sẽ tự lo cho chuyến đi ấy.

Fiona không nói thêm một lời. Trên sắc mặt bà không để lộ một nét nào để có thể biết bà bị tổn thương hay không.

– Hoan hô, chúng ta sẽ đi úc! Bob ôm lấy vai cha nói lớn.

Jack, Hughie và Stuart nhảy múa lung tung còn Frank chỉ mỉm cười, mắt nhìn xa xăm. Chỉ có Fiona và Meggie là buồn và lo ngại. Cả hai hy vọng rằng mọi chuyện sẽ không đến đâu vì cuộc sống ở úc chưa chắc sẽ dễ dàng hơn, bên ấy cũng sẽ y hệt như ở đây mà lại thêm sự lạc lõng vì lạ xứ lạ người.

– Gillanbone ở đâu bả – Stuart hỏi.

Một tấm bản đồ thế giới cũ kỹ được đem ra. Mấy đứa con trai mở to mắt nhìn những tờ giấy ngả màu vàng ố cho đến khi phát hiện ra New South Wales, diện tích tương đương với Bắc đảo của Tây Tây Lan. Và kìa Gillabone ở phía trên góc.

– Đây là tấm bản đồ rất cũ, Pađy giải thích. – Úc châu giống như châu Mỹ, phát triển với những bước vĩ đại. Tôi tin chắc rằng cho tới nay đã có nhiều thành phố được xây dựng.

Pađy đi Wanganni để giữ tám chỗ nằm trên tàu thủy Wahine. Phải mang mấy con chó cho hàng xóm, bán rẻ một số bàn ghế, chỉ giữ lại một vài món mà Fiona cần thiết. Chén, dĩa, quần áo, sách vở và dụng cụ nhà bếp đều được đóng thùng mang xuống tàu.

Cuộc hành trình đúng là cơn ác mộng. Trước khi tàu Wahine rời cảng Wellington, tất cả đã say sóng và cứ trong tình trạng đó chịu đựng suốt một ngàn hai trăm hải lý trên mặt biển động với những cơn gió mùa đông.

Bốn tiếng đồng hồ sau khi rời Wellington, Frank và Meggie vẫn luôn ở bên mẹ và em bé, tưởng đâu mẹ mình sắp chết. Người phục vụ trên tàu mời một y sĩ từ những buồng hạng nhất xuống khám Fionạ ông ta đã lắc đầu bi quan.

– Mong sao cho cuộc hành trình sớm kết thúc – Ông ta chỉ nói thế.

Liền đó, ông ra lệnh cho y tá tìm sữa cho đứa bé.

Frank và Meggie vẫn cố gắng cho bé Hal bú nhưng Hal không thiết tha lắm khi bình sữa được đưa vào miệng.

Còn ba tiếng đồng hồ nữa đến Sydney, biển đột ngột phẳng lặng như mặt gương. Meggie bắt đầu tỉnh lại, tưởng tượng rằng chiếc tàu đang rên siết sau những đòn nhừ tử chịu đựng sóng gió.

Meggie không bao giờ quên những tiếng còi buồn bã rú lên trong sương mù, ấn tượng đầu tiên khi đến úc.

Paddy đã bồng Fiona trên tay khi rời tàu Wahine, tiếp theo là Frank với em bé, Meggie với một vali và mỗi đứa con trai bước đi chệnh choạng, lưng còng dước sức nặng của một thứ nào đó. Họ đến Pyrmont – cái tên hoàn toàn vô nghĩa đối với họ – vào một buổi sáng mùa đông đầy sương mù, cuối tháng tám 1921. Một hàng xe tắc-xi nối đuôi nhau đậu trước bến tàu. Mắt Meggie mở to ra, miệng há hốc, đứng nhìn; chưa bao giờ cô bé lại thấy lắm ô tô tập trung lại một nơi như thế. Paddy dồn được cả nhà lên một chiếc taxi. Tài xế gợi ý đưa họ đến khách sạn Cung nhân nhân.

– Nơi này thích hợp nhất cho gia đình ông bạn – Hắn giải thích với Paddy. Đây là một khách sạn dành cho công nhân do những người thuộc Đạo quân cứu thế quản lý.

Các con đường rộng đầy xe, chạy đủ hướng. Có rất ít ngựa. Chóa mắt, họ nhìn ngắm những tòa nhà cao bằng gạch, ngạc nhiên về những bước đi tất bật của khách bộ hành ở Wellington. Thủ đô Tây Tây Lan đã để lại dấu ấn đối với họ nhưng so với Sydney thì nó chỉ như một thị trấn.

Trong khi Fiona nghỉ ngơi ở một trong vô số những phòng của khách sạn được gọi một cách trìu mến Cung nhân dân, Pađy đi đến nhà ga trung tâm để hỏi giờ tàu lửa đi Gillanbone.

Ngay tối hôm đó họ lại lên tàu. Nếu không đi ngay chuyến này họ phải nằm khách sạn thêm một tuần nữa mới có tàu đi Gillanbonẹ Trước khi lên tàu, Pađy đã đánh điện cho Mary Carson báo trước tin họ sẽ đến vào chiều mai.

Pađy tìm được một ngăn trống trên toa tàu hạng ba cho cả gia đình. Những người lên sau ghé đầu vào tìm chỗ đều kinh hãi bỏ đi khi thấy lúc nhúc trẻ con.

Sáng hôm sau, mở choàng mắt ra, họ kinh ngạc và lo âu trước cảnh vật hết sức lạ lùng ngoài sự tưởng tượng. Hóa ra có một nơi như thế này trên trái đất hay sao? Vẫn là những thung lũng nhỏ có vẻ dịu dàng như ở Tây Tây Lan nhưng không có chút gì gợi đến miền đất vừa bỏ đi. Chỉ có màu nâu và màu xám, kẻ cả cây lá! Lúa mì mùa đông đã ngả sang màu bạc pha vàng hung dưới ánh nắng dữ dội của mặt trời. Fiona nhìn cảnh vật không để lộ xúc động còn Meggie thì nước mắt ràn rụa. Thật ghê tởm, mênh mông và không có một dấu vết của màu.

Gillanbone xuất hiện lúc ánh mặt trời sắp tắt. Một sự tập hợp đẹp mắt những căn nhà gỗ với tôn dợn sóng đã cũ. Hai bên con đường chính đầy bụi bặm, không có cây và buồn tẻ. Những tia sáng cuối cùng của mặt trời phủ lên một màu vàng hào nháng, đem lại cho thị trấn cái uy thế ngắn ngủi mờ dần. Gia đình Cleary đứng tại nhà ga mở to mắt nhìn. Nơi đây là một tập hợp dân cư trưng ở ngoài rìa cũng những vùng đất đai khô cằn. Nơi cuối cùng của một vùng còn nhận được những trận mưa không xa lắm về hướng Tây, bắt đầu ba ngàn cây số đất sa mạc.

Một chiếc ô tô lộng lẫy đậu ở sân ga, một linh mục tiến đến gần họ bằng những bước dài mà không cần chú ý đến lớp bụi dày. Chiếc áo dòng dài gợi nhớ hình ảnh của quá khứ; hình như ông không đi trên hai chân như một người bình thường, mà lướt nhẹ như trong một giấc mơ; xung quanh ông bụi tung lên từng đợt.

– Xin mừng tất cả đã đến bình yên, tôi là cha De Bricassart, vừa nói ông vừa đưa tay ra bắt tay Pađỵ Tôi không thể nào lầm, ông đúng là em trai của bà Mary, ông giống bà ấy như hai giọt nước (ông quay sang nắm tay Fiona đưa lên môi với một nụ cước hết sức chân thành. Hơn ai hết, cha Ralph nhận ra ngay, đó là một người phụ nữ đáng kính). Bà rất đẹp – ông nói câu ấy như thể nhận xét vừa rồi của ông là chuyện tự nhiên đối với một linh mục, rồi ông đưa mắt về phía anh em gia đình Cleary đang tập trung ở một góc.

Mắt ông dừng một lúc, ngạc nhiên nhìn Frank bế Hal trên taỵ Phía sau đám con trai, Meggie đứng nhìn cha Ralph, miệng hé mở, tần ngần một chút như vừa chứng kiến sự xuất hiện của Chúa. Không quan tâm đến chiếc áo dòng bằng vải mịn phết xuống đất, ông vượt qua đám con trai đến ngồi trước mặt Meggie đặt hai bàn tay chắc rắn lên tay cô bé như dịu dàng che chở:

– Thế nào! Con tên gì? Cha Ralph hỏi với nụ cười.

– Meggie – cô bé trả lời.

– Em tôi, tên Meghann – Frank xen vào hai mày nhíu lại tỏ vẻ bực mình con người dẹp trai và cao lớn ấy.

– Meghann là cái tên tôi ưa thích (ông đứng dậy nhưng vẫn giữ tay Meggie trong tay mình). Tốt nhất là các bạn đến nghỉ đêm tại nhà xứ, ông vừa nói vừa dẫn Meggie đến xe ô tộ Tôi sẽ đưa các bạn đến Droghela sáng mai; trang trại quá xa nên sau một cuộc hành trình dài bằng tàu hỏa thế này, chúng ta chưa thể đi ngay được chiều naỵ

Khách sạn Hoàng Gia, nhà thờ công giáo, trường học của nhà thờ, tu viện và nhà xứ là những ngôi nhà bằng gạch hiếm hoi ở Gillanbone; tất cả các nhà khác, kể cả trường lớn của thị xã, đều bằng gỗ.

Bây giờ bóng tối đã phủ trùm, trời trở lạnh không thể tưởng tượng; nhưng phòng khách nhà xứ, ngọn lửa của lò sưởi đang cháy và từ một gian kế đó một mùi thơm dịu dàng hấp dẫn thoang thoảng bay quạ Bà quản gia người Scotland da nhăn nheo, miệng luôn nói. Đã quen với sự lạnh nhạt của các linh mục ở Wahine, gia đình Cleary vẫn xa lạ trước vẻ hiền lành chất phác nổi bật ở cha Ralph. Chỉ có Pađy là chậm, không có gì ngạc nhiên vì ông liên tưởng đến lòng nhân hậu của các tu sĩ vùng Galway quê hương của ông vẫn thường có cách đối xử tốt với người nghèo khó. Với ông, tôn giáo là hơi ấm và niềm an ủi; còn với những người khác trong gia đình ông thì tôn giáo là một khái niệm ăn sâu đầy sợ hãi, là sự khép mình vào một cách xử thế chệch ra ngoài nếu muốn tránh bị đày xuống địa ngục.

Khi mọi người đã về phòng, cha Ralph ngả người thoải mái trong chiếc ghế bành, mải mê nhìn ngọn lửa, đốt một điếu thuốc và mỉm cười. Trong đầu ông hiện lại đầy đủ hình ảnh gia đình Cleary, đúng như lần đầu ông đã gặp ở sân gạ Người đàn ông thật giống Mary Carson, nhưng lưng còng vì làm lụng vất vả và rõ ràng không hề có nét thâm hiểm của người chị – Vợ ông ta, đẹp, mỏi mệt, tưởng như vừa bước xuống từ trên chiếc xe sang trọng được kéo bởi những con ngựa trắng. Frank, cau có, mắt đen, thật đen; các đứa con trai khác giống cha, ngoại trừa đứa nhỏ nhất giống mẹ. Stuart, thằng này lớn lên sẽ rất đẹp. Đứa bé còn bồng không thể biết nó sẽ ra sao, và cuối cùng là Meggiẹ

Đây là đứa con gái đẹp và đáng yêu nhất mà ông chưa từng gặp. Màu tóc không thể nào mô tả được, không nâu mà cũng không vàng một sự hòa hợp tuyệt vời của hai màu. Cô bé đã nhìn ông bằng đôi mắt xám ánh lên màu bạc, con người trong suốt óng ánh như những viên ngọc. Nhún vai, ông ném điếu thuốc vào lò sưởi và đứng dậy.

Sáng hôm sau, ông đưa những người khách đi Droghedạ Quen thuộc với cảnh vật dọc đường, bằng những nhận xét của mình, ông gây thích thú cho những người ngồi trên xe. Hôm nay trời nóng bức, như hôm quạ

Tất cả ngồi chiếc Daimler tiện nghi gấp bội tàu hỏa.

– Các con cừu ở đây sẫm quá! Meggie nhận xét buồn bã; ánh mắt mất hút theo những chấm đỏ li ti mà người ta có thể đoán là những cái mũi đang chúi xuống cỏ.

– à, tôi thấy đúng ra nên chọn Tây Tây Lan, linh mục nói. Đó là một xứ giống như ái Nhĩ Lan và nơi các con cừu đều có một màu trắng sữa đẹp.

– Vâng, ở đây giống Tây Tây Lan nhiều thứ – Pađy tiếp lời – Ở đó cũng có một thứ cỏ xanh mướt, nhưng hoang dã hơn.

Pađy có vẻ cảm tình sâu đậm đối với cha Ralph. Đúng lúc đó, những con đà điểu tập hợp thành một đàn đứng phắt chệnh choạng rồi bắt đầu chạy nhanh như gió, chân cao lỏng khỏng rất khó nhìn rõ, cổ dài thẳng lên. Bọn trẻ con nín thở rồi cười rộ lên, thích thú được xem những con chim to lớn chỉ chạy chớ không baỵ

Sau những xúc động mà úc châu nhanh chóng mang đến, trang trại Drogheda xuất hiện, gợi cho họ nhớ đến một phần Tây Tây Lan với tiền sảnh của tòa nhà theo kiểu thời vua George, những cây đậu chổi um tùm và hàng ngàn cây hồng.

– Mình sẽ ở đây à? Meggie hỏi.

– Không hoàn toàn đúng như thế – Linh mục lên tiếng rất mau – Ngôi nhà mà các bạn đến ở cách đây một kilomet rưỡi, phía dưới thấp một chút, cạnh bên con suối.

Mary Carson chờ họ trong phòng khách rộng thênh thang. Bà không có một động tác nào để đón em trai mình; Pađy phải đến chỗ bà đang ngồi.

– Thế nào, Pađỷ Bà hỏi nhỏ nhẹ nhưng mắt bà liếc nhìn qua phía cha Ralph đang bế Meggie trên tay, hai cánh tay cô bé choàng lấy cổ chạ Mary Carson đứng dậy một cách nặng nề, không chào Fiona hoặc bất cứ ai.

– Chúng ta sẽ xem lễ tức thời, bà nói. Tôi biết chắc cha Ralph rất nóng lòng đi ngaỵ

– Không đâu bà Mary thân mến (ông cười, mắt long lanh). Tôi sẽ làm lễ, rồi tất cả chúng ta sẽ dùng chung một buổi cơm trưa ngon miệng và sau đó tôi sẽ chỉ cho Meggie cái nhà sẽ ở như tôi đã hứa với cô bé.

– Meggiẻ Mary Carson ngạc nhiên.

– Vâng, đây là Meggiẹ Nhưng chúng ta đã làm quen không đúng trình tự của nó, tôi xin giới thiệu cho đúng. Bà Mary, tôi xin giới thiệu Fionạ

Mary Carson bày tỏ sự đồng ý bằng một cái gật đầu gọn lỏn và sau đó không chú ý đến mấy cậu con trai mà cha Ralph lần lượt gọi tên. Bà quá chăm chú quan sát linh mục và Meggiẹ

Nơi ở dành cho người quản lý được xây theo kiểu nhà sàn bên cạnh con suối hẹp khoảng mười mét với hàng bạch đàn hai bên bờ. So với sự nguy nga của tòa nhà bà Mary Carson, ngôi nhà có vẻ trơ trọi nhưng nó cũng đủ những tiện nghi như căn nhà ở Tây Tây Lan. Đồ đạc bày biện trong nhà theo kiểu thời Victoria, bên trên phủ một lớp bụi mỏng.

– Các bạn rất may mắn, có một phòng tắm trong nhà, linh mục dẫn đường phía trước vừa đi vừa giải thích. Nhà xây trên các cọc khá cao vì vào mùa còn suối lớn ra đột ngột, mực nước lên rất cao, tôi nghe nói, có lần lên cao đến 17 mét trong một đêm.

– Người ở nhà này trước đây không được sạch sẽ lắm – Fiona nhận xét mấy ngón tay chạm vào lớp bụi phủ trên tủ buýt-phệ

Cha Ralph cười to lên.

– Đừng có mong tẩy sạch lớp bụi này – ông giải thích – Nơi chúng ta ở thuộc vùng bên trong và có ba thứ mà bà sẽ phải chịu: sự nóng bức, bụi và ruồi. Dù bà có làm gì đi nữa cũng không đổi khác được.

– Cha rất tốt đối với chúng tôi – Fiona nhìn linh mục nói.

– Cũng là chuyện bình thường thôi, hai ông bà là những bà con duy nhất của người bạn tốt của tôi, bà Mary Carson.

Không để xúc động, Fiona nhún vai.

– Tôi không quen duy trì những quan hệ thân thuộc với các linh mục. Các linh mục ở Tây Tây Lan không can dự vào việc riêng của các con chiên.

– Bà không phải là người theo đạo công giáo?

– Pađy theo đạo công giáo – Dĩ nhiên, con cái cũng được dạy dỗ theo tôn giáo của anh ấy. Tất cả, cho đến đứa cuối cùng…

– Có phải vì thế mà bà không vừa lòng?

– Với tôi hoàn toàn không thành vấn đề.

– Bà đã được.

– Tôi không phải là kẻ đạo đức giả, thưa cha De Bricassart. Tôi đã mất đức tin đối với chính tôn giáo của tôi và tôi không mong muốn theo một tôn giáo khác cũng hoàn toàn vô nghĩa đối với tôi.

– Tôi hiểu.

Cha Ralph quan sát Meggie đang đứng ngoài hiên trước nhà và nhìn ra con đường dẫn đến tòa nhà lớn Droghelạ

– Con gái của bà đẹp quá. ông lại nói. Tôi vẫn đặc biệt thích mái tóc màu vàn vơnidợ Màu tóc ấy của cô bé sẽ khiến ngay cả danh họa Le Titien cũng chạy tìm bút vẽ. Tôi chưa từng thấy màu tóc như thế bao giờ, có phải đó là con gái duy nhất của bà?

– Vâng. Cứ toàn là con trai, trong gia đình của Pađy và của tôi cũng thế. Con gái rất hiếm.

– Tội nghiệp cô bé, ông nói thầm, nhưng chẳng hiểu tại sao.

 

 

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: