The Alchemist (Chapter 11)

Nhà Giả Kim

Paulo Coelho

Chương 11

46

Ngày thứ hai cậu leo lên đỉnh một khối đá gần khu trại. Lính gác để cậu đi; họ đã nghe nói về một phù thủy có khả năng biến thành gió nên không muốn đến gần cậu. Hơn nữa sa mạc như một bức tường thành không thể vượt nổi. Cậu ngồi đó mãi cho đến chiều, nhìn ra sa mạc và lắng nghe trái tim mình. Cả sa mạc cũng lắng nghe nỗi sợ của cậu. Trái tim cậu và sa mạc vốn nói cùng một thứ ngôn ngữ.

47

Sang ngày thứ ba viên chỉ huy triệu tập các sĩ quan của mình.

Hắn gọi nhà luyện kim đan đến rồi nói: “Chúng ta ra xem gã kia biến thành gió như thế nào”.

“Rồi khắc biết”, nhà luyện kim đan đáp.

Cậu dẫn họ đến khối đá hôm qua, yêu cầu mọi người ngồi đó

“Phải đợi khá lâu đấy”, cậu nói

“Đâu có gì vội”, viên chỉ huy đáp. “Chúng ta là dân sa mạc mà”.

48

Cậu nhìn quanh mình. Xa xa phía chân trời kia là núi, đồi cát, đá tảng và các bụi cây leo. Ở một nơi như không thể nào có nổi sự sống mà cây cỏ vẫn cố bám vào đó để sống. Sa mạc này cậu đã đi qua nhiều tháng ròng, thế mà chỉ biết có một phần rất nhỏ của nó. Trong thời gian này cậu đã gặp một người Anh, thấy nhiều đoàn lữ hành, một ốc đảo với năm chục nghìn cây chà là và ba trăm giếng nước; cậu cũng đã chứng kiến cuộc xung đột giữa các bộ tộc.

“Sao bữa nay bạn còn đến đây?” Sa mạc hỏi cậu. “Hôm qua chẳng lẽ mình nhìn nhau chưa đủ à?”

“Bạn giữ người tôi yêu ở một nơi nào đó”, cậu đáp. “Cho nên nhìn ngắm biển cát trải dài vô tận của bạn cũng là ngắm nhìn nàng. Tôi muốn quay về với nàng nên cần bạn giúp tôi biến thành gió”.

“Yêu nghĩa là gì?” Sa mạc hỏi

“Yêu giống như khi chim ưng bay trên biển cát của bạn. Bởi vì đối với chim thì bạn là một cánh đồng xanh màu mỡ và nó chẳng bao giờ quay về mà không săn được gì. Nó rành rẽ các tảng đá, các đồi cát, núi non của bạn, còn bạn thì hào phóng đối với nó”.

“Nó cướp đoạt của tôi thì có”, sa mạc đáp. “Tôi nuôi những con mồi của nó nhiều năm ròng, cho chúng uống số nước ít ỏi tôi có được rồi tôi lại chỉ cho nó con mồi ở đâu. Một ngày kia, khi tôi đang vui sướng thấy con mồi của nó chập chững đi trên bãi cát của tôi thì nó từ trên bầu trời cao bổ xuống, cướp đi công trình tôi đã nuôi”.

“Nhưng bạn nuôi những con mồi cũng chính vì mục đích ấy thôi”, cậu đáp. “Để nuôi chim ưng, rồi chim ưng nuôi người. Và cuối cùng, đến một ngày nào đó con người nuôi lại bãi cát của bạn để các con mồi lại lớn lên. Đó chính là sự vận động của vũ trụ.”

“Yêu là thế à?”

“Phải, yêu là thế đấy. Nó biến con mồi thành chim ưng, chim ưng thành người, rồi đến lượt người biến thành sa mạc. Nó biến chì thành vàng rồi đưa vàng trở về với lòng đất”.

“Tôi chẳng hiểu bạn nói gì cả”, sa mạc nói.

“Nhưng ít ra bạn cũng hiểu được rằng ở một nơi nào đó giữa các đồi cát của bạn có một cô gái đang mong đợi tôi. Chính vì thế mà tôi phải biến thành gió”.

Sa mạc làm thinh một lúc rồi mới nói với cậu: “Tôi sẽ cho bạn cát để gió thổi, nhưng một mình tôi thì chẳng làm gì được đâu. Bạn phải yêu cầu gió mới giúp được”.

Một làn gió nhè nhẹ nổi lên. Những người Arập quay nhìn cậu; họ không hiểu thứ tiếng cậu nói đó. Nhà luyện kim đan mỉm cười. Gió mơn man khuôn mặt cậu. Nó nghe được những gì cậu nói với sa mạc, vì gió biết hết mọi chuyện. Nó đi khắp thế giới nhưng không có chỗ nào là khởi điểm, cũng không có nơi nào để gió dừng lại vĩnh viễn.

“Giúp tôi với”, cậu nói. “Mới gần đây bạn đã đem đến cho tôi giọng nói của người tôi yêu”.

“Ai dạy bạn nói tiếng nói của sa mạc và gió?”

“Trái tim tôi đấy”, cậu đáp.

Gió có rất nhiều tên. Ở vùng này người Arập gọi nó là Sirocco và tin rằng nó mang hơi ẩm từ vùng đất ngập nước, nơi cư trú của người da đen; ở vùng đất xa xôi quê hương của cậu người ta gọi nó là Lavante, vì cho rằng nó mang theo cát sa mạc và tiếng thét xung trận của người Mauren; còn ở những vùng xa nữa, phía sau những đồng cỏ cậu vẫn thả cừu, thì người ta cho rằng gió đến từ Andalusia. Nhưng đúng ra gió chẳng đến từ một nơi nào cả, cũng chẳng đi đâu hết; vì thế mà nó mạnh hơn cả sa mạc. Một ngày nào đó có thể sẽ có người trồng được cây trên sa mạc, thậm chí nuôi được cừu ở đó nữa, nhưng sẽ không ai khống chế được gió.

“Bạn không thể thành gió được, vì thể chất chúng mình khác nhau hoàn toàn”, gió nói.

“Không đúng”, cậu đáp. “Trên đường đi, tôi đã học được những bí mật của thuật luyện kim đan. Trong người tôi tập hợp đủ cả gió, sa mạc, đại dương, sao trời và mọi thứ trong vũ trụ. Chúng ta đều cùng do một bàn tay tạo ra và có cùng một linh hồn. Tôi muốn được như bạn, có thể đến khắp mọi ngóc ngách, vượt biển cả, thổi bay lớp cát che phủ kho báu của tôi và đem đến đây tiếng nói của người con gái tôi yêu”.

“Mấy hôm trước tôi có nghe bạn trò chuyện với nhà luyện kim đan”, gió nói. “Ông bảo mỗi sự vật đều có vận mệnh riêng. Con người không thể biến thành gió được”.

“Bạn hãy dạy tôi cách biến thành gió một vài khoảnh khắc thôi; như thế bạn và tôi có thể chuyện trò và khả năng vô hạn của người và gió”, cậu nói.

Gió thêm hiếu kì; đó là điều chưa từng có. Nó muốn chuyện trò tiếp về những chuyện ấy nhưng không biết phải biến người thành gió ra sao. Thế mà nó vốn làm được khối chuyện cơ đấy! Tạo nên sa mạc này, đánh chìm tàu này, đốn ngã biết bao khu rừng này, thổi qua các thành phố lớn đầy âm nhạc và những âm thanh lạ này. Nó nghĩ rằng mình làm được hết rồi, thế mà một gã trai bảo rằng vẫn còn bao chuyện khác nữa gió có thể làm được.

“Cái đó gọi là tình yêu”, cậu nói khi thấy gió sắp xiêu lòng. “Khi yêu, người ta có thể tạo dựng nên tất cả. Khi yêu thì không cần phải hiểu chuyện gì đang xảy ra vì mọi sự diễn ra trong chính mình. Khi yêu thì ngay cả người cũng có thể biến thành gió được. Tất nhiên phải được gió giúp sức”.

Gió vốn tự cao nên không hài lòng khi nghe cậu nói. Nó bèn thổi mạnh hơn làm cát bay mù. Nhưng rồi nó phải thừa nhận rằng tuy vẫn đi khắp thế giới thật nhưng cũng không biết làm thế nào để biến được người thành gió, và cũng chẳng biết gì về tình yêu cả.

“Trên đường vòng quanh thế giới tôi thường được nghe người ta nhìn lên trời, nói về tình yêu”, gió điên tiết nhìn nhận khả năng hạn chế của mình.

“Có lẽ bạn nên hỏi trời xanh kia xem sao”

“Được, bạn hãy giúp tôi bằng cách tung đầy cát vào không khí, che khuất mặt trời để tôi nhìn thấy mặt trời mà không sợ mù mắt”, cậu đáp.

Gió bèn phùng má thổi. Một đám mây cát che kín bầu trời và mặt trời trông chỉ như cái đĩa vàng. Ở doanh trại người ta không nhìn thấy gì nữa cả. Những người dân sa mạc đã quá quen với thứ gió mà họ gọi là Samum này. Đối với họ thì nó còn ghê gớm hơn bão tố trên biển cả, dù họ không biết biển là gì. Ngựa hí vang, khí giới phủ đầy cát.

Trên mỏm khối đá, một viên sĩ quan quay sang nói với viên chỉ huy: “Có lẽ mình nên chấm dứt thôi!”

Họ không còn có thể nhìn thấy cậu nữa. Mặt họ che bằng khăn màu xanh chỉ để lộ những cặp mắt kinh hoàng.

“Chấm dứt thôi”, một người khác nói.

“Tôi muốn được chứng kiến sự vĩ đại của Allah”, giọng viên chỉ huy đầy thành kính. “Tôi muốn được thấy người biến thành gió như thế nào”.

Nhưng hắn ghi nhớ tên hai người vừa tỏ ra sợ hãi kia. Khi lặng gió hắn sẽ cách chức họ vì đàn ông sa mạc không được phép biết sợ là gì.

“Gió bảo tôi rằng bạn biết về tình yêu”, cậu nói với mặt trời. “Nếu đúng thế thì bạn cũng phải biết về tâm linh vũ trụ vốn được hình thành từ tình yêu”.

“Từ trên cao này”, mặt trời đáp, “tôi có thể trông thấy tâm linh vũ trụ. Chúng tôi vẫn cùng hợp lực làm cho cây cỏ lớn lên, khiến cừu biết tìm bóng mát. Từ chỗ này của tôi – xa mặt đất lắm nhé – tôi học được cách yêu. Tôi biết rằng chỉ cần mình xích lại gần mặt đất một chút xíu thôi cũng đủ khiến mọi vật bị hủy diệt và tâm linh vũ trụ cũng không tồn tại được nữa. Cho nên hai chúng tôi thân ái nhìn ngắm nhau; tôi cống hiến ánh sáng và hơi ấm còn nó cho tôi lẽ sống.”

“Vậy là bạn biết về tình yêu rồi”, cậu nói

“Tôi biết rõ cả tâm linh vũ trụ vì chúng tôi trò chuyện cùng nhau rất nhiều suốt cuộc hành trình bất tận trong vũ trụ. Tâm linh vũ trụ bảo rằng khó khăn lớn nhất của nó là cho tới nay chỉ có thú vật và cây cỏ hiểu được tất cả là một, rằng thật ra sắt chẳng cần gì phải giống như đồng hay đồng giống như vàng. Mỗi loại cứ làm tròn nhiệm vụ của mình thì tất cả sẽ cùng làm thành một bản giao hưởng của hòa bình – nếu như bàn tay đã viết tất cả những điều này ngừng lại vào ngày sáng thế thứ năm. Nhưng mà còn ngày thứ sáu nữa”, mặt trời nói.

“Bạn sáng suốt lắm, bởi vì bạn quan sát sự vật từ xa”, cậu nói. “Nhưng bạn không biết về tình yêu. Nếu không có ngày thứ sáu thì sẽ không có con người, đồng sẽ mãi là đồng, chì chỉ là chì. Đúng là mọi thứ có vận mệnh của nó và sẽ có một ngày vận mệnh hoàn thành. Rồi mỗi sự vật chuyển hóa thành tốt hơn, mang vận mệnh mới cho đến khi tâm linh vũ trụ chỉ còn là một tổng thể duy nhất”.

Mặt trời trầm ngâm một lúc rồi chiếu sáng hơn nữa. Gió rất thú vị với cuộc trò chuyện nên ra sức thổi mạnh hơn để mặt trời khỏi làm mù mắt cậu.

“Chính vì thế mà có thuật luyện kim đan”, cậu nói. “Để rồi ai cũng mơ ước tìm kiếm kho báu của mình, rồi muốn được khá hơn kiếp trước. Chì sẽ giữ vai trò của nó cho đến khi thế giới không cần chì nữa, thế là chì sẽ phải biến thành vàng. Đó chính là việc của các nhà luyện kim đan. Họ cho thấy khi chúng ta ra sức tự hoàn thiện thì mọi sự vật quanh ta cũng hoàn mĩ theo”.

“Vậy tại sao bạn bảo tôi không biết về tình yêu?” Mặt trời hỏi cậu.

“Vì tình yêu không tĩnh tại như sa mạc, cũng không lang thang cùng khắp thế giới như gió, cũng không phải đứng từ xa nhìn sự vật như bạn vậy. Tình yêu là sức mạnh làm chuyển biến và nâng tâm linh vũ trụ lên cao hơn nữa. Lần đầu tiên, khi nhập vào tâm linh vũ trụ, tôi tưởng nó là tuyệt mĩ rồi. Về sau tôi mới biết nó là phản ảnh của tạo vật, nghĩa là cũng mang trong nó chiến tranh và đam mê. Chúng ta nuôi dưỡng tâm linh vũ trụ, và thế giới của chúng ta trở nên tốt hay xấu hơn tùy theo bản thân chúng ta tốt hay xấu hơn. Ở điểm này mới thấy được vai trò sức mạnh của tình yêu, vì khi yêu chúng ta cố trở nên tốt hơn”

“Bạn muốn gì ở tôi?” Mặt trời hỏi

“Tôi muốn bạn giúp tôi biến thành gió”, cậu đáp

“Thiên nhiên công nhận tôi là tạo vật, sáng suốt nhất trong muôn loài”, mặt trời đáp.

“Nhưng tôi không biết cách biến bạn thành gió”

“Vậy tôi phải hỏi ai?” Mặt trời ngẫm nghĩ một lúc.

Ngọn gió kia đang lắng nghe và nhất định sẽ đi rêu rao cùng khắp rằng khả năng của mặt trời cũng hạn chế thôi. Mặt trời không dễ thoát khỏi cái anh chàng nói thứ ngôn ngữ vũ trụ này.

“Bạn hãy hỏi bàn tay đã ghi chép lên mọi sự”, mặt trời đáp.

Gió reo mừng thổi mạnh hơn bao giờ hết, cuốn tung các mái lều, giật đứt dây ngựa buộc. Trên đỉnh tảng đá những người Arập ôm chặt lấy nhau để khỏi bị thổi bay đi. Cậu hướng lòng mình về cái bàn tay đã ghi chép mọi sự. Cậu cảm thấy vũ trụ nín lặng nên cũng nín lặng luôn. Tình yêu trào dâng từ trái tim cậu; lần đầu tiên trong đời cậu lẩm nhẩm một bài kinh không lời, không có cầu xin. Cậu không cám ơn vì lũ cừu đã tìm ra đồng cỏ mượt, không cầu xin bán được nhiều hàng pha lê hơn nữa, hay cầu xin để người con gái cậu yêu chờ đợi cậu trở về. Trong sự yên ắng cậu hiểu rằng sa mạc, gió và mặt trời cũng đang cố hiểu những dấu hiệu được vẽ lên từ bàn tay nọ để tìm ra con đường của mình và để hiểu những gì đã khắc trên phiến ngọc. Cậu biết rằng những dấu hiệu này rải rác trên mặt đất và khắp vũ trụ; nhìn bề ngoài thì chúng chẳng cho thấy một ý nghĩa nào cả nên sa mạc, gió, mặt trời và con người không biết những dấu hiệu ấy được tạo ra để làm gì. Chỉ có bàn tay nọ biết căn nguyên của mọi điều và chỉ riêng nó làm được những phép lạ như thành gió. Bởi bàn tay đó thấu hiểu rằng có một lực siêu phàm đã xoay vần vũ trụ tới mức sáu ngày sáng thế chuyển hóa thành Công trình vĩ đại. Cậu nhập vào tâm linh vũ trụ và nhận biết rằng nó là một phần linh hồn Hóa công và linh hồn Hóa công là linh hồn của chính cậu. Như thế tự cậu cũng có thể làm được phép lạ.

49

Ngày hôm ấy ngọn gió Samum thổi dữ dội chưa từng thấy. Nhiều đời sau người Arập sẽ còn kể về huyền thoại một chàng trai đã không khiếp nhược trước viên chiến tướng sa mạc và đã hoá thành gió, phá hầu như tan hoang cả một doanh trại. Khi lặng gió mọi người nhìn về phía cậu ngồi, nhưng cậu không còn ở chỗ cũ nữa mà đang đứng cạnh môt người lính canh bị cát vùi lấp, tuốt phía bên kia doanh trại. Mọi người khiếp đảm trước trò quỷ thuật này. Nhưng vẫn có hai người cười, đó là nhà luyện kim đan vì ông đã tìm ra được một học trò xuất sắc và viên chỉ huy, vì hắn đã được chứng kiến quyền năng tuyệt vời của Thượng Đế. Hôm sau, viên chỉ huy từ giã nhà luyện kim đan và cậu rồi cho một đoàn lính tháp tùng hai người tới bất kì nơi nào họ muốn.

50

Sau khi đã đi suốt ngày, chiếu tối họ tới được một tu viện Côptic. Nhà luyện kim đan bảo đoàn tháp tùng quay về rồi xuống ngựa.

“Từ đây cậu có thể tự mình đi tiếp được rồi đấy”, ông nói. “Chỉ cần ba tiếng nữa là tới Kim Tự Tháp”.

“Cám ơn ông đã dạy cháu ngôn ngữ vũ trụ”, cậu đáp.

“Ta chỉ gợi cho cậu nhớ lại những gì cậu đã biết từ trước thôi”. Nhà luyện kim đan gõ cổng tu viện.

Một tu sĩ mặc toàn đen ra mở cửa. Họ nói với nhau mấy câu bằng tiếng Côptic rồi nhà luyện kim đan bảo cậu vào.

“Ta vừa mới yêu cầu tu sĩ nọ cho phép sử dụng cái bếp một lúc”, ông nói.

Họ đi vào bếp. Nhà luyện kim đan nhóm lửa còn tu sĩ nọ lo mang chì đến để nhà luyện kim đan nấy chảy trong một thùng sắt. Khi chì đã hóa lỏng, nhà luyện kim đan móc túi ra quả trứng lạ lùng bằng thủy tinh màu vàng. Ông cạo một chút, mảnh như sợi tóc, lấy sáp bọc lại rồi bỏ vào thùng. Chất lỏng biến thành đỏ như máu. Rồi ông bưng thùng khỏi bếp, để nguội. Trong khi chờ đợi ông trò chuyện với người tu sĩ về cuộc xung đột giữa các bộ lạc.

“Sẽ còn kéo dài lâu”, ông nói.

Người tu sĩ tỏ vẻ bực dọc. Từ lâu nay các đoàn lữ hành đã phải nằm ở Gizeh chờ cuộc xung đột kết thúc.

“Nhưng rồi đâu cũng sẽ vào đấy, như ý Thượng Đế muốn cả thôi”, tu sĩ nói.

“Đúng thế”, nhà luyện kim đan đáp.

Khi thùng nguội, người tu sĩ và cậu nhìn vào mà kinh ngạc. Chì đã khô lại dưới đáy thùng hình tròn, song không phải là chì nữa mà là vàng.

“Một ngày nào đó cháu cũng sẽ làm được như vậy chứ?” Cậu hỏi

“Đó là vận mệnh của ta chứ không phải của cậu”, nhà luyện kim đan đáp. “Ta làm chỉ để cho cậu thấy rằng có thể làm được”.

Rồi ông chia chỗ vàng đó làm bốn phần.

“Để cám ơn thầy”, ông nói và đưa tu sĩ một phần.

“Thế là quá nhiều so với những gì tôi đã làm”, tu sĩ nói.

“Thầy chớ nói thế nữa, kẻo Đời nghe thấy thì lần tới thầy sẽ được ít hơn đấy”.

Rồi ông quay sang cậu.

“Phần này để đền cậu số tiền đã trả cho viên tư lệnh”.

Cậu muốn nói rằng như thế là quá nhiều so với số tiền nọ song lại thôi, vì vừa được nghe những gì nhà luyện kim đan nói với người tu sĩ.

“Phần này tôi giữ”, ông nói và cất đi. “Vì tôi còn phải vượt sa mạc và vùng có chiến sự để về nhà”.

Phần thứ tư ông đưa cho tu sĩ “Phần này để phòng khi cậu nhỏ đây cần đến”.

“Nhưng mà cháu sắp tìm thấy kho báu rồi còn gì”, cậu đáp

“Ta tin rằng cậu sẽ tìm thấy”, nhà luyện kim đan nói

“Vậy phần cháu thêm làm gì nữa?”

“Vì cậu đã hai lần mất sạch: một lần bị gã lưu manh bịp, một lần trả thù cho viên chỉ huy nọ. Ta là một lão già Arập mê tín, tin vào châm ngôn nước mình. Châm ngôn đó như thế này: “Những gì đã xảy đến với anh một lần có thể không bao giờ xảy ra nữa; nhưng những gì đã xảy ra hai lần thì nhất định sẽ thêm lần thứ ba”.

Rồi họ lại lên ngựa.

The Alchemist

by Paulo Coelho

Chapter 11

On the second day, the boy climbed to the top of a cliff near the camp. The sentinels allowed him to go; they had already heard about the sorcerer who could turn himself into the wind, and they didn’t want to go near him. In any case, the desert was impassable.

He spent the entire afternoon of the second day looking out over the desert, and listening to his heart. The boy knew the desert sensed his fear. They both spoke the same language.

*

On the third day, the chief met with his officers. He called the alchemist to the meeting and said, “Let’s go see the boy who turns himself into the wind.”

“Let’s,” the alchemist answered.

The boy took them to the cliff where he had been on the previous day. He told them all to be seated.

“It’s going to take a while,” the boy said.

“We’re in no hurry,” the chief answered. “We are men of the desert.”

The boy looked out at the horizon. There were mountains in the distance. And there were dunes, rocks, and plants that insisted on living where survival seemed impossible. There was the desert that he had wandered for so many months; despite all that time, he knew only a small part of it. Within that small part, he had found an Englishman, caravans, tribal wars, and an oasis with fifty thousand palm trees and three hundred wells.

“What do you want here today?” the desert asked him. “Didn’t you spend enough time looking at me yesterday?”

“Somewhere you are holding the person I love,” the boy said. “So, when I look out over your sands, I am also looking at her. I want to return to her, and I need your help so that I can turn myself into the wind.”

“What is love?” the desert asked.

“Love is the falcon’s flight over your sands. Because for him, you are a green field, from which he always returns with game. He knows your rocks, your dunes, and your mountains, and you are generous to him.”

“The falcon’s beak carries bits of me, myself,” the desert said. “For years, I care for his game, feeding it with the little water that I have, and then I show him where the game is. And, one day, as I enjoy the fact that his game thrives on my surface, the falcon dives out of the sky, and takes away what I’ve created.”

“But that’s why you created the game in the first place,” the boy answered. “To nourish the falcon. And the falcon then nourishes man. And, eventually, man will nourish your sands, where the game will once again flourish. That’s how the world goes.”

“So is that what love is?”

“Yes, that’s what love is. It’s what makes the game become the falcon, the falcon become man, and man, in his turn, the desert. It’s what turns lead into gold, and makes the gold return to the earth.”

“I don’t understand what you’re talking about,” the desert said.

“But you can at least understand that somewhere in your sands there is a woman waiting for me. And that’s why I have to turn myself into the wind.”

The desert didn’t answer him for a few moments.

Then it told him, “I’ll give you my sands to help the wind to blow, but, alone, I can’t do anything. You have to ask for help from the wind.”

A breeze began to blow. The tribesmen watched the boy from a distance, talking among themselves in a language that the boy couldn’t understand.

The alchemist smiled.

The wind approached the boy and touched his face. It knew of the boy’s talk with the desert, because the winds know everything. They blow across the world without a birthplace, and with no place to die.

“Help me,” the boy said. “One day you carried the voice of my loved one to me.”

“Who taught you to speak the language of the desert and the wind?”

“My heart,” the boy answered.

The wind has many names. In that part of the world, it was called the sirocco, because it brought moisture from the oceans to the east. In the distant land the boy came from, they called it the levanter, because they believed that it brought with it the sands of the desert, and the screams of the Moorish wars. Perhaps, in the places beyond the pastures where his sheep lived, men thought that the wind came from Andalusia. But, actually, the wind came from no place at all, nor did it go to any place; that’s why it was stronger than the desert. Someone might one day plant trees in the desert, and even raise sheep there, but never would they harness the wind.

“You can’t be the wind,” the wind said. “We’re two very different things.”

“That’s not true,” the boy said. “I learned the alchemist’s secrets in my travels. I have inside me the winds, the deserts, the oceans, the stars, and everything created in the universe. We were all made by the same hand, and we have the same soul. I want to be like you, able to reach every corner of the world, cross the seas, blow away the sands that cover my treasure, and carry the voice of the woman I love.”

“I heard what you were talking about the other day with the alchemist,” the wind said. “He said that everything has its own destiny. But people can’t turn themselves into the wind.”

“Just teach me to be the wind for a few moments,” the boy said. “So you and I can talk about the limitless possibilities of people and the winds.”

The wind’s curiosity was aroused, something that had never happened before. It wanted to talk about those things, but it didn’t know how to turn a man into the wind. And look how many things the wind already knew how to do! It created deserts, sank ships, felled entire forests, and blew through cities filled with music and strange noises. It felt that it had no limits, yet here was a boy saying that there were other things the wind should be able to do.

“This is what we call love,” the boy said, seeing that the wind was close to granting what he requested. “When you are loved, you can do anything in creation. When you are loved, there’s no need at all to understand what’s happening, because everything happens within you, and even men can turn themselves into the wind. As long as the wind helps, of course.”

The wind was a proud being, and it was becoming irritated with what the boy was saying. It commenced to blow harder, raising the desert sands. But finally it had to recognize that, even making its way around the world, it didn’t know how to turn a man into the wind. And it knew nothing about love.

“In my travels around the world, I’ve often seen people speaking of love and looking toward the heavens,” the wind said, furious at having to acknowledge its own limitations. “Maybe it’s better to ask heaven.”

“Well then, help me do that,” the boy said. “Fill this place with a sandstorm so strong that it blots out the sun. Then I can look to heaven without blinding myself.”

So the wind blew with all its strength, and the sky was filled with sand. The sun was turned into a golden disk.

At the camp, it was difficult to see anything. The men of the desert were already familiar with that wind. They called it the simum, and it was worse than a storm at sea. Their horses cried out, and all their weapons were filled with sand.

On the heights, one of the commanders turned to the chief and said, “Maybe we had better end this!”

They could barely see the boy. Their faces were covered with the blue cloths, and their eyes showed fear.

“Let’s stop this,” another commander said.

“I want to see the greatness of Allah,” the chief said, with respect. “I want to see how a man turns himself into the wind.”

But he made a mental note of the names of the two men who had expressed their fear. As soon as the wind stopped, he was going to remove them from their commands, because true men of the desert are not afraid.

“The wind told me that you know about love ” the boy said to the sun. “If you know about love, you must also know about the Soul of the World, because it’s made of love.”

“From where I am,” the sun said, “I can see the Soul of the World. It communicates with my soul, and together we cause the plants to grow and the sheep to seek out shade. From where I am—and I’m a long way from the earth—I learned how to love. I know that if I came even a little bit closer to the earth, everything there would die, and the Soul of the World would no longer exist. So we contemplate each other, and we want each other, and I give it life and warmth, and it gives me my reason for living.”

“So you know about love,” the boy said.

“And I know the Soul of the World, because we have talked at great length to each other during this endless trip through the universe. It tells me that its greatest problem is that, up until now, only the minerals and vegetables understand that all things are one. That there’s no need for iron to be the same as copper, or copper the same as gold. Each performs its own exact function as a unique being, and everything would be a symphony of peace if the hand that wrote all this had stopped on the fifth day of creation.

“But there was a sixth day,” the sun went on.

“You are wise, because you observe everything from a distance,” the boy said. “But you don’t know about love. If there hadn’t been a sixth day, man would not exist; copper would always be just copper, and lead just lead. It’s true that everything has its destiny, but one day that destiny will be realized. So each thing has to transform itself into something better, and to acquire a new destiny, until, someday, the Soul of the World becomes one thing only.”

The sun thought about that, and decided to shine more brightly. The wind, which was enjoying the conversation, started to blow with greater force, so that the sun would not blind the boy.

“This is why alchemy exists,” the boy said. “So that everyone will search for his treasure, find it, and then want to be better than he was in his former life. Lead will play its role until the world has no further need for lead; and then lead will have to turn itself into gold.

“That’s what alchemists do. They show that, when we strive to become better than we are, everything around us becomes better, too.”

“Well, why did you say that I don’t know about love?” the sun asked the boy.

“Because it’s not love to be static like the desert, nor is it love to roam the world like the wind. And it’s not love to see everything from a distance, like you do. Love is the force that transforms and improves the Soul of the World. When I first reached through to it, I thought the Soul of the World was perfect. But later, I could see that it was like other aspects of creation, and had its own passions and wars. It is we who nourish the Soul of the World, and the world we live in will be either better or worse, depending on whether we become better or worse. And that’s where the power of love comes in. Because when we love, we always strive to become better than we are.”

“So what do you want of me?” the sun asked.

“I want you to help me turn myself into the wind,” the boy answered.

“Nature knows me as the wisest being in creation,” the sun said. “But I don’t know how to turn you into the wind.”

“Then, whom should I ask?”

The sun thought for a minute. The wind was listening closely, and wanted to tell every corner of the world that the sun’s wisdom had its limitations. That it was unable to deal with this boy who spoke the Language of the World.

“Speak to the hand that wrote all,” said the sun.

The wind screamed with delight, and blew harder than ever. The tents were being blown from their ties to the earth, and the animals were being freed from their tethers. On the cliff, the men clutched at each other as they sought to keep from being blown away.

The boy turned to the hand that wrote all. As he did so, he sensed that the universe had fallen silent, and he decided not to speak.

A current of love rushed from his heart, and the boy began to pray. It was a prayer that he had never said before, because it was a prayer without words or pleas. His prayer didn’t give thanks for his sheep having found new pastures; it didn’t ask that the boy be able to sell more crystal; and it didn’t beseech that the woman he had met continue to await his return. In the silence, the boy understood that the desert, the wind, and the sun were also trying to understand the signs written by the hand, and were seeking to follow their paths, and to understand what had been written on a single emerald. He saw that omens were scattered throughout the earth and in space, and that there was no reason or significance attached to their appearance; he could see that not the deserts, nor the winds, nor the sun, nor people knew why they had been created. But that the hand had a reason for all of this, and that only the hand could perform miracles, or transform the sea into a desert… or a man into the wind. Because only the hand understood that it was a larger design that had moved the universe to the point at which six days of creation had evolved into a Master Work.

The boy reached through to the Soul of the World, and saw that it was a part of the Soul of God. And he saw that the Soul of God was his own soul. And that he, a boy, could perform miracles.

*

The simum blew that day as it had never blown before. For generations thereafter, the Arabs recounted the legend of a boy who had turned himself into the wind, almost destroying a military camp, in defiance of the most powerful chief in the desert.

When the simum ceased to blow, everyone looked to the place where the boy had been. But he was no longer there; he was standing next to a sand- covered sentinel, on the far side of the camp.

The men were terrified at his sorcery. But there were two people who were smiling: the alchemist, because he had found his perfect disciple, and the chief, because that disciple had understood the glory of God.

The following day, the general bade the boy and the alchemist farewell, and provided them with an escort party to accompany them as far as they chose.

*

They rode for the entire day. Toward the end of the afternoon, they came upon a Coptic monastery. The alchemist dismounted, and told the escorts they could return to the camp.

“From here on, you will be alone,” the alchemist said. “You are only three hours from the Pyramids.”

“Thank you,” said the boy. “You taught me the Language of the World.”

“I only invoked what you already knew.”

The alchemist knocked on the gate of the monastery. A monk dressed in black came to the gates. They spoke for a few minutes in the Coptic tongue, and the alchemist bade the boy enter.

“I asked him to let me use the kitchen for a while,” the alchemist smiled.

They went to the kitchen at the back of the monastery. The alchemist lighted the fire, and the monk brought him some lead, which the alchemist placed in an iron pan. When the lead had become liquid, the alchemist took from his pouch the strange yellow egg. He scraped from it a sliver as thin as a hair, wrapped it in wax, and added it to the pan in which the lead had melted.

The mixture took on a reddish color, almost the color of blood. The alchemist removed the pan from the fire, and set it aside to cool. As he did so, he talked with the monk about the tribal wars.

“I think they’re going to last for a long time,” he said to the monk.

The monk was irritated. The caravans had been stopped at Giza for some time, waiting for the wars to end. “But God’s will be done,” the monk said.

“Exactly,” answered the alchemist.

When the pan had cooled, the monk and the boy looked at it, dazzled. The lead had dried into the shape of the pan, but it was no longer lead. It was gold.

“Will I learn to do that someday?” the boy asked.

“This was my destiny, not yours,” the alchemist answered. “But I wanted to show you that it was possible.”

They returned to the gates of the monastery. There, the alchemist separated the disk into four parts.

“This is for you,” he said, holding one of the parts out to the monk. “It’s for your generosity to the pilgrims.”

“But this payment goes well beyond my generosity,” the monk responded.

“Don’t say that again. Life might be listening, and give you less the next time.”

The alchemist turned to the boy. “This is for you. To make up for what you gave to the general.”

The boy was about to say that it was much more than he had given the general. But he kept quiet, because he had heard what the alchemist said to the monk.

“And this is for me,” said the alchemist, keeping one of the parts. “Because I have to return to the desert, where there are tribal wars.”

He took the fourth part and handed it to the monk.

“This is for the boy. If he ever needs it.”

“But I’m going in search of my treasure,” the boy said. “I’m very close to it now.”

“And I’m certain you’ll find it,” the alchemist said. “Then why this?”

“Because you have already lost your savings twice. Once to the thief, and once to the general. I’m an old, superstitious Arab, and I believe in our proverbs. There’s one that says, ‘Everything that happens once can never happen again. But everything that happens twice will surely happen a third time.’ ” They mounted their horses.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: