The Alchemist (Chapter 9)

Nhà Giả Kim

Paulo Coelho

Chương 9

40

Chiều tối hôm sao cậu đi ngựa đến lều của nhà luyện kim đan. Cậu đợi một lúc thì ông cũng vừa xong để đi; con chim ưng đậu trên vai trái.

“Hãy chỉ cho ta sự sống trên sa mạc”, nhà luyện kim đan nói, “chỉ những ai tìm được sự sống thì mới có thể tìm thấy kho tàng”.

Họ cưỡi ngựa qua những đồi cát loáng ánh trăng.

“Không biết mình có tìm ra sự sống không, vì nói cho đúng thì mình đâu đã rành sa mạc”, cậu nghĩ.

Cậu muốn quay sang nói với ông như thế nhưng lại ngại. Lát sau họ tới chỗ tảng đá mà hôm trước cậu đã trông thấy hai con chim bồ cắt, nhưng giờ đây chỉ có gió và tĩnh lặng

“Cháu không biết cách tìm sự sống trên sa mạc”, cậu nói, “tất nhiên cháu biết là có sự sống nhưng không biết tìm ở đâu”.

“Sự sống lôi cuốn sự sống”, nhà luyện kim đan gợi ý.

Và thế là cậu hiểu. Cậu thả lỏng ngay cương ngựa, để nó tự đi qua các tảng đá. Nhà luyện kim đan im lặng đi theo. Con ngựa của nhà cậu chạy lòng vòng gần nửa tiếng. Họ không còn nhìn thấy rừng chà là nữa, chỉ còn mặt trăng to tướng trên bầu trời và những tảng đá lấp lánh ánh trăng bạc. Chợt cậu thấy con ngựa đứng lại ở một nơi mình chưa hề tới bao giờ.

“Chỗ này có sự sống”, cậu nói với nhà luyện kim đan.

“Tuy cháu không biết ngôn ngữ của sa mạc nhưng con ngựa của cháu biết ngôn ngữ của sự sống”

Họ xuống ngựa. Nhà luyện kim đan vẫn không nói gì. Ông vừa từ từ đi tới vừa quan sát các tảng đá. Chợt ông dừng lại, thận trọng cúi xuống. Một cái hốc nằm giữa các tảng đá. Ông thò tay vào, mới đầu chỉ là bàn tay sau cả cánh tay, tới tận vai. Có gì đó động đậy trong hốc và đôi mắt ông – cậu chỉ thấy được đôi mắt do chúng không bị khăn che – nheo lại vì cố gắng và căng thẳng, như thể ông đang giằng co với một vật gì đó trong hốc. Rồi ông rút tay ra thật nhanh khiến cậu giật mình. Ông đứng dậy, tay nắm chặt đuôi một con rắn. Cậu vội nhảy lùi lại. Con rắn không ngừng ngọ nguậy, thở phì phì làm tan sự yên ắng của sa mạc. Đó là một con rắn hổ, nọc của nó giết chết nguời chỉ trong vài phút.

“Coi chừng nọc độc”, cậu nói.

Có vẻ như ông đã bị rắn cắn nhưng vẫn tỏ ra bình thản.

“Nhà luyện kim đan đã hai trăm tuổi rồi”, chàng người Anh đã nói thế. Vậy thì ông hẳn phải biết làm gì với rắn trong sa mạc”. Cậu nhìn ông đi lại chỗ con ngựa, rút thanh kiếm cong hình bán nguyệt vạch một vòng tròn trên sa mạc rồi thả con rắn vào giữa. Con vật tức thì nằm yên.

“Đừng sợ, nó không ra được đâu. Cậu đã tìm ra sự sống trong sa mạc, đó là cái điềm ta cần”

“Điều ấy có gì là quan trọng?”

“Vì Kim Tự Tháp nằm giữa sa mạc”

Cậu không muốn nghe gì về Kim Tự Tháp cả. Ngay từ tối hôm trước tâm hồn cậu đã nặng trĩu vì buồn. Đi tìm kho báu nghĩa là rời xa Fatima. “Ta sẽ đi cùng với cậu qua sa mạc”, nhà luyện kim đannói

“Nhưng cháu lại muốn ở lại ốc đảo”, cậu đáp. “Cháu đã gặp Fatima và với cháu thì cô còn quí hơn cả kho báu”.

“Fatima là một cô gái sa mạc”, nhà luyện kim đan nói. “Cô biết rằng đàn ông phải đi thì mới có thể trở về. Cô đã tìm thấy kho báu của mình: đó chính là cậu. Bây giờ cô chờ đợi rằng cậu cũng sẽ tìm được kho tàng của cậu”.

“Nếu cháu quyết định ở lại thì sao?”

“Thì cậu sẽ trở thành cố vấn của ốc đảo. Cậu có đủ vàng để tậu nhiều cừu và lạc đà. Cậu sẽ cưới Fatima và năm đầu hai người sẽ rất hạnh phúc. Cậu sẽ tập yêu thích sa mạc và từng cây một của cả năm vạn cây chà là. Cậu sẽ nhìn thấy chúng lớn lên, qua đó thấy một thế giới không ngừng biến dịch, và cậu sẽ càng ngày càng hiểu rõ ngôn ngữ của điềm, của dấu hiệu hơn vì sa mạc là người thầy giỏi nhất. Năm thứ hai cậu sẽ nhớ lại rằng ở đâu đó có một kho báu. Các điềm sẽ không ngừng nhắc tới và cậu sẽ cố lờ đi. Cậu chỉ đem hiểu biết của mình phục vụ ốc đảo và cư dân ở đấy. Các tộc trưởng sẽ biết ơn cậu. Bầy lạc đà của cậu sẽ đem lại cho cậu sự giàu có và quyền lực. Năm thứ ba các điềm sẽ lại tiếp tục nhắc nhở cậu đem về kho tàng và vận mệnh của cậu. Và đêm đêm cậu sẽ lang thang trong sa mạc, khiến Fatima buồn khổ vì cho rằng chính cô đã cản bước chân cậu. Nhưng cậu yêu cô và cô đáp lại tình yêu đó. Cậu sẽ nhớ lại rằng cô không hề yêu cầu cậu ở lại ốc đảo, vì một người con gái sa mạc như cô biết mình phải chờ đợi chồng trở về. Vì thế mà cậu sẽ không trách cứ cô. Nhưng nhiều đêm cậu sẽ lang thang giữa các hàng cây chà là, nghĩ giá như hồi đó mình đi tiếp và vững tin hơn vào tình yêu của Fatima. Chính sự lo lắng của cậu rằng sẽ không bao giờ trở về được đã giữ chân cậu lại ốc đảo này. Và điềm sẽ báo cho cậu biết rằng kho tàng của cậu từ nay sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn. Năm thứ tư, vì cậu cứ lờ đi, các điềm sẽ không xuất hiện lại với cậu nữa. Các tộc trưởng sẽ nhận thấy thế và sẽ không dùng cậu làm cố vấn nữa. Khi đó thì cậu sẽ là một thương nhân giàu có với nhiều lạc đà và hàng hóa. Nhưng cho đến cuối đời cậu sẽ mãi lang thang trên sa mạc, luôn quẩn quanh các gốc chà là, vì biết rõ rằng mình đã không đi theo vận mệnh và giờ thì mọi sự đã quá trễ. Cậu phải hiểu rằng tình yêu không bao giờ ngăn cản ai theo đuổi vận mệnh của mình cả. Nếu để cho chuyện ấy xảy ra thì đó không phải là tình yêu đúng nghĩa, tình yêu của ngôn ngữ vũ trụ.”

Nhà luyện kim đan xóa vòng tròn vạch trên cách hồi nãy; thế là con rắn vội vàng chui tọt và giữa các tảng đá. Cậu nghĩ tới người bán hàng pha lê mơ được hành hương đến Mekka, đến chàng người Anh khổ công tìm một nhà luyện kim đan. Cậu cũng nghĩ tới người con gái với lòng tin mãnh liệt vào sa mạc và quả nhiên một ngày nọ sa mạc đã đem đến cho cô một người trai biết yêu cô. Họ lên ngựa; lần này cậu chạy theo sau nhà luyện kim đan. Gió đưa đến những âm thanh của ốc đảo và cậu lắng tìm giọng nói của Fatima. Vì có đánh nhau nên ngày hôm ấy cậu đã không ra giếng. Để rồi tối nay, lúc quan sát con rắn nằm yên trong cái vòng tròn nọ, người kị sĩ lạ lùng mang con chim ưng trên vai đã nói về tình yêu và kho báu, về người đàn bà sa mạc và về vận mệnh của cậu.

“Cháu sẽ đi cùng với ông”, cậu nói và liền thấy lòng thanh thản.

“Sáng mai mình sẽ lên đường trước khi mặt trời mọc”, ông chỉ nói có thế.

41

Suốt đêm cậu không ngủ được. Hai giờ trước khi mặt trời mọc cậu đánh thức một anh chàng ngủ trong lều, yêu cầu anh ta chỉ cho cậu chỗ ở của Fatima. Hai người cùng đi đến lều của cô. Để trả ơn, cậu cho anh chàng tiền đủ mua một con cừu. Rồi cậu nhờ anh chàng vào đánh thức cô, nói rằng cậu chờ ở ngoài. Anh chàng Arập đáp ứng lời yêu cầu và được trả thêm tiền cho một con cừu nữa.

“Bây giờ bạn đi được rồi, để chúng tôi nói chuyện riêng”, cậu nói.

Anh chàng Arập quay về lều ngủ tiếp, lấy làm hãnh diện đã giúp được cho cố vấn của ốc đảo và sung sướng vì được tiền mua cừu. Fatima ra khỏi lều. Hai người đi giữa những hàng cây chà là. Cậu biết như thế này là phạm vào phong tục ốc đảo nhưng lúc này cậu chẳng quan tâm nữa.

“Anh sắp lên đường”, cậu nói. “Anh muốn em biết rằng anh sẽ trở lại. Anh yêu em, vì…”

“Anh đừng nói thêm nữa”, Fatima ngắt lời. “Người ta yêu vì yêu. Cần gì phải có lí do”.

Nhưng cậu vẫn nói tiếp: “Anh đã có một giấc mơ, sau đó anh gặp được một vị vua già, rồi anh bán hàng pha lê và vượt sa mạc. Các bộ lạc đánh nhau nên anh mới đến giếng nước để hỏi về một nhà luyện kim đan. Anh yêu em vì cả vũ trụ đã góp sức để anh đến tận đây và gặp được em”.

Họ ôm nhau. Đó là lần đầu tiên.

“Nhất định anh sẽ trở về”, cậu lặp lại.

“Trước đây em luôn nhìn sa mạc mà lòng mong ngóng. Giờ đây em sẽ vẫn ngắm nhìn sa mạc mà lòng đầy hi vọng. Một ngày nọ bố em đã ra đi nhưng rồi ông đã trở về với mẹ em, và từ đó bao giờ ông cũng trở về”.

Rồi hai người không nói gì nữa. Họ đi dưới những gốc chà là thêm một lúc nữa rồi cậu đưa cô về lại lều.

“Anh sẽ trở về, y như bố em luôn trở về với mẹ em vậy”.

Cậu thấy mắt Fatima ứa lệ.

“Em khóc kìa”

“Em sinh ra ở sa mạc”, cô che mặt đáp, “nhưng em cũng là đàn bà chứ”.

Fatima biến vào trong lều. Mặt trời rồi sẽ mọc và khi một ngày mới bắt đầu cô sẽ làm những việc cô vẫn làm từ nhiều năm nay. Tuy vật tất cả đã thay đổi rồi. Cậu sẽ không có mặt ở ốc đảo và ốc đảo cũng không còn giống như vài ngày trước. Nó hết là nơi có năm vạn cây chà là và ba trăm giếng chào đón những kẻ hành hương sau một chuyến viễn du. Với cô, từ nay ốc đảo sẽ trở thành hiu quạnh. Từ này sa mạc sẽ trở thành quan trọng hơn ốc đảo. Cô sẽ ngắm nhìn nó và đoán xem cậu đi theo ngôi sao nào trên đường tìm kho báu. Cô sẽ gửi những nụ hôn của mình cho gió, hi vọng rằng nó sẽ mơn man gương mặt cậu và kể cậu nghe rằng cô vẫn sống, vẫn chờ cậu như một người đàn bà chờ người chồng can đảm ra đi tìm kiếm kho tàng. Từ hôm nay sa mạc sẽ chỉ mang một ý nghĩa: hi vọng cậu sẽ trở về.

42

“Đừng nghĩ tới những gì đã bỏ lại phía sau”, nhà luyện kim đan nói khi họ cưỡi ngựa đi trên sa mạc. “Mọi sự đã được ghi khắc vào tâm linh vũ trụ và sẽ tồn tại vĩnh viễn”.

“Con người mơ được trở về hơn là ra đi”, cậu nói và đã thấy quen lại với sự yên ắng của sa mạc.

“Nếu những gì ta tìm thấy là thật, là vàng ròng thì chúng sẽ không bao giờ hư hao và bất cứ lúc nào ta quay về thì chúng vẫn còn nguyên vẹn đó; còn nếu chúng chỉ là thoáng qua như ánh sao băng thì khi trở về ta sẽ chẳng tìm thấy gì nữa cả. Nhưng dẫu sao cậu cũng đã sống được cái phút thoáng qua ấy và bấy nhiêu đã là quí rồi”.

Ông dùng thuật ngữ của giới giả kim nhưng cậu hiểu ông muốn ám chỉ Fatima. Song không nghĩ đến những gì cậu đã bỏ lại phía sau thì thật là khó. Cảnh vật đơn điệu của sa mạc khiến cậu nghĩ vẩn vơ. Cậu như thể vẫn còn thấy trước mắt rừng chà là, giếng nươc và khuôn mặt người con gái mình yêu, anh chàng người Anh bên lò thí nghiệm và người phu lạc đà với những tư tưởng cao siêu bậc thầy mà không tự biết.

“Có thể nhà luyện kim đan chưa từng yêu bao giờ”, cậu nghĩ.

Ông cưỡi ngựa chạy phía trước, con chim ưng đậu trên vai. Con chim hiểu rõ ngôn ngữ của sa mạc nên mỗi khi họ dừng chân thì nó đều bay đi tìm mồi để săn. Ngày đầu nó tha về một con thỏ, hôm sau hai con chim. Đêm đến họ chỉ trùm chăn chứ không đốt lửa. Đêm sa mạc lạnh và trăng càng khuyết thì càng tối. Suốt một tuần lễ liền họ ít trò chuyện, chỉ trao đổi về những cách phòng xa cần thiết để tránh lạc vào trận địa giữa các bộ tộc. Cuộc xung đột vẫn còn tiếp diễn; hẳn là cách chỗ họ không xa vì thỉnh thoảng gió tanh mùi máu. Và gió nhắc nhở cậu nhớ đến ngôn ngữ của dấu hiệu, luôn luôn chỉ ra cho cậu những gì mắt cậu không thấy được. Vào ngày thứ bảy, nhà luyện kim đan quyết định dừng lại nghỉ sớm hơn thường lệ. Con chim ưng lại bay đi săn; ông đưa bình nước mời cậu.

“Cậu sắp đến đích rồi đó”, nhà luyện kim đan nói. “Tôi chúc mừng cậu đã đi theo con đường tiền định của mình”.

“Trên đường đi ông chẳng chỉ bảo cháu điều gì cả. Cháu cứ nghĩ rằng ông sẽ dạy cho cháu những điều ông biết. Cách đây không lâu cháu cùng đi trên sa mạc với một người có nhiều sách về thuật luyện kim đan, nhưng cháu chẳng học được gì từ những quyển sách ấy”.

“Chỉ có một cách học thôi”, nhà luyện kim đan đáp. “Đó là thông qua hành động. Tất cả những gì cần biết cậu đã học được trên đường đi rồi. Nhưng còn thiếu một điều”.

Cậu muốn biết đó là điều gì nhưng ông mãi nhìn đăm đăm về phía chân trời, tìm bóng dáng con chim ưng.

“Tại sao người ta gọi ông là nhà luyện kim đan?”

“Vì đó là nghề của ta”

“Khi những nhà luyện kim đan khác thử luyện vàng mà không thành công thì họ sai ở chỗ nào?”

“Tại vì họ chỉ chủ tâm tìm vàng thôi”, người bạn đồng hành của cậu đáp. “Họ tìm kho báu vốn nằm ở cuối con đường tiền định nhưng lại không chịu đi trọn con đường đó”.

“Cháu còn phải học thêm điều gì nữa?”, cậu hỏi

Nhưng ông vẫn tiếp tục nhìn về phía chân trời. Rồi con chim ưng quay về với mồi nó vừa săn được. Họ đào một cái hố, đốt lửa trong ấy để khỏi bị trông thấy.

“Ta là nhà luyện kim đan chỉ bởi vì ta là nhà luyện kim đan, thế thôi”, ông nói trong khi chuẩn bị bữa ăn. “Ta học môn này từ ông của ta, ông lại học từ ông thân và cứ thế cho đến thời tạo thiên lập địa. Vào thời đó “Đại công trình” có thể viết được vừa một phiến ngọc lục bảo. Nhưng rồi con người không thèm chú ý vào những điều đơn giản mà lại lo viết luận văn, chú giải và triết lý. Rồi họ cho rằng đã đi đúng đường hơn người khác. Nhưng đến nay phiến ngọc lục bảo vẫn còn nguyên giá trị”.

“Trên phiến ngọc ấy viết gì?” Cậu muốn biết.

Nhà luyện kim đan bèn vẽ lên cát lối chừng năm phút. Nhìn ông vẽ cậu nghĩ đến nhà vua già và bãi chợ nơi hai người gặp nhau; cậu có cảm tưởng như từ đó đến nay đã nhiều năm qua rồi.

“Trên phiến ngọc viết những điều đó đấy”, nhà luyện kim đan nói khi đã vẽ xong.

Cậu thử đọc nhưng thất vọng.

“Đây là loại mật ngữ mà cháu đã thấy trong các sách của anh chàng người Anh”.

“Không phải đâu”, nhà luyện kim đan đáp. “Nó cũng giống như đường bay của hai con chim bồ cắt, không thể dùng lí trí để hiểu được. Phiến ngọc lục bảo dẫn đường thẳng tới tâm linh vũ trụ. “Những bậc trí giả đã nhận biết rằng thế giới này chỉ là phiên bản của thiên đường. Sự hiện hữu của thế giới này chỉ là bằng cớ bảo đảm rằng có một thế giới toàn mỹ. Thượng Đế tạo dựng ra muôn loài để con người thông qua thế giới vật chất mà nghiệm được những định luật của thế giới tâm linh. Khi ta nói thông qua hành động là hàm ý như thế đấy”.

“Cháu có cần phải hiểu phiến ngọc đó không?” Cậu hỏi

“Có thể cần. Nếu như cậu làm việc trong phòng thí nghiệm của nhà luyện kim đan thì đó sẽ là cơ hội tốt để tìm ra cách hay nhất hiểu được phiến ngọc. Nhưng hiện cậu đang ở trên sa mạc. Hãy trầm tư suy nghĩ, rồi sa mạc sẽ chỉ cho cậu hiểu thế giới. Nói cho đúng thì mọi thứ trên mặt đất đều chỉ cho cậu được. Cậu không cần phải hiểu hết mọi điều về sa mạc mà chỉ cần nghiền ngẫm về một hạt cát thôi và cậu sẽ thấy trong đó mọi sự mầu nhiệm của công trình tạo hóa”

“Làm cách nào để cháu có thể thâm nhập vào thế giới của sa mạc?”

“Hãy lắng nghe trái tim mình. Nó biết hết mọi điều vì nó từ tâm linh vũ trụ mà ra và một ngày kia sẽ trở về đó”

43

Họ lại lặng lẽ tiếp tục đi trong sa mạc hai ngày nữa. Nhà luyện kim đan càng lúc càng thận trọng hơn vì họ đang đến gần vùng giao tranh ác liệt nhất. Trong khi đi đường cậu thử lắng nghe tiếng nói của trái tim mình. Quả tim cậu không phải lúc nào cũng ngoan ngoãn: trước kia nó quen được đi hoài đi mãi, bây giờ nó chỉ muốn mau đến đích. Có lúc trái tim cậu kể lể hàng giờ liền về nỗi nhớ nhung của nó; lúc khác nó lại xúc động trước cảnh mặt trời mọc trên sa mạc đến nỗi làm cậu phải khóc thầm. Tim cậu đập nhanh khi nó kể về kho báu, đập chậm hẳn khi cậu mơ màng lặng nhìn chân trời vô tận trên sa mạc. Nhưng nó không bao giờ câm nín, kể cả khi cậu và nhà luyện kim đan không nói với nhau một lời nào.

“Tại sao ta phải lắng nghe trái tim mình nhỉ?” Cậu hỏi khi hai người dừng lại nghỉ đêm

“Bởi vì trái tim cậu ở đâu thì kho báu cậu tìm cũng ở đó”

“Nhưng mà tim cháu rạo rực”, cậu đáp. “Nó mơ, nó xúc động và nó say mê một cô gái sa mạc. Nó đòi hỏi cháu đủ chuyện, khiến nhiều đêm cháu không ngủ được khi nghĩ đến nàng”.

“Tốt lắm. Như thế là tim cậu đang sống hết mình. Hãy lắng nghe những gì nó nói”

Ba ngày tiếp theo hai người gặp một số chiến binh có vũ trang và thấy một số khác đàng xa phía chân trời. Tim cậu bắt đầu nói về nỗi lo sợ. Nó kể chuyện nghe được từ tâm linh vũ trụ về những người đi tìm mà không hề thấy kho báu. Đôi khi nó khiến cậu hoảng sợ khi nghĩ rằng có thể mình không tìm thấy kho tàng hoặc sẽ chết trong sa mạc. Lúc khác cái trái tim kia lại bảo cậu rằng nó hài lòng lắm vì nó đã tìm thấy tình yêu và nhiều đồng tiền vàng rồi.

“Trái tim cháu giở chứng rồi”, cậu nói với nhà luyện kim đan khi họ dừng lại cho ngựa nghỉ. “Nó không muốn cháu đi tiếp nữa”.

“Điều đó đúng thôi”, ông đáp. “Đó là bằng cớ cho thấy rằng trái tim cậu rất sống động. Đương nhiên ai mà chẳng sợ khi đem tất cả gì mình có được ra đổi lấy một giấc mơ”.

“Thế thì tại sao cháu phải lắng nghe nó chứ?”

“Vì cậu chẳng bao giờ bắt nó im lặng được nữa. Ngay cả khi cậu làm như không thèm nghe nó nói thì nó vẫn luôn luôn ở trong con người cậu, nhắc đi nhắc lại những điều cậu nghĩ về cuộc đời và thế giới”.

“Ngay cả khi nó lừa cháu hay sao?”

“Bị lừa bịp cũng giống như bị một cú đánh bất ngờ thôi. Nhưng nếu cậu hiểu rõ trái tim mình thì sẽ không xảy ra điều gì bất trắc đâu, vì cậu biết rõ nó mơ ước gì và biết phải ứng xử thế nào. Không ai trốn tránh được trái tim mình; thành ra nên lắng nghe nó nói là hay hơn cả. Như thế cậu sẽ không bao giờ bị đánh bất ngờ”.

Cậu tiếp tục lắng nghe trái tim mình trên đường qua sa mạc, hiểu dần những mẹo vặt của nó và chấp nhận nó là như thế. Cậu thôi không lo sợ nữa, cũng không còn muốn quay về ốc đảo, vì một xế trưa nọ tim cậu bảo rằng nó mãn nguyện rồi.

“Dù đôi lúc tôi có phàn nàn”, nó nói, “thì cũng chỉ bởi vì tôi là trái tim người, mà tim người đều thế cả. Người ta sợ theo đuổi một giấc mơ vĩ đại vì cảm thấy không xứng đáng được hưởng hoặc sẽ không thể nào đạt nổi. Chỉ cần nghĩ rằng những người thân yêu nhất của mình sẽ ra đi vĩnh viễn, rằng những khoảnh khắc lẽ ra tươi đẹp mà rốt cuộc lại chẳng tươi đẹp tí nào, rằng có những kho tàng lẽ ra tìm được mà lại mãi mãi chôn vùi trong cát, là chúng tôi – trái tim con người – đủ kinh hoàng rồi. Khi những điều này xảy ra thật thì chúng tôi đau khổ lắm.”

“Trái tim cháu sợ sẽ phải đau khổ”, cậu đã nói với nhà luyện kim đan như thế vào một đêm hai người nhìn lên bầu trời không trăng.

“Hãy bảo nó rằng sợ phải đau khổ còn đau đớn hơn là chính sự đau khổ, và chưa từng có trái tim nào phải chịu đau khổ khi tìm cách thực hiện giấc mơ, vì mỗi phút giây tìm kiếm là một khoảnh khắc gặp gỡ Thượng Đế và sự vĩnh hằng”.

“Mỗi phút giây tìm kiếm là một khoảnh khắc gặp gỡ Thượng Đế”, cậu nói với trái tim mình. “Khi ta thành tâm đi tìm kho tàng thì mỗi một ngày đều chan hòa niềm vui, vì mỗi một giờ qua đi đều sẽ đem ta gần lại kho tàng hơn. Khi thành tâm đi tìm kho tàng, ta phát hiện trên đường nhiều điều mà ta sẽ không bao giờ thấy được nếu ta không đủ can đảm thử làm những việc xem ra một kẻ chăn cừu không thể làm nổi”.

Thế là trái tim cậu thanh thản được suốt buổi xế trưa. Đêm ấy cậu ngủ ngon giấc và khi thức dậy trái tim kể cho cậu về tâm linh vũ trụ, rằng kẻ nào hạnh phúc cũng đều có Thượng Đế trong lòng và có thể tìm thấy hạnh phúc trong từng hạt cát sa mạc như nhà luyện kim đan đã nói, vì hạt cát là một khoảnh khắc của sự sáng chế mà vũ trụ cần hàng triệu năm để tạo ra nó.

“Ai ai trên trái đất cũng đều có một kho báu chờ đợi mình”, trái tim nói. “Chúng tôi, trái tim loài người, ít khi nói về những kho báu này vì người ta không còn muốn đi tìm chúng nữa. Chúng tôi chỉ nói về chúng tôi với trẻ con thôi. Rồi chúng tôi để cuộc đời đi theo số mệnh. Song tiếc thay rất ít người đi theo con đường tiền định, con đường dẫn đến vận mệnh của họ, dẫn đến hạnh phúc. Phần lớn người ta nhìn thế giới như một nơi đầy đe dọa, chính vì thế mà thế giới trở thành nơi đe dọa thật. “Bởi thế mà chúng tôi, trái tim người, càng ngày càng nói khẽ hơn. Chúng tôi không im hẳn nhưng mong rằng người ta không nghe thấy, vì chúng tôi không muốn người ta phải đau khổ do không nghe lời trái tim mình”.

“Tại sao trái tim người không giục giã họ theo đuổi ước mơ?” Cậu hỏi nhà luyện kim đan.

“Vì như thế thì trái tim sẽ đau khổ vô cùng mà chúng lại không muốn đau khổ”

Từ đó cậu hiểu trái tim mình. Cậu yêu cầu nó đừng bao giờ ngừng trò chuyện với mình và khi nào cậu đi chệch khỏi ước mơ thì nó phải co thắt lại để cảnh báo cậu. Cậu thề sẽ nghe theo mỗi khi được cảnh báo. Đêm hôm ấy cậu kể hết những điều này cho người luyện kim đan nghe. Ông hiểu trái tim cậu đã hướng về tâm linh vũ trụ.

“Cháu phải làm gì bây giờ?” Cậu hỏi

“Đi tiếp về hướng Kim Tự Tháp”, ông đáp. “Và tiếp tục lưu ý đến các dấu hiệu. Tim cậu đã sẵn sàng chỉ cho cậu chỗ chôn kho báu rồi đấy”

“Có phải đó là điều cháu cần biết nữa không?”

“Không”, ông đáp. “Điều cậu cần biết nữa là như thế này: trước khi cậu đạt được ước mơ thì tâm linh vũ trụ sẽ thử thách mọi điều cậu học được trên đường đi. Tâm linh vũ trụ làm thế không phải vì ác ý mà vì muốn khi đạt được ước mơ chúng ta đồng thời cũng nắm vững những bài học đã lĩnh hội khi đi theo ước mơ. Đó chính là thời điểm mà đa số bỏ cuộc, nói theo ngôn ngữ sa mạc là “chết khát vào đúng cây chà là xuất hiện ở chân trời”. Mọi cuộc tìm tòi đều khởi đầu như câu “thánh nhân đãi kẻ khù khờ” và kết thúc với sự thử thách gay go kẻ chiến thắng”.

Cậu nhớ đến một câu châm ngôn của đất nước mình, nói rằng giờ tối nhất trong đêm lại chính là ngạy trước lúc rạng đông.

 

The Alchemist

by Paulo Coelho

Chapter 9

The following night, the boy appeared at the alchemist’s tent with a horse. The alchemist was ready, and he mounted his own steed and placed the falcon on his left shoulder. He said to the boy, “Show me where there is life out in the desert. Only those who can see such signs of life are able to find treasure.”

They began to ride out over the sands, with the moon lighting their way. I don’t know if I’ll be able to find life in the desert, the boy thought. I don’t know the desert that well yet.

He wanted to say so to the alchemist, but he was afraid of the man. They reached the rocky place where the boy had seen the hawks in the sky, but now there was only silence and the wind.

“I don’t know how to find life in the desert,” the boy said. “I know that there is life here, but I don’t know where to look.”

“Life attracts life,” the alchemist answered.

And then the boy understood. He loosened the reins on his horse, who galloped forward over the rocks and sand. The alchemist followed as the boy’s horse ran for almost half an hour. They could no longer see the palms of the oasis—only the gigantic moon above them, and its silver reflections from the stones of the desert. Suddenly, for no apparent reason, the boy’s horse began to slow.

“There’s life here,” the boy said to the alchemist. “I don’t know the language of the desert, but my horse knows the language of life.”

They dismounted, and the alchemist said nothing. Advancing slowly, they searched among the stones. The alchemist stopped abruptly, and bent to the ground. There was a hole there among the stones. The alchemist put his hand into the hole, and then his entire arm, up to his shoulder. Something was moving there, and the alchemist’s eyes—the boy could see only his eyes-squinted with his effort. His arm seemed to be battling with whatever was in the hole. Then, with a motion that startled the boy, he withdrew his arm and leaped to his feet. In his hand, he grasped a snake by the tail.

The boy leapt as well, but away from the alchemist. The snake fought frantically, making hissing sounds that shattered the silence of the desert. It was a cobra, whose venom could kill a person in minutes.

“Watch out for his venom,” the boy said. But even though the alchemist had put his hand in the hole, and had surely already been bitten, his expression was calm. “The alchemist is two hundred years old,” the Englishman had told him. He must know how to deal with the snakes of the desert.

The boy watched as his companion went to his horse and withdrew a scimitar. With its blade, he drew a circle in the sand, and then he placed the snake within it. The serpent relaxed immediately.

“Not to worry,” said the alchemist. “He won’t leave the circle. You found life in the desert, the omen that I needed.”

“Why was that so important?”

“Because the Pyramids are surrounded by the desert.”

The boy didn’t want to talk about the Pyramids. His heart was heavy, and he had been melancholy since the previous night. To continue his search for the treasure meant that he had to abandon Fatima.

“I’m going to guide you across the desert,” the alchemist said.

“I want to stay at the oasis,” the boy answered. “I’ve found Fatima, and, as far as I’m concerned, she’s worth more than treasure.”

“Fatima is a woman of the desert,” said the alchemist. “She knows that men have to go away in order to return. And she already has her treasure: it’s you. Now she expects that you will find what it is you’re looking for.”

“Well, what if I decide to stay?”

“Let me tell you what will happen. You’ll be the counselor of the oasis. You have enough gold to buy many sheep and many camels. You’ll marry Fatima, and you’ll both be happy for a year. You’ll learn to love the desert, and you’ll get to know every one of the fifty thousand palms. You’ll watch them as they grow, demonstrating how the world is always changing. And you’ll get better and better at understanding omens, because the desert is the best teacher there is.

“Sometime during the second year, you’ll remember about the treasure. The omens will begin insistently to speak of it, and you’ll try to ignore them. You’ll use your knowledge for the welfare of the oasis and its inhabitants. The tribal chieftains will appreciate what you do. And your camels will bring you wealth and power.

“During the third year, the omens will continue to speak of your treasure and your destiny. You’ll walk around, night after night, at the oasis, and Fatima will be unhappy because she’ll feel it was she who interrupted your quest.

But you will love her, and she’ll return your love. You’ll remember that she never asked you to stay, because a woman of the desert knows that she must await her man. So you won’t blame her. But many times you’ll walk the sands of the desert, thinking that maybe you could have left… that you could have trusted more in your love for Fatima. Because what kept you at the oasis was your own fear that you might never come back. At that point, the omens will tell you that your treasure is buried forever.

“Then, sometime during the fourth year, the omens will abandon you, because you’ve stopped listening to them. The tribal chieftains will see that, and you’ll be dismissed from your position as counselor. But, by then, you’ll be a rich merchant, with many camels and a great deal of merchandise. You’ll spend the rest of your days knowing that you didn’t pursue your destiny, and that now it’s too late.

“You must understand that love never keeps a man from pursuing his destiny. If he abandons that pursuit, it’s because it wasn’t true love… the love that speaks the Language of the World.”

The alchemist erased the circle in the sand, and the snake slithered away among the rocks. The boy remembered the crystal merchant who had always wanted to go to Mecca, and the Englishman in search of the alchemist. He thought of the woman who had trusted in the desert. And he looked out over the desert that had brought him to the woman he loved.

They mounted their horses, and this time it was the boy who followed the alchemist back to the oasis. The wind brought the sounds of the oasis to them, and the boy tried to hear Fatima’s voice.

But that night, as he had watched the cobra within the circle, the strange horseman with the falcon on his shoulder had spoken of love and treasure, of the women of the desert and of his destiny.

“I’m going with you,” the boy said. And he immediately felt peace in his heart.

“We’ll leave tomorrow before sunrise,” was the alchemist’s only response. *

*

The boy spent a sleepless night. Two hours before dawn, he awoke one of the boys who slept in his tent, and asked him to show him where Fatima lived. They went to her tent, and the boy gave his friend enough gold to buy a sheep.

Then he asked his friend to go to into the tent where Fatima was sleeping, and to awaken her and tell her that he was waiting outside. The young Arab did as he was asked, and was given enough gold to buy yet another sheep.

Fatima appeared at the entrance to the tent. The two walked out among the palms. The boy knew that it was a violation of the Tradition, but that didn’t matter to him now.

“I’m going away,” he said. “And I want you to know that I’m coming back. I love you because…”

“Don’t say anything,” Fatima interrupted. “One is loved because one is loved. No reason is needed for loving.”

But the boy continued, “I had a dream, and I met with a king. I sold crystal and crossed the desert. And, because the tribes declared war, I went to the well, seeking the alchemist. So, I love you because the entire universe conspired to help me find you.”

The two embraced. It was the first time either had touched the other.

“I’ll be back,” the boy said.

“Before this, I always looked to the desert with longing,” said Fatima. “Now it will be with hope. My father went away one day, but he returned to my mother, and he has always come back since then.”

They said nothing else. They walked a bit farther among the palms, and then the boy left her at the entrance to her tent.

They said nothing else. They walked a bit farther among the palms, and then the boy left her at the entrance to her tent.

“I’ll return, just as your father came back to your mother,” he said.

He saw that Fatima’s eyes were filled with tears.

“You’re crying?”

“I’m a woman of the desert,” she said, averting her face. “But above all, I’m a woman.”

Fatima went back to her tent, and, when daylight came, she went out to do the chores she had done for years. But everything had changed. The boy was no longer at the oasis, and the oasis would never again have the same meaning it had had only yesterday. It would no longer be a place with fifty thousand palm trees and three hundred wells, where the pilgrims arrived, relieved at the end of their long journeys. From that day on, the oasis would be an empty place for her.

From that day on, it was the desert that would be important. She would look to it every day, and would try to guess which star the boy was following in search of his treasure. She would have to send her kisses on the wind, hoping that the wind would touch the boy’s face, and would tell him that she was alive. That she was waiting for him, a woman awaiting a courageous man in search of his treasure. From that day on, the desert would represent only one thing to her: the hope for his return.

*

“Don’t think about what you’ve left behind,” the alchemist said to the boy as they began to ride across the sands of the desert. “Everything is written in the Soul of the World, and there it will stay forever.”

“Men dream more about coming home than about leaving,” the boy said. He was already reaccustomed to desert’s silence.

“If what one finds is made of pure matter, it will never spoil. And one can always come back. If what you had found was only a moment of light, like the explosion of a star, you would find nothing on your return.”

The man was speaking the language of alchemy. But the boy knew that he was referring to Fatima.

It was difficult not to think about what he had left behind. The desert, with its endless monotony, put him to dreaming. The boy could still see the palm trees, the wells, and the face of the woman he loved. He could see the Englishman at his experiments, and the camel driver who was a teacher without realizing it. Maybe the alchemist has never been in love, the boy thought.

The alchemist rode in front, with the falcon on his shoulder. The bird knew the language of the desert well, and whenever they stopped, he flew off in search of game. On the first day he returned with a rabbit, and on the second with two birds.

At night, they spread their sleeping gear and kept their fires hidden. The desert nights were cold, and were becoming darker and darker as the phases of the moon passed. They went on for a week, speaking only of the precautions they needed to follow in order to avoid the battles between the tribes. The war continued, and at times the wind carried the sweet, sickly smell of blood. Battles had been fought nearby, and the wind reminded the boy that there was the language of omens, always ready to show him what his eyes had failed to observe.

On the seventh day, the alchemist decided to make camp earlier than usual. The falcon flew off to find game, and the alchemist offered his water container to the boy.

“You are almost at the end of your journey,” said the alchemist. “I congratulate you for having pursued your destiny.”

“And you’ve told me nothing along the way,” said the boy. “I thought you were going to teach me some of the things you know. A while ago, I rode through the desert with a man who had books on alchemy. But I wasn’t able to learn anything from them.”

“There is only one way to learn,” the alchemist answered. “It’s through action. Everything you need to know you have learned through your journey. You need to learn only one thing more.”

The boy wanted to know what that was, but the alchemist was searching the horizon, looking for the falcon.

“Why are you called the alchemist?

” “Because that’s what I am.”

“And what went wrong when other alchemists tried to make gold and were unable to do so?”

“They were looking only for gold,” his companion answered. “They were seeking the treasure of their destiny, without wanting actually to live out the destiny.”

“What is it that I still need to know?” the boy asked.

But the alchemist continued to look to the horizon. And finally the falcon returned with their meal. They dug a hole and lit their fire in it, so that the light of the flames would not be seen.

“I’m an alchemist simply because I’m an alchemist,” he said, as he prepared the meal. “I learned the science from my grandfather, who learned from his father, and so on, back to the creation of the world. In those times, the Master Work could be written simply on an emerald. But men began to reject simple things, and to write tracts, interpretations, and philosophical studies. They also began to feel that they knew a better way than others had. Yet the Emerald Tablet is still alive today.”

“What was written on the Emerald Tablet?” the boy wanted to know.

The alchemist began to draw in the sand, and completed his drawing in less than five minutes. As he drew, the boy thought of the old king, and the plaza where they had met that day; it seemed as if it had taken place years and years ago.

“This is what was written on the Emerald Tablet,” said the alchemist, when he had finished.

The boy tried to read what was written in the

“It’s a code,” said the boy, a bit disappointed. “It looks like what I saw in the Englishman’s books.”

“No,” the alchemist answered. “It’s like the flight of those two hawks; it can’t be understood by reason alone. The Emerald Tablet is a direct passage to the Soul of the World.

“The wise men understood that this natural world is only an image and a copy of paradise. The existence of this world is simply a guarantee that there exists a world that is perfect. God created the world so that, through its visible objects, men could understand his spiritual teachings and the marvels of his wisdom. That’s what I mean by action.”

“Should I understand the Emerald Tablet?” the boy asked.

“Perhaps, if you were in a laboratory of alchemy, this would be the right time to study the best way to understand the Emerald Tablet. But you are in the desert. So immerse yourself in it. The desert will give you an understanding of the world; in fact, anything on the face of the earth will do that. You don’t even have to understand the desert: all you have to do is contemplate a simple grain of sand, and you will see in it all the marvels of creation.”

“How do I immerse myself in the desert?”

“Listen to your heart. It knows all things, because it came from the Soul of the World, and it will one day return there.”

*

They crossed the desert for another two days in silence. The alchemist had become much more cautious, because they were approaching the area where the most violent battles were being waged. As they moved along, the boy tried to listen to his heart.

It was not easy to do; in earlier times, his heart had always been ready to tell its story, but lately that wasn’t true. There had been times when his heart spent hours telling of its sadness, and at other times it became so emotional over the desert sunrise that the boy had to hide his tears. His heart beat fastest when it spoke to the boy of treasure, and more slowly when the boy stared entranced at the endless horizons of the desert. But his heart was never quiet, even when the boy and the alchemist had fallen into silence.

“Why do we have to listen to our hearts?” the boy asked, when they had made camp that day.

“Because, wherever your heart is, that is where you’ll find your treasure.”

“But my heart is agitated,” the boy said. “It has its dreams, it gets emotional, and it’s become passionate over a woman of the desert. It asks things of me, and it keeps me from sleeping many nights, when I’m thinking about her.”

“Well, that’s good. Your heart is alive. Keep listening to what it has to say.”

During the next three days, the two travelers passed by a number of armed tribesmen, and saw others on the horizon. The boy’s heart began to speak of fear. It told him stories it had heard from the Soul of the World, stories of men who sought to find their treasure and never succeeded. Sometimes it frightened the boy with the idea that he might not find his treasure, or that he might die there in the desert. At other times, it told the boy that it was satisfied: it had found love and riches.

“My heart is a traitor,” the boy said to the alchemist, when they had paused to rest the horses. “It doesn’t want me to go on.”

“That makes sense,” the alchemist answered. “Naturally it’s afraid that, in pursuing your dream, you might lose everything you’ve won.”

“Well, then, why should I listen to my heart?”

“Because you will never again be able to keep it quiet. Even if you pretend not to have heard what it tells you, it will always be there inside you, repeating to you what you’re thinking about life and about the world.”

“You mean I should listen, even if it’s treasonous?”

“Treason is a blow that comes unexpectedly. If you know your heart well, it will never be able to do that to you. Because you’ll know its dreams and wishes, and will know how to deal with them.

“You will never be able to escape from your heart. So it’s better to listen to what it has to say. That way, you’ll never have to fear an unanticipated blow.”

The boy continued to listen to his heart as they crossed the desert. He came to understand its dodges and tricks, and to accept it as it was. He lost his fear, and forgot about his need to go back to the oasis, because, one afternoon, his heart told him that it was happy. “Even though I complain sometimes,” it said, “it’s because I’m the heart of a person, and people’s hearts are that way. People are afraid to pursue their most important dreams, because they feel that they don’t deserve them, or that they’ll be unable to achieve them. We, their hearts, become fearful just thinking of loved ones who go away forever, or of moments that could have been good but weren’t, or of treasures that might have been found but were forever hidden in the sands. Because, when these things happen, we suffer terribly.”

“My heart is afraid that it will have to suffer,” the boy told the alchemist one night as they looked up at the moonless sky.

“Tell your heart that the fear of suffering is worse than the suffering itself. And that no heart has ever suffered when it goes in search of its dreams, because every second of the search is a second’s encounter with God and with eternity.”

“Every second of the search is an encounter with God,” the boy told his heart. “When I have been truly searching for my treasure, every day has been luminous, because I’ve known that every hour was a part of the dream that I would find it. When I have been truly searching for my treasure, I’ve discovered things along the way that I never would have seen had I not had the courage to try things that seemed impossible for a shepherd to achieve.”

So his heart was quiet for an entire afternoon. That night, the boy slept deeply, and, when he awoke, his heart began to tell him things that came from the Soul of the World. It said that all people who are happy have God within them. And that happiness could be found in a grain of sand from the desert, as the alchemist had said. Because a grain of sand is a moment of creation, and the universe has taken millions of years to create it. “Everyone on earth has a treasure that awaits him,” his heart said. “We, people’s hearts, seldom say much about those treasures, because people no longer want to go in search of them. We speak of them only to children. Later, we simply let life proceed, in its own direction, toward its own fate. But, unfortunately, very few follow the path laid out for them—the path to their destinies, and to happiness. Most people see the world as a threatening place, and, because they do, the world turns out, indeed, to be a threatening place.

“So, we, their hearts, speak more and more softly. We never stop speaking out, but we begin to hope that our words won’t be heard: we don’t want people to suffer because they don’t follow their hearts.”

“Why don’t people’s hearts tell them to continue to follow their dreams?” the boy asked the alchemist.

“Because that’s what makes a heart suffer most, and hearts don’t like to suffer.”

From then on, the boy understood his heart. He asked it, please, never to stop speaking to him. He asked that, when he wandered far from his dreams, his heart press him and sound the alarm. The boy swore that, every time he heard the alarm, he would heed its message.

That night, he told all of this to the alchemist. And the alchemist understood that the boy’s heart had returned to the Soul of the World.

“So what should I do now?” the boy asked.

“Continue in the direction of the Pyramids,” said the alchemist. “And continue to pay heed to the omens. Your heart is still capable of showing you where the treasure is.”

“Is that the one thing I still needed to know?”

“No,” the alchemist answered. “What you still need to know is this: before a dream is realized, the Soul of the World tests everything that was learned along the way. It does this not because it is evil, but so that we can, in addition to realizing our dreams, master the lessons we’ve learned as we’ve moved toward that dream. That’s the point at which most people give up. It’s the point at which, as we say in the language of the desert, one ‘dies of thirst just when the palm trees have appeared on the horizon.’

“Every search begins with beginner’s luck. And every search ends with the victor’s being severely tested.”

The boy remembered an old proverb from his country. It said that the darkest hour of the night came just before the dawn.

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: