The Alchemist (Chapter 8)

Nhà Giả Kim 

Paulo Coelho

Chương 8

34

Đoàn người mới tới được đưa ngay đến ra mặt tù trưởng của El Fayum. Cậu chăn cừu không dám tin ở mắt mình: ốc đảo không phải là một cái giếng với dăm ba cây chà là bao quanh – như cậu đã đọc trước kia trong một quyển sách sử – mà lớn hơn nhiều so với không ít làng ở Tây Ban Nha. Ốc đảo có bao trăm giếng nước và rất nhiều lều đủ màu sặc sỡ xen giữa năm vạn cây chà là.

“Cứ như trong truyện Nghìn lẻ một đêm”, chàng người Anh nhận xét.

Anh ta nôn nóng muốn đi tìm nhà luyện đan ngay. Chẳng mấy chốc họ bị một đám trẻ bao quanh; chúng tò mò nhìn đoàn người lạ và lũ vật. Còn cánh đàn ông hỏi họ có thấy đánh nhau gì chưa, trong khi các bà các cô tranh nhau mua vải vóc và đá quí do khách thương thồ đến. Sự yên ắng của sa mạc giờ đã như thể xa vời lắm, vì những người lữ hành nói không ngừng; họ cười, họ hò hét khác nào mới được từ thế giới bên kia trở về với thế giới loài người. Họ sung sướng và hết hẳn lo âu. Ở Sa mạc thì họ phải hết sức cảnh giác, chứ bây giờ – người phu lạc đà giải thích cho cậu biết – ốc đảo luôn luôn được coi là vùng đất trung lập, vì đa số dân ốc đảo là phụ nữ và trẻ em. Hai bên chiến tuyến đều có ốc đảo nên các bộ lạc chỉ đánh nhau ngoài sa mạc, dùng ốc đảo làm nơi tạm lánh.

Trưởng đoàn khá vất vả mới tụ tập mọi người trong đoàn lại được để phổ biến chỉ dẫn. Đoàn sẽ ở lại ốc đảo cho đến khi cuộc xung đột giữa các bột lạc chấm dứt. Là khách, họ phải ở chung lều với người ốc đảo và sẽ được nhường chỗ tốt nhất. Lòng hiếu khách đòi hỏi phải như thế. Rồi ông yêu cầu mọi người, kể cả đội gác của ông, trao vũ khí cho những người được tù trưởng chỉ định.

“Đây là luật lệ khi có xung đột”, ông giải thích. “Ốc đảo không được chứa chấp đội quân nào, dù chỉ là một chiến sĩ lẻ loi”.

Cậu ngạc nhiên khi chàng người Anh móc túi lấy ra một khẩu súng lục mạ kền, trao cho những người đi gom vũ khí.

“Anh cần súng lục để làm gì?” Cậu hỏi

“Có thể tôi mới dám đi chung với người lạ”, anh ta đáp và thấy sung sướng vì đã tới được đích của sự tìm kiếm của mình.

Còn cậu lại nghĩ về kho tàng. Giấc mơ của cậu càng sắp thành sự thật bao nhiêu thì mọi sự lại rối rắm bấy nhiêu. Hình như cái nguyên lí mà ông vua già gọi là “thánh nhân đãi kẻ khù khờ”, không còn giá trị nữa. Trên đường đến với giấc mơ, lòng can đảm và sự kiên trì của cậu đã thường xuyên bị thử thách. Thành ra cậu không thể khinh suất hay sốt ruột được. Nếu cứ xông bừa tới trước thì cậu sẽ không nhìn thấy được dấu hiệu Chúa báo dọc đuờng.

“Điềm Chúa báo dọc đường”, cậu nghĩ rồi sửng sốt trước ý nghĩ của mình. Cho tới nay cậu vẫn cho điềm là cái gì đó rất tự nhiên, giống như ăn, ngủ, theo đuổi chút tình yêu hay tìm công ăn việc làm. Cậu chưa hề nghĩ rằng đó có thể là thứ ngôn ngữ Chúa dùng để bảo cậu phải làm gì

“Đừng nôn nóng”, cậu lại tự nhắc mình. “Hãy làm như người phu kia nói: lúc cần ăn thì ăn, lúc phải đi thì đi”

Ngày đầu tiên ai cũng ngủ nhiều vì quá mệt, kể cả chàng người Anh. Cậu ngủ trong một lều khác, với năm anh chàng trai trạc tuổi cậu. Họ là những thanh niên sa mạc nên thích nghe chuyện các thành phố lớn. Cậu kể vầ đời chăn cừu của mình và vừa định thuật lại kinh nghiệm sống trong cửa hàng pha lê thì chàng người Anh bước vào lều.

“Tôi tìm cậu khắp nơi”, anh ta nói rồi kéo cậu ra ngoài. “Cậu phải giúp tôi tìm cho ra nhà luyện kim đan ở đâu”

Mới đầu hai người muốn tự đi tìm lấy. Một nhà luyện kim đan nhất định phải sống khác với những người dân ốc đảo, và trong lều của ông lò luyện hẵng không lúc nào tắt. Họ chạy quanh tìm để rồi thấy rằng ốc đảo lớn hơn họ tưởng nhiều. Có đến cả hàng trăm lều.

“Thế là mình mất gần nguyên ngày rồi”, chàng người Anh than thở rồi cùng với cậu ngồi nghỉ cạnh một cái giếng.

“Có lẽ mình nên hỏi thì hơn”, cậu nói.

Anh kia còn ngần ngừ vì không muốn tiết lột chuyện có nhà luyện kim đan ở ngay ốc đảo này với người khác. Cuối cùng anh ta cũng đồng ý và nhờ câu hỏi hộ vì cậu sõi tiếng Arập hơn. Cậu bèn lại gần một người đàn bà đang đi lại giếng để lấy nước vào cái túi da dê.

“Chào bà. Tôi muốn được biết nhà kuyện kim đan trong ốc đảo này ở đâu”, cậu lựa lời hỏi.

Bà nọ đáp rằng chưa hề nghe ai nói có nhà luyện ikim đan bao giờ. Rồi bà hấp tấp bỏ đi. Song trước đó bà còn lưu ý cậu không bao giờ được trò chuyện với những nguời đàn bà mặc trang phục màu đen vì họ là những người đã có chồng. Cậu phải tôn trọng phon tục tập quán ốc đảo. Chàng người Anh rất thất vọng. Chả lẽ chuyến đi xa này của anh công cốc hay sao? Cậu cũng buồn: nói cho cùng thì người bạn đồng hành của cậu cũng đang đi tìm con đuờng mà số phận định cho mình. Và như thế thì, như nhà vua già từng nói, đương nhiên cả vũ trụ sẽ góp sức để người đi tìm con đường ấy đạt được điều mình muốn. Nhà vua thì không thể nào nhầm được.

“Tôi chưa từng nghe nói về một nhà luyện kim đan bao giờ”, cậu nói, “nếu có thì tôi sẵn lòng giúp anh ngay”.

Mắt anh chàng kia chợt sáng lên “Phải rồi! Chắc là ở đây không ai biết nhà luyện kim đan nghĩa là gì! Cậu hãy hỏi thăm về một ông chữa được mọi thứ bệnh”

Có thêm nhiều người đàn bà chùm áo màu đen ra giếng lấy nước, nhưng cậu không hỏi họ dù chàng người Anh ra sức hối thúc. Mãi sau mới có một người đàn ông đi tới.

“Ông có biết người nào chữa lành bệnh cho dân làng này không?”

“Allah chữa lành cho mọi thứ bệnh tật”, ông nọ đáp, rõ ràng giật mình hoảng sợ trước hai người lạ.

“Hoá ra mấy người đi tìm thầy phù thủy”. Rồi sau khi đã niệm đôi ba câu kinh Koran ông ta vội vàng bỏ đi Một người đàn ông khác tới giếng. Ông này lớn tuổi hơn, chỉ xách một cái chậu nhỏ. Cậu cũng hỏi y như trước

“Mấy người muốn gặp ông ta để làm gì?” Người Arập này hỏi lại.

“Vì anh bạn tôi đã đi nhiều tháng ròng để được gặp ông ấy”

“Nếu ông ta sống trong ốc đảo này thì nhất định phải là người rất quyền thế”, người nọ nói sau vài phút ngẫm nghĩ.

“Ngay cả các tộc trưởng khi cần cũng không triệu được ông ta đến. Ông ta chỉ đến nếu tự ý muốn thôi. Mấy người hãy chờ cho cuộc xung đột chấm dứt rồi cùng với đoàn lữ hành rời khỏi nơi này. Đừng can thiệp vào cuộc sống ở ốc đảo”, nói rồi ông ta bỏ đi.

Nhưng chàng người Anh lại mừng rỡ. Thế là họ đã có chút manh mối rồi. Cuối cùng một cô gái không mặc mày đen ra giếng, vác trên vai một bình bằng đất nung. Cô cũng đeo khăn choàng nhưng để hở mặt. cậu lại gần cô để hỏi thăm về nhà luyện kim đan. Thời gian như chợt ngừng trôi và tâm linh vũ trụ quyền uy vô hạn như hiện ra trước mặt cậu. Khi nhìn vào đôi mắt đen của cô, nhìn đôi môi chưa biết nên cười hay nên nín lặng kia, cậu hiểu – như mọi người trên trái đất đều có thể hiểu bằng trái tim mình – cái phần quan trọng và thông tuệ nhất của thứ ngôn ngữ vũ trụ này. Cái phần đó gọi là tình yêu, là thứ lực hiện hữu trước cả loài người, thậm chí trước cả sa mạc này và nó sẽ mãi mãi tái hiện với cùng một mãnh lực ở bất cứ nơi nào có hai đôi mắt gặp nhau như hai cắp măt nọ đang nhìn nhau trước giếng. Đôi môi kia đã chọn nụ cười và đó chính là cái dấu hiệu, cái điềm cậu đã chờ đợi từ lâu, đã tìm ở nơi lũ cừu, trong sách vở, tìm trong pha lê và trong sự yên ắng của sa mạc mà không tự biết. Trong nụ cười kia vũ trụ đã hiển hiện ra một cách trong sáng nhất, không cần một diễn dịch nào, như nó không ngừng tiếp tục xoay vần.

Cậu chợt hiểu ngay rằng cô gái đứng kia sẽ là người bạn đời của mình và chính cô cũng biết như thế mà không cần phải nói ra. Đó là điều cậu chắc chắn hơn mọi thứ trên thế gian này, dù rằng bố mẹ và ông bà cậu vẫn bảo trước hết phải tỏ tình, mới đến hứa hôn, rồi tìm hiểu cặn kẽ và dành dụm đủ tiền để cưới. Nghĩ như thế thì chẳng bao giờ hiểu được ngôn ngữ vũ trụ vì một khi đã ngụp lặn trong đó thì ai cũng hiểu ra rằng trên thế giới luôn luôn có một người chờ đợi mình, dù là giữa sa mạc hay trong thành phố lớn. và khi hai người gặp nhau và mắt họ nhìn nhau thì cả quá khứ lẫn tương lai đều không quan trọng nữa, chỉ còn có khoảng khắc này và niềm tin tuyệt đối rằng mọi sự dưới bầu trời này đều do một bàn tay ghi sẵn; chính bàn tay này làm nẩy mầm tình yêu và chọn sẵn một kẻ tâm đầu ý hợp cho mỗi người chăm lo làm lụng, nghỉ ngơi và tìm kiếm kho tàng dưới gầm trời này. nếu không như thế thì mơ ước của con người thật là vô nghĩa.

“MAKTUB”, cậu thầm nghĩ.

Chàng người anh đứng lên, lắc tay cậu. “Này, cậu hỏi đi chứ!”.

Cậu lại gần cô gái. Cô lại cười. Cậu cũng cười.

“Cô tên gì?” Cậu hỏi

“Em tên là Fatima”, cô đáp và ngượng ngùng nhìn xuống đất.

“Ở đất nước tôi cũng có một số các bà, các cô mang tên cô như vậy”.

“Đó là tên con gái Đức Tiên Tri”, Fatima đáp.

“Các chiến binh của đất nước em đã đem cái tên này đến nước anh đấy” Người con gái nhỏ nhắn nói về các chiến binh với vẻ tự hào.

Anh chàng người Anh đứng cạnh cậu đâm ra sốt ruột. Cậu bèn hỏi cô về con người chữa lành mọi thứ bệnh tật.

“Đó là một người thấu hiểu mọi bí mật của thế giới. Ông ta trò chuyện với các Dschinn – tức là quỉ thần – của sa mạc”, cô cho biết.

Cô gái chỉ về hướng Nam, nơi trú ngụ của nhân vật lạ lùng kia. Cô lấy nước đầy bình rồi quay đi. Chàng người Anh bỏ đi tìm nhà luyện kim đan ngay tức thì, còn cậu vẫn ngồi lại hồi lâu bên giống và nhận ra rằng trước đây ít lâu chính luồng gió Levante đã đem mùi thơm của cô gái này đến với mình, và cậu đã yêu dù không hề biết về cô, và nhờ tình yêu ấy cậu sẽ có đủ năng lực tìm ra mọi kho tàng của thế giới này.

35

Hôm sau cậu lại ra giếng chờ cô gái. Cậu ngạc nhiên khi gặp chàng người Anh ở đấy; lần đầu tiên anh ta ngắm nhìn sa mạc.

“Tôi đã chờ ông suốt từ xế trưa cho đến chiều tối”, anh kể. “Mãi khi sao mọc ông ta mới xuất hiện. Tôi trình bày về điều mình đang tìm kiếm. Nghe xong, ông ta hỏi tôi đã từng biến chì thành vàng chưa. Tôi thưa rằng đó chính là điều tôi muốn học ở ông. Ông bảo tôi cứ thử đi. Tất cả những gì ông khuyên tôi là: anh hãy cứ thử đi!”

Cậu im lặng. Thế là chàng người Anh đã đi xa vạn dặm để rốt cuộc được khuyên điều chính anh ta đã biết. Nhưng rồi cậu chợt nhớ chính mình cũng từng như thế, khi trả cho ông vua già sáu con cừu.

“Thế thì anh nên thử đi”, cậu nói “Tôi cũng đang định thử ngay đây”

Anh ta đi được một lúc thì Fatima đến lấy nước.

“Tôi có điều quan trọng cần nói với cô. Tôi muốn được lấy cô làm vợ. Tôi yêu cô”

Nước trong bình của cô gái sóng sánh

“Ngày ngày anh sẽ ra đây chờ em. Cuộc xung đột thật là tai hại vì anh đã vượt sa mạc để đi tìm một kho tàng ở Kim Tự Tháp. Nhưng bây giờ lại hóa may vì nhờ nó mà anh được ở gần em.”

“Một ngày kia cuộc xung đột sẽ chấm dứt”, cô gái nói

Cậu nhìn về phía rừng chà là. Cậu từng đi chăn cừu; ở đây không thiếu chi cừu, và với cậu thì Fatima quan trọng hơn kho tàng.

“Các chiến binh đi tìm kiếm kho tàng đem về đây”, cô gái nói, như thể đoán được ý cậu. “Và phụ nữ sa mạc chúng em tự hào về các chiến binh của mình”

Cô gái lấy nước đầy bình rồi ra về. Giờ đây ngày ngày cậu ra giếng đợi Fatima. Cậu kể cô nghe về quãng đời chăn cừu của mình, về ông vua già và về những ngày làm việc trong cửa hàng pha lê. Hai người ngày một thân thiết nhau hơn. Mỗi ngày, ngoài mười lăm phút được ở bên cô, cậu cảm thấy thời gian trôi quá chậm. Sau gần một tháng ở ốc đảo, trưởng đoàn họp cả đoàn lại

“Chúng ta không biết khi nào mới hết đánh nhau và lại đi tiếp được. Có thể còn đánh nhau lâu, cả năm chưa biết chừng, vì cả hai bên đều không thiếu chiến binh khỏe mạnh và dũng cảm, tinh thần chiến đấu cao. Đây không phải là cuộc đấu tranh giữa tốt và xấu, mà chỉ nhằm tranh giành quyền lực. Như thế, khi đã nổ ra đánh nhau thì thường kéo dài rất lâu, vì Allah không thiên về một bên nào nhất định”

Sau đó họ giải tán. Xế trưa hôm đó gặp lại Fatima cậu kể cô nghe về buổi họp của đoàn.

“Hôm chúng mình gặp nhau lần thứ hai”, Fatima nói, “anh đã thổ lộ tình yêu của anh. Rồi anh đã cho em biết nhiều điều rất hay ho, chẳng hạn như ngôn ngữ và tâm linh vũ trụ. Qua đó em dần dà trở thành một phần của anh.

Cậu lắng nghe và thấy giọng nói của cô dễ thương hơn tiếng gió rì rào qua rừng chà là.

“Em đã chờ anh ở cái giếng này nhiều năm dài. Em không còn nhớ quá khứ của mình, quên luôn cả truyền thống và những gì đàn ông chờ đợi trong cách cư xử của phụ nữ vùng sa mạc chúng em. Từ thuở nhỏ em đã mơ sa mạc sẽ đem đến cho em món quà quí nhất đời mình. Món quà đó là anh”

Cậu nắm tay cô nhưng cô bận giữ quai bình

“Anh đã kể về giấc mộng của anh, về nhà vua già và về kho báu. Anh cũng đã kể về điềm, về dấu hiệu. Thành ra em không còn thấy lo âu gì nữa, vì chính những điềm ấy, những dấu hiệu ấy đã đưa anh đến đây. Còn em là một phần giấc mộng của anh, một phần của vận mệnh anh – theo cách anh gọi. Vì thế mà em muốn anh tiếp tục đi tìm kho báu của mình. Nếu anh phải đợi đến khi hết đánh nhau thì cũng tốt, nhưng nếu không thể đợi được thì anh cứ đi, để làm tròn sứ mệnh tiền định của mình. Các đồi cát thay đổi theo gió nhưng sa mạc không thay đổi bao giờ. Tình yêu của hai chúng ta cũng sẽ như thế” “Maktub”, cô nói thêm. “Nếu em là một phần của vận mệnh anh thì sẽ có một ngày anh trở về thôi”.

Sau lần gặp gỡ này cậu buồn bã ra về, lòng nhớ đến nhiều người đã từng quen biết. Những người chăn cừu đã có gia đình thường khó thuyết phục được các bà vợ lí do tại sao họ phải nay đây mai đó. Tình yêu đòi hỏi người ta phải ở gần người mình yêu. Hôm sau cậu nói với Fatima về điều này.

“Sa mạc đem đàn ông của chúng em đi nhưng không phải lúc nào cũng đưa họ trở về”, cô nói. “Chúng em đành chấp nhận. Nhưng họ vẫn tiếp tục sống trong những áng mây không đem lại mưa, trong những con vật náu mình giữa các tảng đá và trong làn nước tuôn đầy từ các giếng. Họ trở thành bộ phận của toàn thể, họ nhập vào tâm linh vũ trụ. Cũng có một số trở về được; điều này đem lại niềm vui và thêm hi vọng cho những người đàn bà đang mong mỏi rằng một ngày kia chồng con họ cũng sẽ trở về. Trước đây em ganh tị với những người đàn bà này, nhưng giờ đây em cũng có một người để mà chờ đợi. Em là một cô gái sa mạc và rất tự hào về điều này. Chồng em cần phải đi lại tự do như làn gió làm biến dạng các đồi cát. Và em cũng mong được thấy chồng em nhập vào trong những áng mây, trong những con thú và trong làn nước giếng”.

Cậu đi tìm chàng người Anh vì cậu muốn kể cho anh ta về Fatima. Cậu ngạc nhiên thấy anh ta đã dựng một cái lò nhỏ cạnh lều. Cái lò luyện trông thật quái dị, phía trên đặt một cái bình trong suốt. Trong lúc đốt lò bằng cành khô mắt anh ta nhìn ta sa mạc; đôi mắt như long lanh hơn những ngày chỉ chúi mũi vào sách.

“Đây là bước đầu”, anh ta cắt nghĩa. “Tôi phải tách lưu huỳnh ra. Để thành công tôi không được phép sợ sẽ thất bại nữa. Chính nỗi sợ này đã cản trở tôi thử đạt đến “Đại công trình”. Bây giờ tôi mới bắt đầu với một công đoạn mà lẽ ra tôi đã có thể làm từ mười năm trước rồi. Song ít ra tôi cũng mừng vì đã không đợi thêm hai mươi năm nữa”.

Anh ta cởi lửa rồi lại nhìn ra sa mạc. Cậu ngồi một lúc với anh ta cho đến khi sa mạc rực đỏ vì ráng chiều. Rồi cậu tha thiết muốn đi vào sa mạc xem thử sự tĩnh lặng có trả lời những câu hỏi của anh ta được không. Cậu đi không mục đích nhất định song mắt luôn trông chừng rừng chà là để khỏi lạc. Cậu lắng nghe tiếng gió và cảm nhận sỏi đá dưới chân mình. Thỉnh thoảng cậu lại thấy một vỏ sò và hiểu ra rằng sa mạc này xa xưa từng là biển. Rồi cậu ngồi xuống một tảng đá, nhìn như bị thôi miên vào chân trời trải dài trước mắt. Cậu không hiểu được tại sao yêu mà lại không có quyền đòi hỏi được sỡ hữu; nhưng vì Fatima là một cô gái sa mạc nên chỉ có sa mạc mới giúp cậu hiểu được thôi. Cậu ngồi im lặng hồi lâu không nghĩ ngợi gì cho đến khi cảm thấy có gì động đậy phía trên đầu. Cậu nhìn lên, thấy hai con chim bồ cắt đang bay lượn. Cậu nhìn đôi chim và những hình mà đường bay của chúng vẽ nên. Những đường ấy có vẻ không theo một trật tự nào, nhưng nhất định chúng phải có ý nghĩa; chỉ có điều cậu không giải thích được nghĩa đó thôi. Thành ra cậu muốn dõi theo đường bay của chim; biết đâu cậu có thể rút ra từ đó một thông điệp. Biết đâu sa mạc có thể giải thích cho cậu về loại tình yêu không cần được sở hữu. Chợt cậu thấy mệt mỏi. Trái tim cậu van cậu đừng ngủ gật mà phải hết sức chú tâm.

“Bây giờ mình thả hồn vào ngôn ngữ vũ trụ và thấy mọi chuyện trên thế giới đều có ý nghĩa, kể cả đường bay của chim”, cậu nghĩ. Cậu thầm cám ơn nỗi may mắn mà tình yêu của một người con gái đã đem đến cho mình. “Khi yêu thì tất cả lại càng có thêm ý nghĩa”.

Chợt một con chim đâm bổ xuống tấn công con kia. Trong cái động tác vụt qua ấy cậu chợt thấy một ảo ảnh: có một đạo quân vung gươm xông vào ốc đảo. Cái ảo ảnh kia chỉ xuất hiện trong chớp mắt rồi vụt biến, nhưng cậu hết sức lo sợ. Cậu đã được nghe về ảo giác và cũng đã từng thấy đôi lần; đó là những ước mơ mờ ảo biến thành cảnh như thật trên mặt cát nóng bỏng của sa mạc. Nhưng cậu đâu hề ước mơ có một đạo quân tấn công vào ốc đảo. Cậu muốn quên đi chuyện này bằng cách tập trung nhìn vào sa mạc lấp loáng ánh hồng và vào những tảng đá. Nhưng thâm cậu vẫn thấy gì đó bất an.

“Phải luôn chú ý tới điềm báo”, ông vua già bảo thế. Cậu nhớ tới Fatima, nhớ tới ảo giác mới đây và linh cảm rằng nó sắp xảy ra thật. Phải cố gắng lắm cậu mới thoát ra khỏi tình trạng như bị mê hoặc kia, đứng lên đi về phía hàng chà là. Một lần nữa cậu lại nhận thấy sự vật có nhiều cách tự diễn đạt. Lần này sa mạc trông có vẻ an toàn, còn ốc đảo như trở nên một nơi bất ổn. Người phu lạc đà ngồi dưới một gốc chà là, cũng đang ngắm nhìn mặt trời lặn. Ông ta thấy cậu bước ra từ sau một đụn cát.

“Một đạo quân đang trên đường tới đây. Tôi vừa có một ảo giác”, cậu nói.

“Sa mạc đáp ứng ước mơ của con người bằng cách tạo ra ảo giác”, người phu trầm tĩnh đáp.

Nhưng cậu kể ông ta nghe về đôi chim, rằng cậu đã dõi theo đường bay của chúng khi cậu thả hồn vào tâm linh vũ trụ. Nghe thế người phu không nói gì nữa. Ông thấu hiểu rất rõ điều cậu vừa kể. Ông biết mỗi sự vật trên thế gian này đều có thể kể được nhiều điều về mọi sự vật khác. Khi ông mở một quyển sách hoặc xem chỉ tay cho người, bói bài hay quan sát đường chim bay hoặc bất cứ làm gì khác thì mỗi việc như thế đều có thể liên hệ đến điều ông vừa ứng nghiệm. Thật ra sự vật không nói lên điều gì cả, mà chính do con người chú tâm vào sự vật nên đã phát hiện ra những khả năng thâm nhập vào tâm linh vũ trụ. Trong sa mạc có nhiều người đàn ông sống bằn cách thâm nhập vào tâm linh vũ trụ. Họ xưng là thầy bói, rất được giới phụ nữ và cụ già nể vì. Các chiến binh rất ít khi tìm đến họ vì khi biết trước sẽ bỏ mình trong trận đánh thì khó lòng ra trận được. Người chiến binh đam mê chiến trận, giống như kẻ phiêu lưu say mê những chân trời mới lạ; tương lai đã do Allah định sẵn rồi và mọi chuyện xảy ra cũng đều vì ích lợi của con người thôi. Do đó người chiến binh chỉ sống với hiện tại vì hiện tại đầy rẫy bất ngờ buộc họ phải quan tâm đến bao điều: lưỡi gươm của đối phương chém chỗ nào, vị trí của ngựa ở đâu và phải đỡ nhát chém thế nào để thoát chết. Người phu không phải là chiến binh và ông đã từng đi xem vài thầy bói. Có người đoán đúng, có người không. Cho tới cái lần người thầy bói cao tuổi nhất và được vì nể nhất hỏi ông tại sao lại quan tâm đến tương lai như thế.

“Để bắt tay ngay thực hiện một số việc và phòng ngừa những việc mà tôi không muốn xảy ra”, người phu đáp.

“Thế thì đó không còn là tương lai của ông nữa”, thầy bói nói.

“Có thể vì tôi muốn biết về tương lai để chuẩn bị trước, hầu sẵn sàng chờ đón nó”.

“Nếu là những điều lành thì ông sẽ được ngạc nhiên một cách thú vị”, thầy bói đáp. “Còn nếu là điều dữ thì ông sẽ đau khổ khá lâu trước khi nó xảy ra”.

“Tôi muốn biết về tương lai vì tôi là con người và mọi người đều sống vì tương lai”, người phu nói với thầy bói.

Nghe thế thầy bói im lặng. Thầy có thể bói que, rải que trên nền đất rồi giải đoán. Nhưng hôm ấy thầy không bói que.

“Tôi kiếm sống bằng cách đoán hậu vận”, thầy nói. “Tôi biết thuật bói que và biết phải sử dụng que thế nào để nhập được vào nơi ghi chép mọi sự trên đời này. Ở đó tôi có thể thấy được quá khứ, phát hiện những gì đã bị lãng quên và giải đoán những dấu hiệu của hiện tại. Khi khách tìm đến tôi hì tôi không biết được tương lai họ mà chỉ ước đoán thôi. Vì tương lai thuộc về Thượng Đế và Người chỉ khải thị trong những hoàn cảnh hết sức khác thường. Bằng cách nào mà tôi đoán tương lai? Chính là qua dấu hiệu của hiện tại. Bí ẩn nằm ngay trong hiện tại; nếu anh chú ý quan sát hiện tại thì anh có thể cải thiện được nó. Và khi anh đã làm cho hiện tại được tốt hơn. Vậy đừng nên nghĩ đến tương lai mà hãy sống từng ngày của đời mình theo giới luật của Thượng đế và luôn tin tưởng rằng Người cưu mang chúng ta là con cái của Người. Mỗi một ngày tự nó đã hàm chứa vĩnh cửu rồi”.

Người phu muốn biết trong hoàn cảnh hết sức khác thường nào mới được Thượng đế khải thị tương lai.

“Khi nào được Người ban cho ơn phước đó. Song rất hạn hữu, vì một lí do thôi: tương lai tuy đã được định sẵn nhưng vẫn còn có thể thay đổi được”.

Thượng đế đã khải thị cho cậu chăn cừu một khoảnh khắc của tương lai vì Người muốn dùng cậu làm sứ giả đưa tin.

“Cậu hãy đến gặp các tộc trưởng”, người phu nói, “để báo về các chiến binh đang tiến lại ốc đảo này”.

“Họ sẽ cười nhạo tôi mất”.

“Họ là người của sa mạc nên biết phải xử sự với điềm báo như thế nào”

“Vậy thì họ đã biết hết cả rồi chứ”.

“Họ không bận tâm đến chuyện ấy đâu, vì họ cho rằng Allah sẽ gửi đến một sứ giả đưa tin nếu Người có điều gì cần cho họ biết. Điều này thường vẫn xảy ra. Lần này người đưa tin là cậu đấy”.

Cậu nghĩ đến Fatima và quyết định đi tìm các tộc trưởng ngay tức thì.

36

“Tôi đem điềm của sa mạc đến đây”, cậu nói với người đứng canh cửa một cái lều trắng to tướng nằm chính giữa ốc đảo, “nên muốn thưa chuyện với các tộc trưởng”

Người gác không trả lời mà đi vào trong lều. Mãi sau hắn mới trở ra với một người Arập trẻ khoác áo hai màu trắng vàng. Cậu kể cho người Arập trẻ điều mình đã thấy. Anh ta yêu cầu cậu chờ rồi lại quay vào trong lều. Trời bắt đầu tối. Nhiều khách thương và dân ốc đảo vào ra cái lều ấy. Các đống lửa nối nhau tắt và ốc đảo lại yên ắng như sa mạc. Chỉ chiếc lều trắng to này là còn ánh đèn. Suốt thời gian đứng chờ cậu nghĩ đến Fatima và vẫn chưa hiểu rõ lắm những điều cô nói lúc xế trưa. Sau hàng giờ chờ đợi, người canh bảo cậu vào lều. Cậu choáng ngợp trước những gì mắt mình thấy. Làm sao có thể tưởng tượng nổi ngay giữa sa mạc lại có một cái lều tráng lệ đến thế. Nền phủ thảm quí mà đôi chân cậu chưa từng được đặt chân lên, trần treo loại đèn cắm nến bằng đồng thau trạm chổ. Phía trong lều, các tộc trưởng ngồi thành vòng cung trên nệm lụa thêu rất công phu, tay cũng tì trên nệm thêu như thế. Người hầu ra vào, kẻ bưng khay bạc đầy trà và những món thơm ngon, người lo tiếp than cho các ống điếu đừng tắt. Một mùi thơm dễ chịu lan khắp lều. Có tất cả tám tộc trưởng, song cậu nhận ra ngay người quan trọng nhất: đó là ông già Arập khoác áo trắng vàng ngồi giữa. Đứng cạnh ông là người Arập trẻ hồi nãy

“Ai là người lạ đã kể về điềm báo?” Một tộc trưởng nhìn cậu hỏi

“Chính tôi đây”, cậu đáp rồi thuật lại những gì đã thấy

“Cớ sao sa mạc lại báo cho một người lạ như cậu biết điều này, chứ không báo cho chúng ta là những kẻ đã sống ở đây từ bao đời rồi?” Một tộc trưởng khác hỏi

“Vì mắt tôi còn lạ lẫm với sa mạc nên tôi còn nhận ra những điềm mà các đôi mắt quá quen không thấy được nữa”, cậu đáp.

“Và cũng vì tôi biết tâm linh vũ trụ”, cậu thầm nghĩ nhưng chỉ để bụng vì người Arập hẳn không tin chuyện này.

“Ốc đảo là vùng trung lập”, tộc trưởng thứ ba nói. “Sẽ không ai dám tấn công nó cả”.

“Tôi chỉ thuật lại những gì mình thấy. Nếu các ông không muốn tin thì thôi”

Căn lều lặng như tờ một lúc, rồi các tộc trưởng tranh luận sôi nổi. Họ nói một thứ thổ ngữ Arập mà cậu không hiểu; nhưng khi cậu định ra khỏi lều thì bị người canh giữ lại. Lúc này cậu bắt đầu sợ. Có gì đó không ổn rồi. Cậu ân hận đã nghe lời người phu lạc đà. Chợt ông già ngồi giữa hơi hé miệng cười khiến cậu thấy yên tâm. Ông không tham gia cuộc tranh luận của những người kia và đến lúc này cũng chưa nói tiếng nào. Còn cậu, vì lúc này đã quen với thứ ngôn ngữ vũ trụ, nhận ra rằng từ ông toát ra một vẻ an bình. Trực giác cho cậu thấy mình đến đây là đúng. Cuộc tranh luận chấm dứt, ai nấy chăm chú lắng nghe phản ứng của ông già. Ông nhìn cậu; lúc này vẻ mặt ông lạnh lùng và khó gần

“Hai nghìn năm trước ở một đất nước xa xôi có một chàng trai bị ném xuống giếng rồi bị bán làm nô lệ, vì hắn tin vào giấc mộng”, ông già nói. “Các khách thương nước ta đã mua rồi đem hắn đến Ai Cập. Mỗi người trong chúng ta đều biết ai tin vào giấc mộng thì cũng có thể giải mộng được”.

“Không phải lúc nào cũng giải được đâu”, cậu liên tưởng đến bà già Zigeuner

“Vì Pharao mơ thấy bò gầy và bò mập mà hắn lại giải được giấc mơ ấy nên đã cứu dân Ai Cập thoát khỏi nạn đói. Tên hắn là Josef. Hắn cũng ở trên một đất nước lạ, giống như cậu vậy và lúc ấy có lẽ cũng trạc tuổi cậu”. Ông ngừng nói, đôi mắt vẫn lạnh lùng. “Chúng ta luôn sống theo truyền thống. Thuở đó truyền thống đã cứu dân Ai Cập khỏi nạn đói và khiến họ trở thành dân tộc giàu có nhất thế gian. Truyền thống dạy đàn ông chúng ta cách vượt sa mạc và tổ chức hôn lễ cho con cái như thế nào. Truyền thống cũng dạy rằng ốc đảo là nơi trung lập, vì phe nào cũng có ốc đảo và chúng không được ai che chở cả”.

Trong khi ông nói thì không ai xen một lời nào.

“Nhưng truyền thống cũng dạy chúng ta phải tin vào thông điệp của sa mạc. Mọi điều chúng ta biết đều là do học được từ sa mạc cả”.

Ông ra hiệu và mọi người đứng cả dậy. Buổi họp chấm dứt. Các ống điếu Nargileh được dụi tắt và đám người canh đứng vào vị trí.

Cậu dợm đi ra thì ông già nói: “Sáng mai chúng ta sẽ phạm vào lời thề rằng trong ốc đảo không ai được mang vũ khí. Suốt ngày mai chúng ta sẽ chờ đón quân địch. Khi mặt trời lặn thì mọi người nộp khí giới lại cho ta. Cứ mười kẻ địch bị giết thì cậu được thưởng một đồng tiền vàng. Tuy nhiên, vũ khí không được phép đem ra từ nơi cất giấu mà không được sử dụng. Chúng đồng bóng chẳng khác sa mạc, nếu đem ra mà không dùng đến thì lần sau có thể chúng sẽ không chịu để ta sử dụng nữa đâu. Do đó, nếu ngày mai không cần tới chúng thì ít nhất cũng phải có một cái dành cho cậu đó”.

37

Khi cậu ra khỏi lều họp thì ốc đảo chỉ còn ánh trăng soi sáng. cậu đi thêm hai mươi phút nữa mới về tới lều của mình. Những chuyện xảy ra mới đây khiến cậu hoảng sợ. Cậu đã nhập vào tâm linh vũ trụ và có thể sẽ phải trả giá bằng mạng sống của mình. Ván bài đắt quá. Nhưng từ ngày bán đi bầy cừu để theo đuổi chính vận mệnh mình lúc nào cậu cũng đánh cuộc với giá cao. Người phu lạc đà đã nói sao nhỉ: chết vào ngày mai thì cũng chẳng khác chết vào bất cứ một ngày nào khác. Mỗi ngày là để ta sống hoặc để từ giã cõi đời. Mọi sự tùy vào một chữ thôi: “Maktub”

Cậu bình thản đi, lòng không ân hận gì. Nếu ngày mai cậu chết thì cũng chính bởi vì Thượng đế không thích thay đổi tương lai. Dù cậu có chết thì cũng là chết sau khi đã vượt eo biển, để làm việc trong cửa hàng pha lê, đã được biết sự yên ắng của sa mạc và đôi mắt Fatima. Đã từ lâu, từ khi rời nhà đi, mỗi một ngày cậu đều đã sống hết mình. Nếu ngày mai có chết thì mắt cậu đã được thấy rất nhiều, hơn hẳn những người chăn cừu khác và cậu rất hãnh diện về điều này. Chợt có tiếng vó ngựa và cậu bị một làn gió cực mạnh hất ngã xuống đất. Quanh cậu bụi tung mù mịt, che khuất cả mặt trăng. Trước mặt cậu một con ngựa khổng lồ cất cao hai vó trước, hí vang khiếp đảm. Khi đã bớt bụi thì hình ảnh cậu nhìn thấy khiến cậu sợ choáng người, chưa bao giờ sợ đến thế: một kị sĩ mặt toàn đen ngồi trên mình ngựa, một con chim ưng đậu trên vai trái. Người ấy đội khăn xếp, che kín mặt chỉ hở hai mắt, giống như những “sứ giả của sa mạc” nhưng oai phong hơn nhiều. Người kị sĩ đầy bí mật kia rút từ yên ngựa một thanh kiếm cong; thép lấp lánh dưới ánh trăng.

“Kẻ nào đã cả gan giải đoán đường bay của chim bồ cắt?” Tiếng người ấy như sấm dậy, vang vọng giữa năm vạn gốc chà là của ốc đảo El Fayum

“Tôi đấy”, cậu đáp và liên tưởng tới tượng thánh Santiago de Compostela trên mình ngựa phóng qua đầu lũ ngoại đạo. Khác chăng là giờ đây kẻ ngoại đạo kia như tượng thánh trên mình ngựa, còn cậu nằm lăn dưới đất.

“Tôi đấy”, cậu đáp rồi cúi đầu để tránh nhát kiếm. “Nhiều mạng người sẽ được tâm linh vũ trụ cứu thoát; đó là điều mà ông đã không ngờ tới”.

Nhưng lưỡi kiếm không chém xả xuống cậu mà cánh tay người lạ chỉ hạ xuống từ từ cho đến khi mũi kiếm chạm vào trán cậu. Kiếm sắc làm trán cậu rỉ máu. Người kị sĩ bất động. Cậu cũng bất động. Cậu không nghĩ đến chạy trốn mà thấy trong lòng rạo rực một niềm vui kì lạ: mình sẽ chết vì đã quyết tâm theo vận mệnh của mình. Và vì Fatima. Thế có nghĩa là các điềm báo không sai. Hiện cậu đối mặt với kẻ thù và chẳng việc gì phải bận tâm về cái chết vì tâm linh vũ trụ đang chờ đón mình. Cậu sẽ nhanh chóng trở thành một phần của linh hồn ấy. Và ngày mai kẻ thù kia cũng sẽ thành một phần của nó nốt. Người lạ vẫn dí kiếm trên trán cậu.

“Tại sao mi lại giải đoán đường bay của chim?”

“Tôi chỉ đọc những gì chim muốn báo thôi. Chim muốn cứu ốc đảo còn các người sẽ phải chết. Ốc đảo đông hơn lũ các người”.

Mũi kiếm vẫn không rời trán cậu.

“Mi là ai mà táo gan muốn thay đổi số phận đã được Allah quyết định?”

“Allah tạo dựng các đạo quân cũng như người sinh ra lũ chim kia. Người đã dạy tôi ngôn ngữ của loài chim. Mọi điều đều do một bàn tay viết nên cả”, cậu nói, dùng từ ngữ của người phu lạc đà.

Người lạ thu kiếm về. Cậu thấy nhẹ cả người nhưng vẫn không có ý bỏ chạy.

“Đừng có đoán mò”, người lạ nói. “Điều gì đã được bàn tay nọ ghi sẵn rồi thì không cản được đâu”.

“Tôi chỉ trông thấy một đạo quân chứ không biết được trận đánh kết thúc thế nào”, cậu đáp

Người lạ có vẻ hài lòng với câu trả lời, song vẫn lăm lăm thanh kiếm trong tay.

“Một người lạ như mi đến xứ lạ này để làm gì?”

“Tôi đi theo vận mệnh của mình. Nhưng ông không thể hiểu được đâu”.

Người kị sĩ tra kiếm vào vỏ; con chim ưng trên vai ông ta bỗng kêu lên nghe rất lạ. Cậu thấy bớt căng thẳng

“Ta muốn thử lòng can đảm của cậu đó thôi”, người lạ nói. “Vì can đảm là điều thiết yếu để hiểu được ngôn ngữ vũ trụ”.

Cậu ngạc nhiên. Người lạ này nói về những điều mà rất ít người biết.

“Không được phép sao nhãng, dù đã tiến rất xa”, ông ta nói tiếp. “Phải yêu quí sa mạc, nhưng không bao giờ được tin nó tuyệt đối, vì sa mạc luôn thử thách con người: nó sẽ giết những kẻ nào lơ là, không cân nhắc từng bước đi một”. Những điều ông ta nói khiến cậu liên tưởng đến vị vua già.

“Nếu đạo quân ấy đến đây thật và khi mặt trời lặn mà đầu cậu vẫn chưa rụng thì hãy tìm ta”, người lạ nói.

Bàn tay mới đây vung kiếm giờ vung một cái roi. Con ngựa bạch lại tung hai vó trước làm cát bụi bay mù.

“Ông ở chỗ nào?” Cậu gọi với theo khi kị sĩ phóng ngựa đi.

Bàn tay cầm roi chỉ về hướng Nam. Thế là cậu đã gặp nhà luyện kim đan.

39

Khi mặt trời lặn và sao trời vừa ló dạng – không tỏ vì hôm ấy trăng tròn – cậu đi về hướng Nam. Ở đó chỉ một cái lều duy nhất và những người Arập đi ngang đều bảo cậu rằng chỗ này chỉ toàn là Dschinn – quỉ thần – thôi. Những cậy vẫn ngồi đợi trên một tảng đá. Mãi khi mặt trăng đã lên cao nhà luyện kim đan mới xuất hiện. Ông đeo lủng lẳng trên vai hai con chim bồ cắt đã chết.

“Cháu ở đây này”, cậu lên tiếng.

“Cậu không nên ở lại ốc đảo này”, nhà luyện kim đan nói. “Hay là vận mệnh cậu đã xui khiến cậu tối đây?”

“Vì có đánh nhau giữa các bộ tộc, thành ra cháy không thể đi tiếp qua sa mạc đuợc”.

Nhà luyện kim đan xuống ngựa, ra hiệu cho cậu theo ông vào trong lều. Nó giống mọi lều khác ở ốc đảo, không kể lều của các tộc trưởng sang trọng như trong truyền thần thoại. cậu đưa mắt tìm lò luyện, bình và nồi nấu nhưng không thấy gì cả. Chỉ có sách xếp chồng lên nhau, một cái bếp và những tấm thảm đầy hình vẽ kì quái.

“Ngồi đây, ta đi nấu trà”, nhà luyện kim đan nói. “Rồi mình thưởng thức thịt chim bồ cắt”.

Cậu ngờ ngợ rằng đó là hai con chim mình thấy hôm qua nhưng không nói gì. Nhà luyện kim đan nhóm lửa, rồi chỉ một lúc sau căn lều nức mùi thịt chiên. Dễ chịu hơn mùi thơm của ống điếu nhiều.

“Vì lí do gì ông muốn gặp cháu?” Cậu hỏi

“Vì điềm báo. Gió đã báo cho ta là cậu tới đây, và cậu cần được giúp đỡ”.

“Không phải cháu đâu mà là anh chàng người Anh cơ. Anh ta đã tìm ông mãi”

“Hắn còn phải làm cho xong một số điều khác, trước khi gặp được ta. Nhưng hắn đã đi đúng hướng rồi đấy. Hắn đã bắt đầu tìm hiểu sa mạc”.

“Thế còn cháu?”

“Khi người nào muốn điều gì thì cả vũ trụ sẽ chung sức lại để người ấy đạt được điều mơ ước”, nhà luyện kim đan nói.

Ông lập lại những lời của nhà vua già. Cậu hiểu ngay. Lại thêm một nguời đón gặp và dẫn mình đến gần với vận mệnh của mình.

“Ông sẽ chỉ dạy cháu chứ?”

“Không. Vì cậu đã biết hết những gì cần biết. Ta sẽ chỉ cho cậu phương hướng của kho tàng thôi”.

“Nhưng mà đang có đánh nhau”, cậu nhắc lại

“Ta biết chuyện gì đang xảy ra trên sa mạc”

“Cháu đã tìm thấy kho báy rồi vì hiện cháu có một con lạc đà, cộng thêm số tiền từ hồi làm ở hiệu pha lê và năm mươi đồng tiền vàng. Cháu sẽ là một người có của ở đất nước mình”.

“Nhưng chẳng thứ nào ở Kim Tự Tháp cả”

“Cháu có Fatima. Nàng là kho báu quí nhất của cháu”

“Nhưng cô bé ấy cũng có ở Kim Tự Tháp đâu”.

Hai người ăn thịt chim trong lặng lẽ. Nhà luyện kim đan mở một cái chai rồi rót một chất lỏng màu đỏ vào li của cậu. Rượu vang! Và là thứ rượu tuyệt nhất của cậu từng uống.

“Đạo cấm uống rượu mà!”

“Những thứ vào miệng con người không độc hại, xấu xa”, nhà luyện kim đan đáp. “Xấu xa độc hại là những gì từ miệng họ tuôn ra. ”

Rượu làm cậu hưng phấn nhưng nhà luyện kim đan khiến cậu băn khoăn. Họ ngồi trước lều ngắm trăng. Trăng sáng làm ánh sao nhạt dần

“Uống nữa đi”, nhà luyện kim đan nói khi thấy cậu vui vẻ hẳn lên. “Rồi hãy ngủ yên tối nay, như một chiến binh trước ngày ra trận. Đừng quên rằng trái tim cậu ở đâu thì kho báu cũng ở đó; cũng như phải tìm cho ra kho tàng thì những gì cậu học được trên đường mới thật có ý nghĩa. Ngày mai cậu hãy bán lạc đà đi, mua một con ngựa. Lạc đà khó lường lắm: chúng đi cả nghìn bước chẳng có dấu hiệu mệt mỏi nào cả, nhưng thình lình khuỵu xuống rồi chết đứ đừ. Ngựa thì mệt từ từ, thành ra người ta luôn luôn lường trước được có thể thúc ép chúng tới mức nào và chừng nào chúng sẽ chết”.

The Alchemist

by Paulo Coelho

Chapter 8 

The boy couldn’t believe what he was seeing: the oasis, rather than being just a well surrounded by a few palm trees—as he had seen once in a geography book—was much larger than many towns back in Spain. There were three hundred wells, fifty thousand date trees, and innumerable colored tents spread among them.

“It looks like The Thousand and One Nights,” said the Englishman, impatient to meet with the alchemist.

They were surrounded by children, curious to look at the animals and people that were arriving. The men of the oasis wanted to know if they had seen any fighting, and the women competed with one another for access to the cloth and precious stones brought by the merchants. The silence of the desert was a distant dream; the travelers in the caravan were talking incessantly, laughing and shouting, as if they had emerged from the spiritual world and found themselves once again in the world of people. They were relieved and happy.

They had been taking careful precautions in the desert, but the camel driver explained to the boy that oases were always considered to be neutral territories, because the majority of the inhabitants were women and children. There were oases throughout the desert, but the tribesmen fought in the desert, leaving the oases as places of refuge.

With some difficulty, the leader of the caravan brought all his people together and gave them his instructions. The group was to remain there at the oasis until the conflict between the tribes was over. Since they were visitors, they would have to share living space with those who lived there, and would be given the best accommodations. That was the law of hospitality. Then he asked that everyone, including his own sentinels, hand over their arms to the men appointed by the tribal chieftains.

“Those are the rules of war,” the leader explained. “The oases may not shelter armies or troops.”

To the boy’s surprise, the Englishman took a chrome-plated revolver out of his bag and gave it to the men who were collecting the arms.

“Why a revolver?” he asked.

“It helped me to trust in people,” the Englishman answered.

Meanwhile, the boy thought about his treasure. The closer he got to the realization of his dream, the more difficult things became. It seemed as if what the old king had called “beginner’s luck” were no longer functioning. In his pursuit of the dream, he was being constantly subjected to tests of his persistence and courage. So he could not be hasty, nor impatient. If he pushed forward impulsively, he would fail to see the signs and omens left by God along his path.

God placed them along my path. He had surprised himself with the thought. Until then, he had considered the omens to be things of this world. Like eating or sleeping, or like seeking love or finding a job. He had never thought of them in terms of a language used by God to indicate what he should do.

“Don’t be impatient,” he repeated to himself. “It’s like the camel driver said: ‘Eat when it’s time to eat. And move along when it’s time to move along.’ ”

That first day, everyone slept from exhaustion, including the Englishman. The boy was assigned a place far from his friend, in a tent with five other young men of about his age. They were people of the desert, and clamored to hear his stories about the great cities.

The boy told them about his life as a shepherd, and was about to tell them of his experiences at the crystal shop when the Englishman came into the tent.

“I’ve been looking for you all morning,” he said, as he led the boy outside. “I need you to help me find out where the alchemist lives.”

First, they tried to find him on their own. An alchemist would probably live in a manner that was different from that of the rest of the people at the oasis, and it was likely that in his tent an oven was continuously burning. They searched everywhere, and found that the oasis was much larger than they could have imagined; there were hundreds of tents.

“We’ve wasted almost the entire day,” said the Englishman, sitting down with the boy near one of the wells.

“Maybe we’d better ask someone,” the boy suggested.

The Englishman didn’t want to tell others about his reasons for being at the oasis, and couldn’t make up his mind. But, finally, he agreed that the boy, who spoke better Arabic than he, should do so. The boy approached a woman who had come to the well to fill a goatskin with water.

“Good afternoon, ma’am. I’m trying to find out where the alchemist lives here at the oasis.”

The woman said she had never heard of such a person, and hurried away. But before she fled, she advised the boy that he had better not try to converse with women who were dressed in black, because they were married women. He should respect tradition.

The Englishman was disappointed. It seemed he had made the long journey for nothing. The boy was also saddened; his friend was in pursuit of his destiny. And, when someone was in such pursuit, the entire universe made an effort to help him succeed—that’s what the old king had said. He couldn’t have been wrong.

“I had never heard of alchemists before,” the boy said. “Maybe no one here has, either.”

The Englishman’s eyes lit up. “That’s it! Maybe no one here knows what an alchemist is! Find out who it is who cures the people’s illnesses!”

Several women dressed in black came to the well for water, but the boy would speak to none of them, despite the Englishman’s insistence. Then a man approached.

“Do you know someone here who cures people’s illnesses?” the boy asked.

“Allah cures our illnesses,” said the man, clearly frightened of the strangers. “You’re looking for witch doctors.” He spoke some verses from the Koran, and moved on.

Another man appeared. He was older, and was carrying a small bucket. The boy repeated his question.

“Why do you want to find that sort of person?” the Arab asked.

“Because my friend here has traveled for many months in order to meet with him,” the boy said.

“If such a man is here at the oasis, he must be the very powerful one,” said the old man after thinking for a few moments. “Not even the tribal chieftains are able to see him when they want to. Only when he consents.

“Wait for the end of the war. Then leave with the caravan. Don’t try to enter into the life of the oasis,” he said, and walked away.

But the Englishman was exultant. They were on the right track.

Finally, a young woman approached who was not dressed in black. She had a vessel on her shoulder, and her head was covered by a veil, but her face was uncovered. The boy approached her to ask about the alchemist.

At that moment, it seemed to him that time stood still, and the Soul of the World surged within him. When he looked into her dark eyes, and saw that her lips were poised between a laugh and silence, he learned the most important part of the language that all the world spoke—the language that everyone on earth was capable of understanding in their heart. It was love. Something older than humanity, more ancient than the desert. Something that exerted the same force whenever two pairs of eyes met, as had theirs here at the well. She smiled, and that was certainly an omen—the omen he had been awaiting, without even knowing he was, for all his life. The omen he had sought to find with his sheep and in his books, in the crystals and in the silence of the desert.

It was the pure Language of the World. It required no explanation, just as the universe needs none as it travels through endless time. What the boy felt at that moment was that he was in the presence of the only woman in his life, and that, with no need for words, she recognized the same thing. He was more certain of it than of anything in the world. He had been told by his parents and grandparents that he must fall in love and really know a person before becoming committed. But maybe people who felt that way had never learned the universal language. Because, when you know that language, it’s easy to understand that someone in the world awaits you, whether it’s in the middle of the desert or in some great city. And when two such people encounter each other, and their eyes meet, the past and the future become unimportant. There is only that moment, and the incredible certainty that everything under the sun has been written by one hand only. It is the hand that evokes love, and creates a twin soul for every person in the world. Without such love, one’s dreams would have no meaning.

Maktub, thought the boy.

The Englishman shook the boy: “Come on, ask her!”

The boy stepped closer to the girl, and when she smiled, he did the same.

“What’s your name?” he asked.

“Fatima,” the girl said, averting her eyes.

“That’s what some women in my country are called.”

“It’s the name of the Prophet’s daughter,” Fatima said. “The invaders carried the name everywhere.” The beautiful girl spoke of the invaders with pride.

“It’s the name of the Prophet’s daughter,” Fatima said. “The invaders carried the name everywhere.” The beautiful girl spoke of the invaders with pride.

The Englishman prodded him, and the boy asked her about the man who cured people’s illnesses.

“That’s the man who knows all the secrets of the world,” she said. “He communicates with the genies of the desert.”

The genies were the spirits of good and evil. And the girl pointed to the south, indicating that it was there the strange man lived. Then she filled her vessel with water and left.

The Englishman vanished, too, gone to find the alchemist. And the boy sat there by the well for a long time, remembering that one day in Tarifa the levanter had brought to him the perfume of that woman, and realizing that he had loved her before he even knew she existed. He knew that his love for her would enable him to discover every treasure in the world.

The next day, the boy returned to the well, hoping to see the girl. To his surprise, the Englishman was there, looking out at the desert,

“I waited all afternoon and evening,” he said. “He appeared with the first stars of evening. I told him what I was seeking, and he asked me if I had ever transformed lead into gold. I told him that was what I had come here to learn.

“He told me I should try to do so. That’s all he said: ‘Go and try.’ ”

The boy didn’t say anything. The poor Englishman had traveled all this way, only to be told that he should repeat what he had already done so many times.

“So, then try,” he said to the Englishman.

“That’s what I’m going to do. I’m going to start now.”

As the Englishman left, Fatima arrived and filled her vessel with water.

“I came to tell you just one thing,” the boy said. “I want you to be my wife. I love you.”

The girl dropped the container, and the water spilled.

“I’m going to wait here for you every day. I have crossed the desert in search of a treasure that is somewhere near the Pyramids, and for me, the war seemed a curse. But now it’s a blessing, because it brought me to you.”

“The war is going to end someday,” the girl said.

The boy looked around him at the date palms. He reminded himself that he had been a shepherd, and that he could be a shepherd again. Fatima was more important than his treasure.

“The tribesmen are always in search of treasure,” the girl said, as if she had guessed what he was thinking. “And the women of the desert are proud of their tribesmen.”

She refilled her vessel and left.

The boy went to the well every day to meet with Fatima. He told her about his life as a shepherd, about the king, and about the crystal shop. They became friends, and except for the fifteen minutes he spent with her, each day seemed that it would never pass. When he had been at the oasis for almost a month, the leader of the caravan called a meeting of all of the people traveling with him.

“We don’t know when the war will end, so we can’t continue our journey,” he said. “The battles may last for a long time, perhaps even years. There are powerful forces on both sides, and the war is important to both armies. It’s not a battle of good against evil. It’s a war between forces that are fighting for the balance of power, and, when that type of battle begins, it lasts longer than others—because Allah is on both sides.”

The people went back to where they were living, and the boy went to meet with Fatima that afternoon. He told her about the morning’s meeting. “The day after we met,” Fatima said, “you told me that you loved me. Then, you taught me something of the universal language and the Soul of the World. Because of that, I have become a part of you.”

The boy listened to the sound of her voice, and thought it to be more beautiful than the sound of the wind in the date palms.

“I have been waiting for you here at this oasis for a long time. I have forgotten about my past, about my traditions, and the way in which men of the desert expect women to behave. Ever since I was a child, I have dreamed that the desert would bring me a wonderful present. Now, my present has arrived, and it’s you.”

The boy wanted to take her hand. But Fatima’s hands held to the handles of her jug.

“You have told me about your dreams, about the old king and your treasure. And you’ve told me about omens. So now, I fear nothing, because it was those omens that brought you to me. And I am a part of your dream, a part of your destiny, as you call it.

“That’s why I want you to continue toward your goal. If you have to wait until the war is over, then wait. But if you have to go before then, go on in pursuit of your dream. The dunes are changed by the wind, but the desert never changes. That’s the way it will be with our love for each other.

“Maktub,” she said. “If I am really a part of your dream, you’ll come back one day.”

The boy was sad as he left her that day. He thought of all the married shepherds he had known. They had a difficult time convincing their wives that they had to go off into distant fields. Love required them to stay with the people they loved.

He told Fatima that, at their next meeting.

“The desert takes our men from us, and they don’t always return,” she said. “We know that, and we are used to it. Those who don’t return become a part of the clouds, a part of the animals that hide in the ravines and of the water that comes from the earth. They become a part of everything… they become the Soul of the World.

“Some do come back. And then the other women are happy because they believe that their men may one day return, as well. I used to look at those women and envy them their happiness. Now, I too will be one of the women who wait.

“I’m a desert woman, and I’m proud of that. I want my husband to wander as free as the wind that shapes the dunes. And, if I have to, I will accept the fact that he has become a part of the clouds, and the animals and the water of the desert.”

The boy went to look for the Englishman. He wanted to tell him about Fatima. He was surprised when he saw that the Englishman had built himself a furnace outside his tent. It was a strange furnace, fueled by firewood, with a transparent flask heating on top. As the Englishman stared out at the desert, his eyes seemed brighter than they had when he was reading his books.

“This is the first phase of the job,” he said. “I have to separate out the sulfur. To do that successfully, I must have no fear of failure. It was my fear of failure that first kept me from attempting the Master Work. Now, I’m beginning what I could have started ten years ago. But I’m happy at least that I didn’t wait twenty years.”

He continued to feed the fire, and the boy stayed on until the desert turned pink in the setting sun. He felt the urge to go out into the desert, to see if its silence held the answers to his questions.

He wandered for a while, keeping the date palms of the oasis within sight. He listened to the wind, and felt the stones beneath his feet. Here and there, he found a shell, and realized that the desert, in remote times, had been a sea. He sat on a stone, and allowed himself to become hypnotized by the horizon. He tried to deal with the concept of love as distinct from possession, and couldn’t separate them. But Fatima was a woman of the desert, and, if anything could help him to understand, it was the desert.

As he sat there thinking, he sensed movement above him. Looking up, he saw a pair of hawks flying high in the sky.

He watched the hawks as they drifted on the wind. Although their flight appeared to have no pattern, it made a certain kind of sense to the boy. It was just that he couldn’t grasp what it meant. He followed the movement of the birds, trying to read something into it. Maybe these desert birds could explain to him the meaning of love without ownership.

He felt sleepy. In his heart, he wanted to remain awake, but he also wanted to sleep. “I am learning the Language of the World, and everything in the world is beginning to make sense to me… even the flight of the hawks,” he said to himself. And, in that mood, he was grateful to be in love. When you are in love, things make even more sense, he thought.

Suddenly, one of the hawks made a flashing dive through the sky, attacking the other. As it did so, a sudden, fleeting image came to the boy: an army, with its swords at the ready, riding into the oasis. The vision vanished immediately, but it had shaken him. He had heard people speak of mirages, and had already seen some himself: they were desires that, because of their intensity, materialized over the sands of the desert. But he certainly didn’t desire that an army invade the oasis.

He wanted to forget about the vision, and return to his meditation. He tried again to concentrate on the pink shades of the desert, and its stones. But there was something there in his heart that wouldn’t allow him to do so.

“Always heed the omens,” the old king had said. The boy recalled what he had seen in the vision, and sensed that it was actually going to occur.

He rose, and made his way back toward the palm trees. Once again, he perceived the many languages in the things about him: this time, the desert was safe, and it was the oasis that had become dangerous.

The camel driver was seated at the base of a palm tree, observing the sunset. He saw the boy appear from the other side of the dunes.

“An army is coming,” the boy said. “I had a vision.”

“The desert fills men’s hearts with visions,” the camel driver answered.

But the boy told him about the hawks: that he had been watching their flight and had suddenly felt himself to have plunged to the Soul of the World.

The camel driver understood what the boy was saying. He knew that any given thing on the face of the earth could reveal the history of all things. One could open a book to any page, or look at a person’s hand; one could turn a card, or watch the flight of the birds… whatever the thing observed, one could find a connection with his experience of the moment. Actually, it wasn’t that those things, in themselves, revealed anything at all; it was just that people, looking at what was occurring around them, could find a means of penetration to the Soul of the World.

The desert was full of men who earned their living based on the ease with which they could penetrate to the Soul of the World. They were known as seers, and they were held in fear by women and the elderly. Tribesmen were also wary of consulting them, because it would be impossible to be effective in battle if one knew that he was fated to die. The tribesmen preferred the taste of battle, and the thrill of not knowing what the outcome would be; the future was already written by Allah, and what he had written was always for the good of man. So the tribesmen lived only for the present, because the present was full of surprises, and they had to be aware of many things: Where was the enemy’s sword? Where was his horse? What kind of blow should one deliver next in order to remain alive? The camel driver was not a fighter, and he had consulted with seers. Many of them had been right about what they said, while some had been wrong. Then, one day, the oldest seer he had ever sought out (and the one most to be feared) had asked why the camel driver was so interested in the future.

“Well… so I can do things,” he had responded. “And so I can change those things that I don’t want to happen.”

“But then they wouldn’t be a part of your future,” the seer had said.

“Well, maybe I just want to know the future so I can prepare myself for what’s coming.”

“If good things are coming, they will be a pleasant surprise,” said the seer. “If bad things are, and you know in advance, you will suffer greatly before they even occur.”

“I want to know about the future because I’m a man,” the camel driver had said to the seer. “And men always live their lives based on the future.”

The seer was a specialist in the casting of twigs; he threw them on the ground, and made interpretations based on how they fell. That day, he didn’t make a cast. He wrapped the twigs in a piece of cloth and put them back in his bag.

“I make my living forecasting the future for people,” he said. “I know the science of the twigs, and I know how to use them to penetrate to the place where all is written. There, I can read the past, discover what has already been forgotten, and understand the omens that are here in the present.

“When people consult me, it’s not that I’m reading the future; I am guessing at the future. The future belongs to God, and it is only he who reveals it, under extraordinary circumstances. How do I guess at the future? Based on the omens of the present. The secret is here in the present. If you pay attention to the present, you can improve upon it. And, if you improve on the present, what comes later will also be better. Forget about the future, and live each day according to the teachings, confident that God loves his children. Each day, in itself, brings with it an eternity.”

The camel driver had asked what the circumstances were under which God would allow him to see the future.

“Only when he, himself, reveals it. And God only rarely reveals the future. When he does so, it is for only one reason: it’s a future that was written so as to be altered.”

God had shown the boy a part of the future, the camel driver thought. Why was it that he wanted the boy to serve as his instrument?

“Go and speak to the tribal chieftains,” said the camel driver. “Tell them about the armies that are approaching.”

“They’ll laugh at me.”

“They are men of the desert, and the men of the desert are used to dealing with omens.”

“Well, then, they probably already know.”

“They’re not concerned with that right now. They believe that if they have to know about something Allah wants them to know, someone will tell them about it. It has happened many times before. But, this time, the person is you.”

The boy thought of Fatima. And he decided he would go to see the chiefs of the tribes.u

*

The boy approached the guard at the front of the huge white tent at the center of the oasis.

“I want to see the chieftains. I’ve brought omens from the desert.”

Without responding, the guard entered the tent, where he remained for some time. When he emerged, it was with a young Arab, dressed in white and gold. The boy told the younger man what he had seen, and the man asked him to wait there. He disappeared into the tent.

Night fell, and an assortment of fighting men and merchants entered and exited the tent. One by one, the campfires were extinguished, and the oasis fell as quiet as the desert. Only the lights in the great tent remained. During all this time, the boy thought about Fatima, and he was still unable to understand his last conversation with her.

Finally, after hours of waiting, the guard bade the boy enter. The boy was astonished by what he saw inside. Never could he have imagined that, there in the middle of the desert, there existed a tent like this one. The ground was covered with the most beautiful carpets he had ever walked upon, and from the top of the structure hung lamps of hand-wrought gold, each with a lighted candle. The tribal chieftains were seated at the back of the tent in a semicircle, resting upon richly embroidered silk cushions. Servants came and went with silver trays laden with spices and tea. Other servants maintained the fires in the hookahs. The atmosphere was suffused with the sweet scent of smoke.

There were eight chieftains, but the boy could see immediately which of them was the most important: an Arab dressed in white and gold, seated at the center of the semicircle. At his side was the young Arab the boy had spoken with earlier.

“Who is this stranger who speaks of omens?” asked one of the chieftains, eyeing the boy.

“It is I,” the boy answered. And he told what he had seen.

“Why would the desert reveal such things to a stranger, when it knows that we have been here for generations?” said another of the chieftains.

“Because my eyes are not yet accustomed to the desert,” the boy said. “I can see things that eyes habituated to the desert might not see.”

And also because I know about the Soul of the World, he thought to himself.

“The oasis is neutral ground. No one attacks an oasis,” said a third chieftain.

“I can only tell you what I saw. If you don’t want to believe me, you don’t have to do anything about it.”

The men fell into an animated discussion. They spoke in an Arabic dialect that the boy didn’t understand, but, when he made to leave, the guard told him to stay. The boy became fearful; the omens told him that something was wrong. He regretted having spoken to the camel driver about what he had seen in the desert.

Suddenly, the elder at the center smiled almost imperceptibly, and the boy felt better. The man hadn’t participated in the discussion, and, in fact, hadn’t said a word up to that point. But the boy was already used to the Language of the World, and he could feel the vibrations of peace throughout the tent. Now his intuition was that he had been right in coming.

The discussion ended. The chieftains were silent for a few moments as they listened to what the old man was saying. Then he turned to the boy: this time his expression was cold and distant.

“Two thousand years ago, in a distant land, a man who believed in dreams was thrown into a dungeon and then sold as a slave,” the old man said, now in the dialect the boy understood. “Our merchants bought that man, and brought him to Egypt. All of us know that whoever believes in dreams also knows how to interpret them.”

The elder continued, “When the pharaoh dreamed of cows that were thin and cows that were fat, this man I’m speaking of rescued Egypt from famine. His name was Joseph. He, too, was a stranger in a strange land, like you, and he was probably about your age.”

He paused, and his eyes were still unfriendly.

“We always observe the Tradition. The Tradition saved Egypt from famine in those days, and made the Egyptians the wealthiest of peoples. The Tradition teaches men how to cross the desert, and how their children should marry. The Tradition says that an oasis is neutral territory, because both sides have oases, and so both are vulnerable.”

No one said a word as the old man continued.

“But the Tradition also says that we should believe the messages of the desert. Everything we know was taught to us by the desert.”

The old man gave a signal, and everyone stood. The meeting was over. The hookahs were extinguished, and the guards stood at attention. The boy made ready to leave, but the old man spoke again:

“Tomorrow, we are going to break the agreement that says that no one at the oasis may carry arms. Throughout the entire day we will be on the lookout for our enemies. When the sun sets, the men will once again surrender their arms to me. For every ten dead men among our enemies, you will receive a piece of gold.

“But arms cannot be drawn unless they also go into battle. Arms are as capricious as the desert, and, if they are not used, the next time they might not function. If at least one of them hasn’t been used by the end of the day tomorrow, one will be used on you.”

When the boy left the tent, the oasis was illuminated only by the light of the full moon. He was twenty minutes from his tent, and began to make his way there.

He was alarmed by what had happened. He had succeeded in reaching through to the Soul of the World, and now the price for having done so might be his life. It was a frightening bet. But he had been making risky bets ever since the day he had sold his sheep to pursue his destiny. And, as the camel driver had said, to die tomorrow was no worse than dying on any other day. Every day was there to be lived or to mark one’s departure from this world. Everything depended on one word: “Maktub.”

Walking along in the silence, he had no regrets. If he died tomorrow, it would be because God was not willing to change the future. He would at least have died after having crossed the strait, after having worked in a crystal shop, and after having known the silence of the desert and Fatima’s eyes. He had lived every one of his days intensely since he had left home so long ago. If he died tomorrow, he would already have seen more than other shepherds, and he was proud of that.

Suddenly he heard a thundering sound, and he was thrown to the ground by a wind such as he had never known. The area was swirling in dust so intense that it hid the moon from view. Before him was an enormous white horse, rearing over him with a frightening scream.

When the blinding dust had settled a bit, the boy trembled at what he saw. Astride the animal was a horseman dressed completely in black, with a falcon perched on his left shoulder. He wore a turban and his entire face, except for his eyes, was covered with a black kerchief. He appeared to be a messenger from the desert, but his presence was much more powerful than that of a mere messenger.

The strange horseman drew an enormous, curved sword from a scabbard mounted on his saddle. The steel of its blade glittered in the light of the moon.

“Who dares to read the meaning of the flight of the hawks?” he demanded, so loudly that his words seemed to echo through the fifty thousand palm trees of Al-Fayoum.

“It is I who dared to do so,” said the boy. He was reminded of the image of Santiago Matamoros, mounted on his white horse, with the infidels beneath his hooves. This man looked exactly the same, except that now the roles were reversed.

 

 

The sword didn’t fall. Instead, the stranger lowered it slowly, until the point touched the boy’s forehead. It drew a droplet of blood.

The horseman was completely immobile, as was the boy. It didn’t even occur to the boy to flee. In his heart, he felt a strange sense of joy: he was about to die in pursuit of his destiny. And for Fatima. The omens had been true, after all. Here he was, face-to-face with his enemy, but there was no need to be concerned about dying—the Soul of the World awaited him, and he would soon be a part of it. And, tomorrow, his enemy would also be apart of that Soul.

The stranger continued to hold the sword at the boy’s forehead. “Why did you read the flight of the birds?”

“I read only what the birds wanted to tell me. They wanted to save the oasis. Tomorrow all of you will die, because there are more men at the oasis than you have.”

The sword remained where it was. “Who are you to change what Allah has willed?”

“Allah created the armies, and he also created the hawks. Allah taught me the language of the birds. Everything has been written by the same hand,” the boy said, remembering the camel driver’s words.

The stranger withdrew the sword from the boy’s forehead, and the boy felt immensely relieved. But he still couldn’t flee.

 

“All I saw was an army,” said the boy. “I didn’t see the outcome of the battle.”

The stranger seemed satisfied with the answer. But he kept the sword in his hand. “What is a stranger doing in a strange land?”

“I am following my destiny. It’s not something you would understand.”

The stranger placed his sword in its scabbard, and the boy relaxed.

“I had to test your courage,” the stranger said. “Courage is the quality most essential to understanding the Language of the World.”

The boy was surprised. The stranger was speaking of things that very few people knew about.

“You must not let up, even after having come so far,” he continued. “You must love the desert, but never trust it completely. Because the desert tests all men: it challenges every step, and kills those who become distracted.”

What he said reminded the boy of the old king.

 

The same hand that had brandished the sword now held a whip. The horse reared again, raising a cloud of dust.

“Where do you live?” shouted the boy, as the horseman rode away.

The hand with the whip pointed to the south.

The boy had met the alchemist.

*

Next morning, there were two thousand armed men scattered throughout the palm trees at Al-Fayoum. Before the sun had reached its high point, five hundred tribesmen appeared on the horizon. The mounted troops entered the oasis from the north; it appeared to be a peaceful expedition, but they all carried arms hidden in their robes. When they reached the white tent at the center of Al-Fayoum, they withdrew their scimitars and rifles. And they attacked an empty tent.

The men of the oasis surrounded the horsemen from the desert and within half an hour all but one of the intruders were dead. The children had been kept at the other side of a grove of palm trees, and saw nothing of what had happened. The women had remained in their tents, praying for the safekeeping of their husbands, and saw nothing of the battle, either. Were it not for the bodies there on the ground, it would have appeared to be a normal day at the oasis.

The only tribesman spared was the commander of the battalion. That afternoon, he was brought before the tribal chieftains, who asked him why he had violated the Tradition. The commander said that his men had been starving and thirsty, exhausted from many days of battle, and had decided to take the oasis so as to be able to return to the war.

The tribal chieftain said that he felt sorry for the tribesmen, but that the Tradition was sacred. He condemned the commander to death without honor. Rather than being killed by a blade or a bullet, he was hanged from a dead palm tree, where his body twisted in the desert wind.

The tribal chieftain called for the boy, and presented him with fifty pieces of gold. He repeated his story about Joseph of Egypt, and asked the boy to become the counselor of the oasis.

 

When the sun had set, and the first stars made their appearance, the boy started to walk to the south. He eventually sighted a single tent, and a group of Arabs passing by told the boy that it was a place inhabited by genies. But the boy sat down and waited.

Not until the moon was high did the alchemist ride into view. He carried two dead hawks over his shoulder.

“I am here,” the boy said.

“You shouldn’t be here,” the alchemist answered. “Or is it your destiny that brings you here?”

“With the wars between the tribes, it’s impossible to cross the desert. So I have come here.”

The alchemist dismounted from his horse, and signaled that the boy should enter the tent with him. It was a tent like many at the oasis. The boy looked around for the ovens and other apparatus used in alchemy, but saw none. There were only some books in a pile, a small cooking stove, and the carpets, covered with mysterious designs.

“Sit down. We’ll have something to drink and eat these hawks,” said the alchemist.

The boy suspected that they were the same hawks he had seen on the day before, but he said nothing. The alchemist lighted the fire, and soon a delicious aroma filled the tent. It was better than the scent of the hookahs.

 

“Why did you want to see me?” the boy asked.

“Because of the omens,” the alchemist answered. “The wind told me you would be coming, and that you would need help.”

 

“He has other things to do first. But he’s on the right track. He has begun to try to understand the desert.”

“And what about me?”

“When a person really desires something, all the universe conspires to help that person to realize his dream,” said the alchemist, echoing the words of the old king. The boy understood. Another person was there to help him toward his destiny.

“So you are going to instruct me?”

“No. You already know all you need to know. I am only going to point you in the direction of your treasure.”

“But there’s a tribal war,” the boy reiterated.

“I know what’s happening in the desert.”

 

“I have already found my treasure. I have a camel, I have my money from the crystal shop, and I have fifty gold pieces. In my own country, I would be a rich man.”

“But none of that is from the Pyramids,” said the alchemist.

“I also have Fatima. She is a treasure greater than anything else I have won.”

“She wasn’t found at the Pyramids, either.”

They ate in silence. The alchemist opened a bottle and poured a red liquid into the boy’s cup. It was the most delicious wine he had ever tasted.

“Isn’t wine prohibited here?” the boy asked

 

“It’s not what enters men’s mouths that’s evil,” said the alchemist. “It’s what comes out of their mouths that is.”

The alchemist was a bit daunting, but, as the boy drank the wine, he relaxed. After they finished eating they sat outside the tent, under a moon so brilliant that it made the stars pale.

 

“Tomorrow, sell your camel and buy a horse. Camels are traitorous: they walk thousands of paces and never seem to tire. Then suddenly, they kneel and die. But horses tire bit by bit. You always know how much you can ask of them, and when it is that they are about to die.”

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: