The Alchemist (Chapter2)

Nhà Giả Kim

by Paulo Coelho

Chương 2

5

“Từ bốn phường trời thiên hạ đã đến nơi đây rồi, con ạ”, lần ấy bố cậu nói. “Họ đến để tìm sự mới lạ, nhưng rồi thì họ vẫn mãi là chính họ. Họ leo lên đồi để xem thành quách rồi cho rằng quá khứ hay ho hơn hiện tại. Dù tóc họ vàng hay da họ ngăm, nói chung họ cũng giống như dân thành phố này cả thôi”. “Nhưng con chưa biết các thành quách ở đất nước họ”, cậu đáp. “Khi đã quen phong thổ và phụ nữ vùng này rồi thì những người đàn ông nọ nói rằng họ muốn vĩnh viễn ở lại đây”, ông bố nói tiếp. “Con cũng rất muốn biết về phụ nữ và đất nước của họ”, cậu thú nhận. “Vì thật ra họ có hề ở lại đây mãi đâu”. “Họ thừa tiền, thừa bạc con ạ”, ông bố đáp. “Còn vùng mình chỉ có người chăn cừu mới phải nay đây mai đó thôi”. “Thế thì con sẽ làm kẻ chăn cừu”. Ông bố không nói gì nữa cả. Hôm sau ông cho cậu một túi tiền đựng ba đồng tiền vàng cổ Tây Ban Nha. “Bố tình cờ tìm thấy trong ruộng nhà ta cách đây lâu rồi. Lẽ ra là tiền để cho con được nhận vào nhà thờ đấy. Con lấy mà mua một đàn cừu, rồi đi khắp nơi khắp chốn cho đến khi con hiểu ra rằng làng mạc, thành quách vùng mình tuyệt vời nhất, phụ nữ vùng mình xinh đẹp nhất.” Rồi ông ban phúc chúc lành cho cậu. Cậu đọc thấy trong mắt bố cũng chính niềm mơ ước được phiêu du. Nó vẫn sống mãi trong ông sau hàng chục năm tìm cách lãng quên qua những lo toan sao cho có cái ăn, cái uống hằng ngày và một chốn nương thân.

6

Chân trời đỏ ối, mặt trời dần lên. Cậu chăn cừu nhớ đến lần chuyện trò với bố và cảm thấy sung sướng; từ đó đến nay cậu đã qua nhiều thành quách và quen biết nhiều phụ nữ nhưng không có ai giống như cô gái cậu sẽ gặp lại trong ít ngày tới. Cậu có cái áo khoác, một quyển sách mà cậu có thể đổi lấy một quyển khác và một đàn cừu. Nhưng cái chính là mỗi ngày cậu đều thực hiện được ước mơ của mình: đi khắp đó đây. Khi nào chán vùng Andalusia bao la, cậu có thể bán bầy cừu để trở thành thủy thủ. Rồi khi chán biển cả, cậu có thể thăm thú mọi thành phố, làm quen với bao phụ nữ và thử mọi phương cách để đạt hạnh phúc. “Mình thật không hiểu nổi làm sao người ta có thể tìm thấy Chúa trong lớp học cho chúng sinh được”, cậu nghĩ trong lúc ngắm nhìn mặt trời lên. Vì cậu luôn tìm những con đường mới để đi nếu điều kiện cho phép, nên dù đã nhiều lần qua lại vùng này nhưng trước đây cậu chưa từng vào ngôi nhà thờ hoang tàn nọ. Thế giới bao la vô cùng tận; giả thử cứ để cho bầy cừu dẫn đi thì chắc hẳn cậu sẽ còn phát hiện được nhiều điều hay ho nữa. “Chúng không nhận ra rằng ngày ngày chúng đi đường mới. Chúng không biết đồng cỏ khác nhau và bốn mùa thay đổi, vì chúng chỉ lo có mỗi chuyện ăn và uống. Nhưng biết đâu con người cũng y như thế”, cậu nghĩ. “Ngay chính mình cũng không nghĩ đến cô gái nào khác từ khi quen con gái chủ tiệm vải nọ.” Cậu nhìn trời và áng chừng sẽ đến Tarifa trước giữa trưa. Ở đấy cậu có thể đổi quyển sách lấy quyển dầy hơn, mua đầy bình rượu vang, cạo râu, cắt tóc. Cậu định chuẩn bị cho bảnh để đi gặp cô gái chứ không muốn thắc mắc rằng biết đâu một gã chăn cừu khác với một bầy cừu lớn hơn đã đến đó trước cậu và hỏi cưới nàng rồi. “Chỉ khi nào có khả năng thực hiện được giấc mơ thì cuộc sống mới đáng sống”, cậu cân nhắc trong lúc nhìn trời lần nữa và rảo bước. Cậu chợt nhớ ra rằng ở Tarifa có một bà già giải đoán được mộng mị. Mà tối hôm qua cậu lại mơ y như lần trước.

7

Bà lão dẫn khách vào phòng trong của ngôi nhà, ngăn với phòng khách bởi tấm mành làm bằng các dải nylon sặc sỡ. Ở đấy có một cái bàn, hai cái ghế và một hình Chúa Jesu. Bà lão ngồi rồi bảo cậu ngồi theo. Xong, bà nắm lấy hai bàn tay cậu, khẽ lẩm bẩm đọc kinh. Nghe như kinh của người Zigeuner (Zigeuner: (tiếng Anh: gypspy) một sắc dân “du cư”, gốc từ Ấn Độ, sang châu Âu từ thế kỉ XV). Trong cuộc hành trình cậu đã từng gặp không ít người Zigeuner rồi; họ cũng đi khắp nơi này nơi khác tuy không chăn cừu như cậu. Người ta bảo rằng dân Zigeuner chuyên lọc lừa. Người ta còn nói thêm rằng họ liên minh với ma quỷ, rằng họ cướp trẻ thơ, bắt chúng làm nô lệ trong các khu lều âm u của họ. Thuở nhỏ cậu rất sợ bị người Zigeuner bắt cóc, thành ra khi bà lão nắm tay thì nỗi sợ xưa lại ập đến. “Nhưng bà ta treo hìng Chúa Jesu trên tường mà”, cậu tìm cách tự trấn an. Cậu không muốn tay mình run lên để bà lão không nhận ra được rằng mình đang sợ. Cậu thầm đọc kinh lậy Cha. “Lạ thật”, bà lão nói, mắt vẫn nhìn chăm chắm đôi bàn tay cậu; rồi im bặt. Cậu càng thêm lo. Bà lão nhận thấy tay cậu bỗng dưng run lên. Cậu vội rụt tay về. “Tôi đến đây không phải để nhờ xem chỉ tay”, cậu nói và ân hận đã đến chốn này. Trong một khoảnh khắc cậu nghĩ tốt hơn cả nên trả tiền rồi chuồn thẳng. Đúng là cậu đã quá quan trọng hóa giấc mơ của mình. “Cậu đến đây vì muốn tìm hiểu về giấc mơ”, bà lão đáp. “Mà mơ là ngôn ngữ của Chúa. Nếu người nói bằng ngôn ngữ thế gian thì ta giải đoán được. Nhưng nếu người nói bằng ngôn ngữ của tâm hồn thì chỉ mình cậu có thể hiểu được thôi. Tuy thế ta cũng thử xem sao”. “Lại một kế mọn”, cậu chăn cừu nghĩ. Tuy thế cậu muốn thử một lần xem sao. Chẳng gì người chăn cừu cũng liều đối phó với chó sói và khô hạn, vì thế mà nghề này mới hứng thú. “Tôi nằm mộng hai lần liên tiếp”, cậu nói. “Mơ thấy mình và bầy cừu đang trên đồng cỏ, chợt một đứa trẻ không biết từ đâu đến, chơi với bầy cừu. Đúng ra tôi không thích có ai quấy rầy lũ cừu của tôi vì chúng vốn sợ người lạ. Nhưng trẻ con luôn nô đùa với chúng được mà không làm chúng hoảng. Tôi không hiểu tại sao. Do đâu mà cừu biết được tuổi tác của người nhỉ?”. “Vào chuyện chính đi thôi”, bà lão ngắt lời. “Ta còn một cái nồi to đang đặt trên bếp cần phải trông chừng. Hơn nữa cậu chỉ có chút tiền còm thì không thể làm ta mất nhiều thời giờ được.” “Đứa trẻ chơi với bầy cừu một lúc”, cậu ngượng nghịu kể tiếp. “Rồi chợt nó nắm tay tôi dẫn đến Kim Tự Tháp bên Ai Cập.” Cậu chờ một chút để chờ phản ứng của bà lão nhưng bà chẳng nói gì. “Rồi ở Kim Tự Tháp bên Ai Cập”, cậu nhấn mạnh sáu chữ sau để bà lão rõ, “đứa bé nói với tôi: “nếu anh đến đây thì anh sẽ tìm thấy một kho tàng chôn giấu bí mật, không ai biết.” Rồi khi nó định chỉ cho tôi chỗ chính xác của kho tàng thì tôi thức giấc. Cả hai lần đều y như vậy.” Bà lão im lặng thêm một lúc rồi lại cầm lấy hai bàn tay cậu chăn cừu, chăm chú nhìn. “Bây giờ ta không đòi cậu chút thù lao nào hết”, bà lão nói. “Nhưng ta muốn được hưởng một phần mười kho tàng khi cậu tìm thấy nó.” Cậu chăn cừu cười vui thích. Nhờ một kho tàng trong mơ mà cậu tiết kiệm đươc chút tiền còm hiện có. Đúng là một bà lão Zigeuner có khác, ngờ nghệch hết sức. “Được thôi, bà giải đoán đi”, cậu đáp. “Trước đó cậu phải thề sẽ trả ta một phần mười kho tàng là tiền côn cho điều ta sắp giải đoán.” Cậu thề và bà lão yêu cầu cậu lặp lại lời thề trước hình Chúa. “Đây là một giấc mơ thuộc ngôn ngữ thế gian”, bà lão nói, “do đó ta có thể giải đoán được. Nhưng việc giải đoán này rất khó. Thành ra ta được hưởng một phần kho tàng của cậu cũng đáng thôi. Ý nghĩa nó như thế này: cậu hãy đi đến Kim Tự Tháp Ai Cập. Tuy ta chưa từng nghe nói đến cái tháp đó bao giờ nhưng một khi đứa trẻ đã chỉ đường cho cậu thì nhất định phải có. Cậu sẽ tìm thấy ở đấy cái kho tàng khiến cậu giàu to.” Cậu chăn cừu sửng sốt rồi thất vọng. Nếu chỉ có thế thì cậu chẳng cần mất công tới đây làm gì. Song dẫu sao cậu cũng chưa phải trả gì hết. “Nếu chỉ để biết có bấy nhiêu thì lẽ ra tôi không cần mất thì giờ như thế này”, cậu nói. “Chính vì thế mà ta đã nói rồi, rằng đây là một giấc mơ khó đoán. Những việc tưởng chừng như đơn giản trong cuộc sống thì thật ra là những việc hết sức phi thường, chỉ những bậc trí giả mới thấu hiểu nổi. Ta không phải là bậc trí giả nên phải dùng cách khác, chẳng hạn phải xem chỉ tay”. “Thế tôi phải đến Ai Cập bằng cách nào đây?” “Ta chỉ có thể giải đoán mộng thôi chứ không biết phải làm sao để biến chúng thành thật được. Chính vì thế mà ta phải sống nhờ vào thù lao khách trả.” “Còn nếu tôi không bao giờ tới đươc Ai Cập thì sao?” “Thì ta không được trả thù lao. Không phải là lần đầu tiên đâu.” Rồi bà lão không nói gì thêm nữa mà chỉ bảo cậu về đi vì bà đã mất quá nhiều thì giờ cho cậu rồi.

8

Cậu chăn cừu thất vọng ra về và nhất quyết không bao giờ tin vào mộng mị nữa. Rồi cậu chợt nhớ còn phải giải quyết một vài việc: mua thức ăn, đổi sách lấy một quyển dầy hơn. Sau đó cậu ra ngoài bãi chợ, ngồi trên ghế băng thưởng thức rượu vang mới mua. Hôm ấy trời rất nóng và chẳng hiểu sao vang lại làm cậu phấn chấn. Lũ cừu được gửi gắm chăm sóc cẩn thận nơi chuồng của một người bạn cậu mới quen ở lối vào thành phố. Cậu quen biết nhiều người ở vùng này. Cậu thích đi nhiều cũng vì thế. Luôn luôn kết được bạn mới mà không cần mất trọn thì giờ để sống bên họ. Nếu lúc nào cũng chỉ quen một số người thôi, như ở trường đạo, thì họ sẽ trở thành một phần không thể tách rời khỏi cuộc đời mình. Khi đã như thế thì họ muốn thay đổi cuộc đời mình. Rồi khi ta không muốn thay đổi như họ muốn thì họ sẽ thất vọng. Vì hình như ai cũng tưởng mình biết rất rõ người khác phải sống như thế nào cho đúng, trong khi lại mù mờ về cuộc sống của chính bản thân mình. Giống như bà lão giải mộng kia không biến nổi giấc mơ thành hiện thực vậy. Cậu muốn chờ cho đến khi mặt trời xuống thấp nữa mới dẫn đàn cừu đi tiếp. Chỉ còn hơn ba ngày nữa là cậu sẽ gặp lại cô con gái của nhà buôn nọ. Cậu bắt đầu đọc quyển sách mới nhận được của linh mục thành Tarifa. Sách dầy lắm và ngay trang đầu đã nói về một đám tang mà tên các nhân vật phức tạp quá. Nếu một ngày nào đó mình viết sách, cậu nghĩ, mình sẽ chỉ cho nhân vật này xuất hiện tiếp nhân vật khác để người đọc khỏi rối trí. Tập trung đọc một lúc cậu mới thấy hay vì truyện viết về một đám tang trên tuyết trắng đã đem đến cho cậu một cảm giác tươi mát dưới cái nắng trưa gay gắt này. Cậu đang mê mải đọc thì một ông già đến ngồi cạnh và bắt chuyện. “Họ làm gì đấy?” ông già hỏi, tay chỉ những người đi lại hối hả trên bãi chợ. “Làm việc”, cậu đáp cụt ngủn chủ ý cho thấy mình đang say mê đọc. Nhưng thật ra cậu đang nghĩ đến việc sẽ xén lông cừu trước mắt cô con gái chủ tiệm để cô thấy cậu giỏi giang, làm được nhiều việc không dễ tí nào. Cậu đã nhiều lần tưởng tượng cảnh ấy và lần nào cô gái cũng sửng sốt khi cậu giải thích cho cô biết rằng phải xén lông cừu từ sau tới trước. Cậu cũng ráng nhớ vài ba giai thoại để có thể vừa làm vừa kể cô nghe. Phần lớn những giai thoại này cậu đọc trong mấy quyển sách nào đó nhưng lại muốn kể như thể chính mình đã chứng kiến. Đằng nào thì cô cũng không biết thực hư được vì cô không biết đọc. Nhưng ông già không chịu buông. Ông kêu rằng mệt, khát và xin một hớp vang. Cậu đưa ông chai rượu, hi vọng rồi sẽ được để yên. Nhưng ông già cứ nhất định bắt chuyện. Ông hỏi cậu đang đọc gì đấy. Cậu muốn tỏ ra bất lịch sự và đổi sang ghế khác quá nhưng bố cậu đã dạy phải kính trọng người già cả. Thành ra cậu đưa quyển sách cho ông, vì hai lí do: một là cậu không đọc được đúng tên sách, hai là nếu ông già không biết đọc thì có lẽ ông sẽ xấu hổ và tự sang ngồi ghế khác. “Hừm…”, ông già ậm ừ rồi săm soi nhìn quyển sách như thể nó là một vật lạ. “Quyển này tuy là một tác phẩm lớn nhưng rất nhàm chán”. Cậu chăn cừu sửng sốt. Không những ông già biết chữ mà còn đã đọc quyển sách đó rồi nữa. Nếu đúng là nhàm chán như ông già nói thì còn kịp để đổi lấy quyển khác. “Nó cũng nói về cùng một vấn đề như mọi quyển sách khác thôi”, ông già nói tiếp. “Rằng con người không có khả năng lựa chọn lấy vận mệnh của mình. Và kết thúc rằng ai cũng tin vào cái điều bịp bợm nhất thế gian”.

9

Điều bịp bợm ấy là gì?” cậu chăn cừu ngơ ngác hỏi. “Đó là: vào một lúc nhất định trong đời, chúng ta không làm chủ được vận mệnh của mình nữa và rồi đời mình sẽ do định mệnh đưa đẩy. Đó chính là điều dối trá nhất thế gian!” “Cháu thì không thế”, cậu đáp. “Người ta muốn cháu trở thành thầy tu nhưng cháu đã quyết định làm kẻ chăn cừu.” “Thế là phải lắm,” ông già nói. “Bởi cậu thích đi đây đi đó nhiều mà.” “Ông này đọc được ý nghĩ của mình”, cậu ngẫm nghĩ. Trong lúc ấy ông già lần giở sách, không có vẻ gì muốn trả lại cả. Cậu chăn cừu nhìn bộ quần áo khác thường ông già mặc trên người. Trông ông như một người Arập, điều không có gì lạ ở vùng này. Châu Phi chỉ cách Tarifa có vài giờ đường thôi; chỉ cần dùng thuyền nhỏ vượt eo biển (Châu Phi cách Tây Ban Nha bởi eo biển Gibraltar) hẹp là tới. Người Arập thường đến thành phố này mua sắm và ngày nào cũng nhiều lần lâm râm đọc những bài kinh lạ tai của họ. “Ông từ đâu đến?” cậu hỏi. “Từ nhiều nơi.” “Không ai có thể đến cùng lúc từ nhiều nơi khác nhau được”, cậu nói. “Cháu là kẻ chăn cừu và biết nhiều nơi nhưng đến thì chỉ từ một thành phố thôi; nó ở gần một nơi thành cổ. Cháu sinh ra ở đấy.” “Thế thì có thể nói sinh quán ta ở Salem.” Cậu chăn cừu không biết Salem ở đâu, nhưng không hỏi tiếp để khỏi bị xem là dốt nát. Cậu nhìn những người lăng xăng đi lại trên bãi chợ một lúc lâu, người nào cũng có vẻ rất bận rộn. “Salem giờ ra sao?”, cậu hỏi, mong tìm được chút manh mối. “Vẫn thường”. Chẳng lần ra được chút gì. Cậu chỉ biết Salem không ở trong vùng Andalusia, bởi nếu có thì cậu đã nghe nói tới rồi. “Thế ông làm gì ở Salem?” cậu hỏi tới. “Ta làm gì ư?” Ông già bật cười ha hả. “Ta là vua xứ Salem!” ‘Người ta cứ hay nói những chuyện lạ lùng’, cậu nghĩ thầm. “Đôi khi chơi với lũ cừu còn thích hơn vì chúng câm, chỉ biết tìm thức ăn và nước uống. Sách cũng giúp ta đỡ buồn bằng cách kể ta nghe những chuyện hay ho mỗi khi ta muốn nghe. Nhưng khi trò chuyện với người thì có thể họ sẽ nói những điều quái lạ khiến ta chịu không biết phải tiếp tục nói gì.” “Tên ta là Melchisedek”, ông già nói. “Cậu có bao nhiêu cừu?” “Tạm đủ”, cậu nghi ngại đáp. Ông này muốn biết quá nhiều về cậu. “Thế thì phiền lắm đấy vì ta sẽ không giúp cậu được gì nếu cậu cho rằng có đủ cừu”. Đến đây thì cậu bực mình thực sự. Cậu có cầu được giúp đỡ gì đâu; ông già xin cậu rượu vang, bắt chuyện và mượn sách đấy chứ. “Ông cho cháu xin lại quyển sách. Chái phải trở lại chỗ bầy cừu rồi dẫn chúng đi tiếp.” “Nếu cậu trả thù lao cho ta một phần mười số cừu của cậu thì ta sẽ chỉ cậu cách đến được cái kho tàng chôn giấu bí mật đó”, ông già nói. Đến đây cậu chợt nhớ lại giấc mơ và bỗng thấy mọi sự như sáng tỏ. Mụ già giải mộng tuy không đòi gì hết nhưng bây giờ lão già này, có thể là chồng mụ lắm, sẽ lấy của cậu đổi lại một lời chỉ dẫn vô giá trị về một kho tàng không hề có. Chắc hẳn lão cũng là dân Zigeuner thôi. Cậu chưa kịp mở miệng thì ông già đã cúi nhặt một cây que rồi viết trên mặt cát. Khi cúi như thế, có gì đó lóe sáng trên ngực ông làm cậu lóa mắt. Nhưng ông già, bằng một động tác phải nói là quá nhanh nhẹn ở vào tuổi ông, vội kéo áo khoác che lên. Khi mắt không còn lóa nữa, cậu đọc những gì ông già vừa viết. Trên mặt cát bãi chợ là tên bố mẹ cậu. Cậu đọc về cuộc đời mình, những trò chơi thuở nhỏ. Những đêm lạnh lẽo trong chủng viện; cậu đọc tên con gái chủ tiệm vải mà chính cậu còn chưa biết. Cậu đọc những chuyện của mình mà cậu chưa từng thổ lộ cùng ai – như vụ cậu lấy trộm súng của bố để đi săn hươu, chuyện lần đầu tiên trong đời tự thân tìm biết dục tính là gì.

10

“Ta là vua xứ Salem”, ông già dõng dạc nói. “Tại sao một vị vua lại đi trò chuyện với một kẻ chăn cừu tầm thường nhỉ?” cậu thắc mắc hỏi, có hơi xấu hổ về xuất thân của mình. “Có nhiều lí do. Nhưng lí do chính là cậu đã thành công trong sự đeo đuổi vận mệnh của mình.” Cậu chăn cừu chẳng hiểu thế nào là vận mệnh. “Vận mệnh chính là điều mà anh luôn luôn muốn đạt được. Khi còn trẻ ai ai cũng biết vận mệnh của mình là gì. Trong đoạn đời này mọi sự đều đơn giản và người ta dám mơ mộng đủ thứ về những điều họ muốn làm trong đời. Nhưng rồi, theo thời gian, một sức mạnh thần bí sẽ tìm cách thuyết phục ta rằng con đường đời như ta mơ ước sẽ không thể nào thực hiện được đâu.” Cậu chăn cừu chẳng hiểu gì lắm những gì ông già nói. Tuy thế, cậu vẫn muốn biết sức mạnh thần bí kia nghĩa là gì. Rồi cô gái con chủ tiệm vải sẽ tròn xoe mắt nghe cậu giảng cho mà xem. “Đó là một lực thần bí xem ra có vẻ không tốt lành nhưng trong thực tế lại giúp chúng ta đi hết con đường đời của mình. Lực thần bí này chuẩn bị cho tinh thần và ý chí ta sẵn sàng, bởi sự thật vĩ đại trên hành tinh này chính là: bất kể anh là ai, anh làm gì, khi anh thật tâm mong muốn điều gì thì điều mong muốn đó sẽ được hình thành trong cõi Tâm linh vũ trụ (Weltenseele; Soul of the Universe). Đó sẽ là nhiệm vụ của anh trên trái đất.” “Ngay cả khi chỉ là mong muốn được đi đây đi đó hay là được lấy con gái nhà buôn vải hay sao?” “Hoặc mơ ước tìm kho tàng chẳng hạn. Tâm linh vũ trụ được nuôi dưỡng bởi hạnh phúc của con người, bởi cả sự bất hạnh, tị hiềm và ghen tuông nữa. Nhiệm vụ duy nhất của mỗi chúng ta là thực hiện con đường mình đã chọn. Tất cả chỉ là một. Rồi khi anh quyết chí muốn điều gì thì toàn vũ trụ sẽ chung sức để anh đạt được điều ấy.” Cả hai ngồi lặng thinh hồi lâu, quan sát người qua kẻ lại trên bãi chợ. Rồi ông già lên tiếng trước. “Tại sao cậu chọn nghề chăn cừu?” “Vì cháu thích đi đây đi đó.” Ông già chỉ vào một người bán kem với chiếc xe kéo màu đỏ hai bánh đậu ở một góc bãi chợ. “Khi còn nhỏ người bán kem kia cũng muốn đi đây đi đó lắm. Nhưng mà anh ta thấy nên mua một xe kem để kiếm tiền và dành dụm đã. Khi nào đủ tiền anh ta sẽ sang châu Phi chơi một tháng. Anh ta không hề hiểu rằng người ta lúc nào cũng có thể thực hiện được ước mơ của mình.” “Lẽ ra anh ta nên làm kẻ chăn cừu”, cậu buột miệng nói to. “Anh ta quả cũng có nghĩ thế đấy”, ông già nói. “Nhưng mà nghề bán kem được coi trọng hơn là chăn cừu. Họ có nhà cửa, còn người chăn cừu phải ngủ ngoài đồng trống. Thiên hạ thích gả con gái cho người bán kem hơn cho gã chăn cừu.” Chàng trai thấy tim mình đau nhói khi nghĩ đến con gái chủ tiệm vải. Chắc hẳn trong thành phố của cô cũng có một người bán kem. “Nói cho cùng con người coi việc kẻ khác đánh giá anh bán kem hay cậu chăn cừu quan trọng hơn là thực hiện điều thâm tâm mình muốn.” Nói đến đây ông già lật sách, đọc qua loa. Chàng chăn cừu đợi một lúc rồi mới lên tiếng cắt ngang, giống như lúc đầu cậu bị cắt ngang. “Tại sao ông nói với cháu về những điều này?” “Vì chính cậu đã cố gắng đi theo tiếng gọi của thâm tâm và giờ đây sắp bỏ cuộc.” “Lúc nào ông cũng xuất hiện vào đúng giây phút quyết đinh sao?” “Không phải lúc nào cũng dưới hình dáng này, nhưng ta luôn luôn xuất hiện, dưới một dạng nào đó. Đôi khi dưới dạng một giải pháp tốt, một ý kiến xuất thần. Có lần, vào lúc quyết định, ta tạo hoàn cảnh thuận lợi hơn. Vân vân. Nhưng phần lớn người ta không nhận ra điều ấy.” Ông già kể rằng tuần trước ông, dưới dạng một viên đá, đã đến với một người tìm đá quý. Người đó đã bỏ tất cả để tìm ngọc lục bảo. Ông ta đã làm việc ròng rã năm năm ở một con sông và đã đập 999999 viên đá chỉ để tìm lấy một viên ngọc lục bảo. Bấy giờ người tìm ngọc đã định bỏ cuộc rồi, trong khi chỉ cần một hòn đá nữa thôi, một hòn đá duy nhất nữa, là sẽ tìm được ngọc. Chính vì người này đã tin theo tiếng gọi của thâm tâm nên ông già quyết định ra tay giúp. Ông biến thành một viên đá lăn tới chân người nọ. Người này, với tất cả phẫn nộ và tuyệt vọng của năm năm mất trắng, liệng viên đá ra thật xa. Ông ta ném mạnh đến nỗi nó làm vỡ toang một hòn đá khác, làm lộ ra viên ngọc lục bảo đẹp nhất thế gian. “Con người nhận thức rất sớm họ sống trên đời để làm gì”, ông già nói, giọng nhuốm vẻ chua chát. “Có thể chính vì thế mà họ lại bỏ cuộc sớm. Đành thôi.” Lúc ấy cậu chăn cừu mới nhắc ông rằng hai người bắt đầu bằng câu chuyện kho tàng bị chôn giấu. “Kho tàng được dòng sông đưa lên mặt nước rồi lại vùi xuống đáy”, ông già nói. “Nếu cậu muốn biết gì về kho tàng của mình thì phải chịu trả ta một phần mười số cừu của cậu”. “Ông không thích nhận một phần mười kho tàng hơn à?” Ông già tỏ vẻ không hài lòng. “Nếu cậu hứa trả bằng cái mình chưa sở hữu thì rồi sẽ có lúc cậu mất đi ý chí đạt được nó đấy.” Nghe thế cậu chăn cừu bèn thú thật đã hứa trả một phần mười kho tàng cho bà già Zigeuner rồi. “Phải, người Zigeuner khôn lắm”, ông già nói. “Dù sao thì cũng tốt vì cậu đã học được rằng ở đời mọi thứ đều có giá của chúng cả. Đó chính là điều mà chúng ta, những sứ thần đem ánh sáng đến soi rọi (Lichtbote; Warrior of the Light), muốn truyền đạt.” Ông già đưa trả cậu quyển sách. “Ngày mai giờ này cậu đem một phần mười số cừu đến cho ta. Ta sẽ chỉ cho cậu con đường tìm đến được kho tàng. Tạm biệt.” Rồi ông già bỏ đi, biến mất sau một góc tường.

The Alchemist

by Paulo Coelho

Chapter 2

“People from all over the world have passed through this village, son,” said his father. “They come in search of new things, but when they leave they are basically the same people they were when they arrived. They climb the mountain to see the castle, and they wind up thinking that the past was better than what we have now. They have blond hair, or dark skin, but basically they’re the same as the people who live right here.”

“But I’d like to see the castles in the towns where they live,” the boy explained.

“Those people, when they see our land, say that they would like to live here forever,” his father continued.

“Well, I’d like to see their land, and see how they live,” said his son.

“The people who come here have a lot of money to spend, so they can afford to travel,” his father said. “Amongst us, the only ones who travel are the shepherds.”

“Well, then I’ll be a shepherd!”

His father said no more. The next day, he gave his son a pouch that held three ancient Spanish gold coins.

“I found these one day in the fields. I wanted them to be a part of your inheritance. But use them to buy your flock. Take to the fields, and someday you’ll learn that our countryside is the best, and our women the most beautiful.”

And he gave the boy his blessing. The boy could see in his father’s gaze a desire to be able, himself, to travel the world—a desire that was still alive, despite his father’s having had to bury it, over dozens of years, under the burden of struggling for water to drink, food to eat, and the same place to sleep every night of his life.

 

The horizon was tinged with red, and suddenly the sun appeared. The boy thought back to that conversation with his father, and felt happy; he had already seen many castles and met many women (but none the equal of the one who awaited him several days hence). He owned a jacket, a book that he could trade for another, and a flock of sheep. But, most important, he was able every day to live out his dream. If he were to tire of the Andalusian fields, he could sell his sheep and go to sea. By the time he had had enough of the sea, he would already have known other cities, other women, and other chances to be happy. I couldn’t have found God in the seminary, he thought, as he looked at the sunrise.

Whenever he could, he sought out a new road to travel. He had never been to that ruined church before, in spite of having traveled through those parts many times. The world was huge and inexhaustible; he had only to allow his sheep to set the route for a while, and he would discover other interesting things. The problem is that they don’t even realize that they’re walking a new road every day. They don’t see that the fields are new and the seasons change. All they think about is food and water.

Maybe we’re all that way, the boy mused. Even me—I haven’t thought of other women since I met the merchant’s daughter. Looking at the sun, he calculated that he would reach Tarifa before midday. There, he could exchange his book for a thicker one, fill his wine bottle, shave, and have a haircut; he had to prepare himself for his meeting with the girl, and he didn’t want to think about the possibility that some other shepherd, with a larger flock of sheep, had arrived there before him and asked for her hand.

It’s the possibility of having a dream come true that makes life interesting, he thought, as he looked again at the position of the sun, and hurried his pace. He had suddenly remembered that, in Tarifa, there was an old woman who interpreted dreams.

The old woman led the boy to a room at the back of her house; it was separated from her living room by a curtain of colored beads. The room’s furnishings consisted of a table, an image of the Sacred Heart of Jesus, and two chairs.

The woman sat down, and told him to be seated as well. Then she took both of his hands in hers, and began quietly to pray.

It sounded like a Gypsy prayer. The boy had already had experience on the road with Gypsies; they also traveled, but they had no flocks of sheep. People said that Gypsies spent their lives tricking others. It was also said that they had a pact with the devil, and that they kidnapped children and, taking them away to their mysterious camps, made them their slaves. As a child, the boy had always been frightened to death that he would be captured by Gypsies, and this childhood fear returned when the old woman took his hands in hers.

But she has the Sacred Heart of Jesus there, he thought, trying to reassure himself. He didn’t want his hand to begin trembling, showing the old woman that he was fearful. He recited an Our Father silently.

“Very interesting,” said the woman, never taking her eyes from the boy’s hands, and then she fell silent.

The boy was becoming nervous. His hands began to tremble, and the woman sensed it. He quickly pulled his hands away.

“I didn’t come here to have you read my palm,” he said, already regretting having come. He thought for a moment that it would be better to pay her fee and leave without learning a thing, that he was giving too much importance to his recurrent dream.

“You came so that you could learn about your dreams,” said the old woman. “And dreams are the language of God. When he speaks in our language, I can interpret what he has said. But if he speaks in the language of the soul, it is only you who can understand. But, whichever it is, I’m going to charge you for the consultation.”

Another trick, the boy thought. But he decided to take a chance. A shepherd always takes his chances with wolves and with drought, and that’s what makes a shepherd’s life exciting.

“I have had the same dream twice,” he said. “I dreamed that I was in a field with my sheep, when a child appeared and began to play with the animals. I don’t like people to do that, because the sheep are afraid of strangers. But children always seem to be able to play with them without frightening them. I don’t know why. I don’t know how animals know the age of human beings.”

“Tell me more about your dream,” said the woman. “I have to get back to my cooking, and, since you don’t have much money, I can’t give you a lot of time.”

“The child went on playing with my sheep for quite a while,” continued the boy, a bit upset. “And suddenly, the child took me by both hands and transported me to the Egyptian pyramids.”

He paused for a moment to see if the woman knew what the Egyptian pyramids were. But she said nothing.

“Then, at the Egyptian pyramids,”—he said the last three words slowly, so that the old woman would understand—”the child said to me, If you come here, you will find a hidden treasure.’ And, just as she was about to show me the exact location, I woke up. Both times.”

The woman was silent for some time. Then she again took his hands and studied them carefully.

“I’m not going to charge you anything now,” she said. “But I want one-tenth of the treasure, if you find it.”

The boy laughed—out of happiness. He was going to be able to save the little money he had because of a dream about hidden treasure!

“Well, interpret the dream,” he said.

“First, swear to me. Swear that you will give me one-tenth of your treasure in exchange for what I am going to tell you.”

The shepherd swore that he would. The old woman asked him to swear again while looking at the image of the Sacred Heart of Jesus.

“It’s a dream in the language of the world,” she said. “I can interpret it, but the interpretation is very difficult. That’s why I feel that I deserve a part of what you find.

“And this is my interpretation: you must go to the Pyramids in Egypt. I have never heard of them, but, if it was a child who showed them to you, they exist. There you will find a treasure that will make you a rich man.”

The boy was surprised, and then irritated. He didn’t need to seek out the old woman for this! But then he remembered that he wasn’t going to have to pay anything.

“I didn’t need to waste my time just for this,” he said.

“I told you that your dream was a difficult one. It’s the simple things in life that are the most extraordinary; only wise men are able to understand them. And since I am not wise, I have had to learn other arts, such as the reading of palms.”

“Well, how am I going to get to Egypt?”

“I only interpret dreams. I don’t know how to turn them into reality. That’s why I have to live off what my daughters provide me with.”

“And what if I never get to Egypt?”

“Then I don’t get paid. It wouldn’t be the first time.”

And the woman told the boy to leave, saying she had already wasted too much time with him.

So the boy was disappointed; he decided that he would never again believe in dreams. He remembered that he had a number of things he had to take care of: he went to the market for something to eat, he traded his book for one that was thicker, and he found a bench in the plaza where he could sample the new wine he had bought. The day was hot, and the wine was refreshing. The sheep were at the gates of the city, in a stable that belonged to a friend. The boy knew a lot of people in the city. That was what made traveling appeal to him—he always made new friends, and he didn’t need to spend all of his time with them. When someone sees the same people every day, as had happened with him at the seminary, they wind up becoming a part of that person’s life. And then they want the person to change. If someone isn’t what others want them to be, the others become angry. Everyone seems to have a clear idea of how other people should lead their lives, but none about his or her own.

He decided to wait until the sun had sunk a bit lower in the sky before following his flock back through the fields. Three days from now, he would be with the merchant’s daughter.

He started to read the book he had bought. On the very first page it described a burial ceremony. And the names of the people involved were very difficult to pronounce. If he ever wrote a book, he thought, he would present one person at a time, so that the reader wouldn’t have to worry about memorizing a lot of names.

When he was finally able to concentrate on what he was reading, he liked the book better; the burial was on a snowy day, and he welcomed the feeling of being cold. As he read on, an old man sat down at his side and tried to strike up a conversation.

“What are they doing?” the old man asked, pointing at the people in the plaza.

“Working,” the boy answered dryly, making it look as if he wanted to concentrate on his reading.

Actually, he was thinking about shearing his sheep in front of the merchant’s daughter, so that she could see that he was someone who was capable of doing difficult things. He had already imagined the scene many times; every time, the girl became fascinated when he explained that the sheep had to be sheared from back to front. He also tried to remember some good stories to relate as he sheared the sheep. Most of them he had read in books, but he would tell them as if they were from his personal experience. She would never know the difference, because she didn’t know how to read.

Meanwhile, the old man persisted in his attempt to strike up a conversation. He said that he was tired and thirsty, and asked if he might have a sip of the boy’s wine. The boy offered his bottle, hoping that the old man would leave him alone.

But the old man wanted to talk, and he asked the boy what book he was reading. The boy was tempted to be rude, and move to another bench, but his father had taught him to be respectful of the elderly. So he held out the book to the man—for two reasons: first, that he, himself, wasn’t sure how to pronounce the title; and second, that if the old man didn’t know how to read, he would probably feel ashamed and decide of his own accord to change benches.

“Hmm…” said the old man, looking at all sides of the book, as if it were some strange object. “This is an important book, but it’s really irritating.”

The boy was shocked. The old man knew how to read, and had already read the book. And if the book was irritating, as the old man had said, the boy still had time to change it for another.

“It’s a book that says the same thing almost all the other books in the world say,” continued the old man. “It describes people’s inability to choose their own destinies. And it ends up saying that everyone believes the world’s greatest lie.”

“What’s the world’s greatest lie?” the boy asked, completely surprised.

“It’s this: that at a certain point in our lives, we lose control of what’s happening to us, and our lives become controlled by fate. That’s the world’s greatest lie.”

“That’s never happened to me,” the boy said. “They wanted me to be a priest, but I decided to become a shepherd.”

“Much better,” said the old man. “Because you really like to travel.”

“He knew what I was thinking,” the boy said to himself. The old man, meanwhile, was leafing through the book, without seeming to want to return it at all. The boy noticed that the man’s clothing was strange. He looked like an Arab, which was not unusual in those parts. Africa was only a few hours from Tarifa; one had only to cross the narrow straits by boat. Arabs often appeared in the city, shopping and chanting their strange prayers several times a day.

“Where are you from?” the boy asked.

“From many places.”

“No one can be from many places,” the boy said. “I’m a shepherd, and I have been to many places, but I come from only one place—from a city near an ancient castle. That’s where I was born.”

“Well then, we could say that I was born in Salem.”

The boy didn’t know where Salem was, but he didn’t want to ask, fearing that he would appear ignorant. He looked at the people in the plaza for a while; they were coming and going, and all of them seemed to be very busy.

“So, what is Salem like?” he asked, trying to get some sort of clue.

“It’s like it always has been.”

No clue yet. But he knew that Salem wasn’t in Andalusia. If it were, he would already have heard of it.

“And what do you do in Salem?” he insisted.

“What do I do in Salem?” The old man laughed. “Well, I’m the king of Salem!”

People say strange things, the boy thought. Sometimes it’s better to be with the sheep, who don’t say anything. And better still to be alone with one’s books. They tell their incredible stories at the time when you want to hear them. But when you’re talking to people, they say some things that are so strange that you don’t know how to continue the conversation.

“My name is Melchizedek,” said the old man. “How many sheep do you have?”

“Enough,” said the boy. He could see that the old man wanted to know more about his life.

“Well, then, we’ve got a problem. I can’t help you if you feel you’ve got enough sheep.”

The boy was getting irritated. He wasn’t asking for help. It was the old man who had asked for a drink of his wine, and had started the conversation.

“Give me my book,” the boy said. “I have to go and gather my sheep and get going.”

“Give me one-tenth of your sheep,” said the old man, “and I’ll tell you how to find the hidden treasure.”

The boy remembered his dream, and suddenly everything was clear to him. The old woman hadn’t charged him anything, but the old man—maybe he was her husband—was going to find a way to get much more money in exchange for information about something that didn’t even exist. The old man was probably a Gypsy, too.

But before the boy could say anything, the old man leaned over, picked up a stick, and began to write in the sand of the plaza. Something bright reflected from his chest with such intensity that the boy was momentarily blinded. With a movement that was too quick for someone his age, the man covered whatever it was with his cape. When his vision returned to normal, the boy was able to read what the old man had written in the sand.

There, in the sand of the plaza of that small city, the boy read the names of his father and his mother and the name of the seminary he had attended. He read the name of the merchant’s daughter, which he hadn’t even known, and he read things he had never told anyone.

“I’m the king of Salem,” the old man had said.

“Why would a king be talking with a shepherd?” the boy asked, awed and embarrassed.

“For several reasons. But let’s say that the most important is that you have succeeded in discovering your destiny.”

The boy didn’t know what a person’s “destiny” was.

“It’s what you have always wanted to accomplish. Everyone, when they are young, knows what their destiny is.

“At that point in their lives, everything is clear and everything is possible. They are not afraid to dream, and to yearn for everything they would like to see happen to them in their lives. But, as time passes, a mysterious force begins to convince them that it will be impossible for them to realize their destiny.”

None of what the old man was saying made much sense to the boy. But he wanted to know what the “mysterious force” was; the merchant’s daughter would be impressed when he told her about that!

“It’s a force that appears to be negative, but actually shows you how to realize your destiny. It prepares your spirit and your will, because there is one great truth on this planet: whoever you are, or whatever it is that you do, when you really want something, it’s because that desire originated in the soul of the universe. It’s your mission on earth.”

“Even when all you want to do is travel? Or marry the daughter of a textile merchant?”

“Yes, or even search for treasure. The Soul of the World is nourished by people’s happiness. And also by unhappiness, envy, and jealousy. To realize one’s destiny is a person’s only real obligation. All things are one.

“And, when you want something, all the universe conspires in helping you to achieve it.”

They were both silent for a time, observing the plaza and the townspeople. It was the old man who spoke first.

“Why do you tend a flock of sheep?”

“Because I like to travel.”

The old man pointed to a baker standing in his shop window at one corner of the plaza. “When he was a child, that man wanted to travel, too. But he decided first to buy his bakery and put some money aside. When he’s an old man, he’s going to spend a month in Africa. He never realized that people are capable, at any time in their lives, of doing what they dream of.”

“He should have decided to become a shepherd,” the boy said.

“Well, he thought about that,” the old man said. “But bakers are more important people than shepherds. Bakers have homes, while shepherds sleep out in the open. Parents would rather see their children marry bakers than shepherds.”

The boy felt a pang in his heart, thinking about the merchant’s daughter. There was surely a baker in her town.

The old man continued, “In the long run, what people think about shepherds and bakers becomes more important for them than their own destinies.”

The old man leafed through the book, and fell to reading a page he came to. The boy waited, and then interrupted the old man just as he himself had been interrupted. “Why are you telling me all this?”

“Because you are trying to realize your destiny. And you are at the point where you’re about to give it all up.”

“And that’s when you always appear on the scene?”

“Not always in this way, but I always appear in one form or another. Sometimes I appear in the form of a solution, or a good idea. At other times, at a crucial moment, I make it easier for things to happen. There are other things I do, too, but most of the time people don’t realize I’ve done them.”

The old man related that, the week before, he had been forced to appear before a miner, and had taken the form of a stone. The miner had abandoned everything to go mining for emeralds. For five years he had been working a certain river, and had examined hundreds of thousands of stones looking for an emerald. The miner was about to give it all up, right at the point when, if he were to examine just one more stone—just one more— he would find his emerald. Since the miner had sacrificed everything to his destiny, the old man decided to become involved. He transformed himself into a stone that rolled up to the miner’s foot. The miner, with all the anger and frustration of his five fruitless years, picked up the stone and threw it aside. But he had thrown it with such force that it broke the stone it fell upon, and there, embedded in the broken stone, was the most beautiful emerald in the world.

“People learn, early in their lives, what is their reason for being,” said the old man, with a certain bitterness. “Maybe that’s why they give up on it so early, too. But that’s the way it is.”

The boy reminded the old man that he had said something about hidden treasure.

“Treasure is uncovered by the force of flowing water, and it is buried by the same currents,” said the old man. “If you want to learn about your own treasure, you will have to give me one-tenth of your flock.”

“What about one-tenth of my treasure?”

The old man looked disappointed. “If you start out by promising what you don’t even have yet, you’ll lose your desire to work toward getting it.”

The boy told him that he had already promised to give one-tenth of his treasure to the Gypsy.

“Gypsies are experts at getting people to do that,” sighed the old man. “In any case, it’s good that you’ve learned that everything in life has its price. This is what the Warriors of the Light try to teach.”

The old man returned the book to the boy.

“Tomorrow, at this same time, bring me a tenth of your flock. And I will tell you how to find the hidden treasure. Good afternoon.”

And he vanished around the corner of the plaza. *

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: