Đứa Trẻ Bị Ruồng Bỏ – Abandoned

Đứa Trẻ Bị Ruồng Bỏ

Guy De Maupassant

Thật lòng mà nói thì anh thấy em điên thật rồi khi nảy ra ý muốn đi dạo ở nông thôn vào lúc thời tiết như thế này. Từ hai tháng nay, em có những ý tưởng thật lạ lùng. Bất chấp anh có muốn hay không nhưng em đã lôi anh đi ra biển chơi trong khi từ bốn mươi lăm năm nay, từ khi chúng ta kết hôn đến nay, em chưa từng nảy ra những ý ngông cuồng như thế. Em tự chọn một cách độc đoán Fécamps, một thành phố buồn tẻ, vắng vẻ. Em, một người chẳng bao giờ có thi hứng với những nơi vắng vẻ hiu quạnh, mà lại muốn đi dạo trên những cánh đồng vào những ngày nóng nực nhất trong năm. Hãy bảo D’Apreval đưa em đi vì cậu ta luôn sẵn lòng chiều theo mọi thói thất thường của em. Còn tôi, tôi về nghỉ trưa đây.

Bà Cadour quay về phía người bạn cũ:
– Đi với tôi chứ, D’Apreval?
Ông này nghiêng người, mỉm cười đầy vẻ ga lăng như thuở trước:
– Bà đi đâu, tôi đi đấy. – Ông nói.
– Vậy thì, hãy đi mà phơi nắng, cả hai người. – Ông Cadour tuyên bố.
Ông quay về khách sạn Bain để nằm dài lên giường nghỉ ngơi một hai giờ.
Ngay khi ông đi khuất, hai người bạn già cũng quay gót đi. Bà nói rất khẽ, vừa nói vừa siết chặt tay ông:
– Thế là! Thế là!
Ông thầm thì:
– Bà điên thật. Tôi đoan chắc là bà điên thật rồi. Hãy nghĩ đến điều có thể xảy đến. Nếu nó…
Bà giật mình:
– Henri! Đừng gọi “nó” một cách xa lạ như thế…
Ông này nói lại bằng một giọng hơi cục cằn:
– Tốt thôi! Nếu con trai chúng ta có nghi ngờ điều gì, nếu con nghi ngờ chúng ta, nếu con tóm được bà, tóm được chúng ta. Bà đã qua 40 năm không gặp mặt con. Vậy giờ đây bà muốn có gì?
Họ cùng đi dọc theo con đường đi từ biển vào thành phố. Họ rẽ phải để đi lên vùng mũi d’Etrtat. Con đường trắng lấp lóa dưới ánh nắng thiêu đốt.
Họ cùng dạo bước chậm dãi dưới cái nóng, cái nắng gay gắt. Bà đã khoác tay mình vào tay người bạn già, nhìn thẳng về phía trước với cái nhìn bất động, ám ảnh.
Bà hỏi:
– Vậy, ông đã không hề gặp lại nó ư?
– Không hề!
– Có thể thế sao?
– Thôi nào bà bạn thân mến, đừng lại bắt đầu cuộc tranh luận muôn thuở đó nữa đi. Tôi đã có vợ, có con, cũng như bà đã có một người chồng. Vậy nên cả hai chúng ta, cả bà và cả tôi, chúng ta đều sợ dư luận cả.
Bà không trả lời. Bà nghĩ đến thời thiếu nữ xa xôi, nghĩ đến những điều đáng buồn đã qua.
Người ta đã cưới chồng cho bà, như cưới chồng cho mọi cô gái trẻ khác. Bà chẳng hề biết gì về người chồng của mình, một nhà ngoại giao, và bà về sống với ông, làm chức phận một người vợ như mọi phụ nữ trên đời.
Nhưng rồi, có một thanh niên trẻ, ông D’Apreval, cũng đã có vợ, đã yêu bà tha thiết, và trong một lần chồng bà vắng nhà lâu ngày vì phải đi công tác ở Ấn Độ, bà đã ngã lòng.
Bà đã không thể cưỡng lại? Không thể từ chối? Không thể có đủ sức mạnh, đủ dũng khí để không nhượng bộ ông? Bà có yêu không? Không, thực sự là không! Điều đó quá nặng nề! Bà đã quá đau khổ! Bởi cuộc đời này thật độc ác và nghiệt ngã! Liệu ai có thể tránh được những cú đánh của số phận, ai có thể trốn được định mệnh đã an bài? Nhất là khi ta chỉ là một phụ nữ cô đơn, không con cái, bị bỏ rơi, không được biết đến những âu yếm. Người phụ nữ đó có thể luôn trốn chạy được nỗi đam mê khát khao luôn dõi theo mình như trốn chạy ánh mặt trời để sống đến tận khi chết trong bóng đêm tối tăm, lạnh lẽo không tình yêu được không?
Giờ bà nhớ lại tất cả những chi tiết nhỏ thuở đó, những nụ hôn của ông ta, những nụ cười, cách ông ta ngừng lại trên bậc cửa nhìn bà đầy âu yếm trước khi bước vào nhà bà. Hạnh phúc biết bao những ngày đó, những ngày đẹp đẽ duy nhất trong đời bà, và những ngày đó mới sớm kết thúc biết mấy!
Rồi bà nhận thấy mình có mang! Thật kinh hoàng!
Ôi! Chuyến du lịch trong vùng Midi này, một chuyến du lịch dài, sự đau khổ, những khiếp sợ không bao giờ nguôi, cuộc sống được giấu trong căn phòng nhỏ cô đơn, trên bờ biển Địa Trung Hải, sâu trong một khu vườn mà bà đã từng không dám ra khỏi đó!
Vì rằng bà không hề nhắc nhớ gì đến những ngày đó, những ngày bà nằm dài dưới một cây cam, mắt dõi nhìn những quả cây chín đỏ, tròn xoe, nằm lấp ló trong những tán lá xanh! Bởi bà từng muốn ra khỏi đó, đi ra đến tận biển, tận hưởng những làn gió mát lành, vẫn thường thổi qua nhà bà, ở bờ biển đó, bà lắng tai nghe tiếng sóng vỗ ỳ oạp, ở đó, bà mơ về một khoảng không xanh biếc rộng lớn lấp lánh ánh mặt trời, với những cánh buồm trắng đi tới tận đường chân trời. Nhưng bà đã không hề dám bước ra khỏi cửa dù chỉ một bước. Nếu có ai nhận ra bà, với cái bụng kềnh càng, thì thật xấu hổ nhường nào.
Và những ngày chờ đợi, những ngày cuối cùng đau đớn khổ sở! Những dấu hiệu cảnh báo! Những đau đớn! Rồi đến cái đêm khủng khiếp đó! Bà đã phải chịu đựng đau đớn bao nhiêu.
Đêm đó thật khủng khiếp, bà đã rên rỉ biết mấy, kêu gào biết mấy! Bà như vẫn còn nhìn thấy nét mặt xanh rờn của người tình, ông đã hôn mãi hôn mãi lên tay bà, nhớ khuôn mặt nhẵn nhụi của ông bác sĩ, cái mũ trắng của cô y tá.
Và xúc động đến mấy khi cô nghe tiếng khóc oe oe của đứa trẻ. Sự cố gắng đầu tiên để tồn tại của một con người.
Và ngày hôm sau! Ngày hôm sau! Ngày duy nhất trong đời mình bà đã ngắm và ôm con mình trong tay, bởi từ đó trở đi, bà không bao giờ nhìn thấy nó nữa!
Và, kể từ ngày đó, bà luôn nhớ về nó, luôn nghĩ đến nó! Bà đã không hề gặp lại nó, cái cơ thể bé nhỏ tách ra từ cơ thể bà, con trai bà! Người ta đã mang nó đi, đã giấu nó đi. Bà chỉ biết rằng nó được nuôi dạy bởi những người nông dân vùng Normand, và rồi nó cũng đã trở thành một nông dân, nó đã lấy vợ, nó cũng đã được bố nó trợ cấp cho một khoản tiền dưới danh nghĩa một người nào đó.
Biết bao lần, từ bốn mươi năm nay, bà đã muốn đến gặp nó để được ôm nó vào lòng, để được hôn nó! Bà không biết giờ đây nó đã lớn đến chừng nào rồi! Bà luôn nghĩ đến đứa trẻ sơ sinh mà bà đã một hôm ôm nó trong vòng tay, áp nó vào ngực mình.
Biết bao lần bà đã nói với người tình: “Em chẳng cần giữ gìn thể diện nữa, em muốn gặp nó, em sẽ đi tìm nó”.
Nhưng ông này luôn ngăn trở, luôn giữ bà lại. Bà phải biết nén lòng, phải biết kiềm chế, nếu không người ta sẽ đoán ra được, người ta sẽ khám phá ra bí mật của cả hai. Bà đến phát điên lên mất.
– Nó trông thế nào? – Bà hỏi.
– Tôi không biết. Tôi không hề gặp lại nó nữa.
– Liệu có thể thế được chăng? Sinh ra một đứa con trai và không hề biết chút gì về nó. Sợ hãi vì có nó, ném nó đi như ném một nỗi tủi hổ. Thật khủng khiếp.
Họ đã đi được một quãng đường dài, mệt mỏi dưới cái nắng nóng, luôn phải trèo lên những đoạn đường dốc dài tưởng như bất tận.
Bà lại nói:
– Phải chăng đó chẳng phải là một sự trừng phạt? Tôi đã chẳng thể có thêm một đứa con nào nữa. Không, tôi không thể chịu đựng thêm nữa, tôi muốn gặp nó, nó luôn ám ảnh trong tôi từ suốt bốn mươi năm nay, ông không hiểu điều đó được đâu, các ông, những tên đàn ông. Hãy thử nghĩ xem, tôi suýt chết mới có được nó. Và tôi chẳng bao giờ còn được gặp nó nữa, không gặp lại nó nữa!… Có thể thế được chăng? Làm sao tôi có thể chịu đựng được điều đó lâu đến thế cơ chứ. Tôi đã luôn nghĩ đến nó. Tôi đã phải chịu đựng, đã phải đau khổ biết bao nhiêu khi nhớ về nó. Chưa một ngày nào, ông nghe đấy, chưa một sáng nào, khi thức giấc mà tôi lại không nghĩ ngay đến nó, đến con trai của tôi. Trông nó thì thế nào? Ôi! Tôi cảm thấy mình có tội biết mấy khi đối diện nó! Liệu người ta có cảm thấy ghê sợ những người sinh ra mình trong trường hợp tương tự như thế này không? Lẽ ra tôi phải rời bỏ mọi thứ và đưa nó đi, nuôi nấng, dạy dỗ nó, yêu thương chăm sóc nó. Như thế chắc hẳn tôi sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn. Tôi đã không dám. Tôi đã quá hèn nhát. Ôi! Tôi đau lòng quá! Ôi! Khốn khổ thay những đứa con bị bỏ rơi, hẳn nhiên chúng phải thù ghét mẹ chúng lắm, người đã đành lòng bỏ rơi chúng!
Đột nhiên bà ngừng lại, nghẹn ngào nức nở. Cả thung lũng hoàn toàn vắng lặng dưới ánh nắng chói chang. Chỉ có những con châu chấu nhảy lách tách trong những đám cỏ vàng hiếm hoi hai bên đường.
– Bà ngồi xuống một chút đi. – Ông bảo.
Bà để ông đưa vào sát lề đường và khuỵu xuống, úp mặt vào hai tay. Mái tóc trắng xòa xuống hai bên má, bà nức nở khóc, đầy đau khổ vì một nỗi đau nội tâm giằng xé.
Ông đứng đối diện trước mặt bà, lo lắng, không biết nói gì với bà. Ông rên rỉ:
– Thôi nào… dũng cảm lên nào.
Bà ngẩng đầu lên:
– Tôi không sao.
Và chùi nước mắt, bà lại tiếp tục bước đi bằng những bước chân nặng nề của người già.
Lấp ló phía xa xa, dưới bóng một hàng cây, có một vài nóc nhà. Họ nghe thấy rất rõ tiếng búa nện lên đe.
Và rồi họ nhìn thấy, trên đường bên phải, một chiếc xe ngựa kéo đang đỗ trước cửa một ngôi nhà thấp, và dưới lán hàng, hai người đàn ông đang đóng móng cho một con ngựa.
Ông D’Apreval tiến lại gần và hỏi to:
– Làm ơn cho hỏi trang trại nhà ông Pierre Bénédick ở đâu?
Một trong hai người đàn ông trả lời:
– Ông bà rẽ vào con đường nhỏ phía bên trái, ngay sát cạnh một quán cà phê nhỏ, đi thẳng qua đó một chút, nhà thứ ba sau nhà Poret. Có một cây thông cạnh hàng rào. Không thể nhầm được đâu.
Họ rẽ vào bên trái. Bà đi một cách chậm rãi, hai chân như mềm nhũn ra, tim đập loạn nhịp khiến bà như cảm thấy tắt thở. Mỗi bước chân đi bà lại thầm thì như thầm thì một lời cầu nguyện:
– Lạy Chúa! Ôi, lạy Chúa!
Và một cảm xúc mãnh liệt như đang chẹn lấy cổ họng bà, khiến bà phải thở một cách khó khăn, như đang níu chân bà, khiến bà bước đi một cách lảo đảo.
Ông D’Apreval, hơi tái mặt, bồn chồn, nói một cách thô bạo:
– Nếu bà không kiềm chế được, bà sẽ làm hỏng mọi chuyện mất. Hãy cố tĩnh tâm lại đi.
Bà lắp bắp:
– Con trai tôi! Tôi làm sao tĩnh tâm khi tôi nghĩ rằng tôi sắp được gặp con trai tôi!
Họ đi vào một con đường nhỏ nằm giữa những cánh đồng, rợp dưới bóng hai hàng sồi hai bên.
Rồi, họ bỗng nhìn thấy một cây thông non được trồng sát cạnh một hàng rào bằng gỗ.
– Kia rồi. – Ông nói.
Bà đứng phắt lại và quan sát.
Sau hàng rào là một sân rộng trồng táo, sâu phía trong có một ngôi nhà nhỏ mái rạ. Đối diện, là chuồng ngựa, kho thóc, chuồng bò, trại gà. Trong một nhà có mái đen, xếp hàng nào là xe ngựa kéo, xe bò, xe độc mã. Bốn con bê đang gặm cỏ non xanh rờn dưới bóng rợp của cây cối. Những chú gà đen đi lang thang chỗ nào cũng thấy trong khắp mảnh vườn đã được rào kín.
Không có một tiếng động nhỏ nào, cửa nhà vẫn đang mở. Nhưng không có bóng dáng một ai.
Họ đi vào, ngay khi đó, một con chó đen xì nhảy vọt ra từ một cái thùng tròn đặt nằm dưới chân một cây lê lớn, nó gầm gừ đầy vẻ hung tợn.
Dựa vào tường nhà, ở lối vào, có tổ ong lớn được đặt trên những tấm ván đặt thẳng hàng phía dưới vòm rơm.
Ông D’Apreval, đứng trước cửa nhà, gọi to:
– Có ai trong nhà không?
Một đứa bé xuất hiện, một cô bé khoảng mười tuổi, mặc một chiếc áo sơ-mi và một chiếc váy len, hai chân để trần và bẩn lem luốc, cô bé có vẻ vừa e dè vừa tinh ranh. Nó dừng lại trước bậc cửa như thể để giữ không cho ai vào.
– Ông bà cần gì ạ? – Nó hỏi.
– Bố cháu có nhà không?
– Không.
– Ông ấy đang ở đâu?
– Cháu không biết.
– Thế mẹ cháu đâu?
– Đang ở chỗ vắt sữa bò.
– Mẹ cháu sắp về chưa?
– Cháu không biết.
Bỗng nhiên, một bà già, như thể bà sợ người ta bắt đứa bé đưa đi, nói vọng ra bằng một giọng hấp tấp:
– Tôi sẽ chẳng đi tìm nó về đâu.
– Chúng tôi sẽ đợi thưa bà.
Khi quay người lại, họ nhìn thấy một nữ tá điền đang đi về phía ngôi nhà, hai tay xách hai xô nặng, sóng sánh sữa.
Cô này hơi thọt chân phải, khuôn ngực căng tròn trong một chiếc áo dệt kim màu nâu, đã xỉn màu vì thời gian. Cô có vẻ của một cô hầu nghèo khó khốn khổ, bẩn thỉu.
– Mẹ cháu đấy. – Đứa bé nói.
Khi về gần đến nhà, cô nhìn hai người lạ với vẻ nghi ngờ không thiện cảm, rồi cô đi luôn vào nhà như thể cô không muốn gặp, không muốn nói chuyện gì với họ.
Cô có vẻ già, với khuôn mặt khắc khổ, nước da bủng beo, nét mặt khó đăm đăm. Vẻ mặt vô cảm của những người nông thôn.
Ông D’Apreval gọi cô:
– Thưa cô, chúng tôi vào để hỏi mua hai cốc sữa.
Sau khi đã đặt hai xô sữa một cách cẩn thận cạnh cửa, cô lầu bầu:
– Tôi không bán sữa.
– Vì chúng tôi đang rất khát. Và bà đây đã già và đang rất mệt. Cô có thể cho chúng tôi một thứ gì đó để uống được không?
Cô nông dân nhìn họ bằng một cái nhìn lo lắng, ranh ma. Cuối cùng cô quyết định.
– Thôi thì vì ông bà đã đến đây, tôi có đưa cho ông bà một chút cũng không sao. – Cô nói. Rồi cô biến vào nhà. Một lát sau đứa trẻ ra, cầm hai cái chai và nó đặt dưới gốc cây táo, rồi tới lượt mẹ nó lại đi ra với hai bát đầy sữa ấm, cô đưa nó cho hai người. Rồi cô đứng trước mặt họ như thể để canh chừng họ và đoán xem họ định làm gì.
– Ông bà sống ở Fécamps? – Cô hỏi.
Ông D’Apreval trả lời:
– Vâng, vào mùa hè chúng tôi về sống ở Fécamps.
Rồi sau một lúc im lặng, ông lại hỏi:
– Cô có thể bán gà cho chúng tôi hàng tuần được không?
Cô do dự, rồi trả lời:
– Vâng, đương nhiên là được, ông bà thích những con gà tơ phải không?
– Vâng, những con gà tơ.
– Ông bà thường mua bao nhiêu một con?
Ông D’Apreval, mù tịt về chuyện này, quay về phía bà bạn:
– Bà thường trả bao nhiêu cho một con gà, những con gà tơ ấy?
Bà ấp úng, lắp bắp, hai mắt long lanh nước:
– Bốn frăng, bốn frăng năm mươi xu.
Bà già từ trong góc nhìn ra, ngạc nhiên hỏi:
– Bà ấy ốm à, sao bà ấy lại khóc?
Ông D’Apreval không biết trả lời thế nào, ấp úng:
– Không… không… bà ấy… bà ấy đánh mất cái đồng hồ đeo tay, một cái đồng hồ rất đẹp, và bà ấy đang rất buồn vì điều đó. Nếu ai đó có nhặt được nó, xin các bà báo cho chúng tôi.
Bà Bénédict không trả lời gì cả, bà thấy có gì ám muội ở đây. Đột nhiên bà thông báo:
– Đây là con trai tôi!
Chỉ duy có bà nhìn thấy anh ta vì bà đối diện với cửa rào. Ông D’Apreval giật mình. Bà Cadour suýt ngã bổ chửng và cuống cuồng quay phắt lại.
Xuất hiện một người đàn ông, cách khoảng mười bước chân, đang ra sức kéo một con bò sữa, con này cố cưỡng lại, cả người cả vật cùng thở hổn hển. Anh ta nói, không hề để ý đến hai người lạ:
– Mẹ kiếp! Cái con bò cái ngu đần này!
Anh ta đi qua, hướng về phía chuồng bò, và biến mất vào trong đó. Nước mắt bỗng giàn giụa trên khuôn mặt người phụ nữ già, hốt hoảng bà nức nở không thành câu, không kịp suy nghĩ: “Con trai tôi, đó chính là con trai tôi!”
Ông D’Apreval, cũng có chung cảm giác xúc động như của bà, hỏi bằng một giọng lạc cả đi:
– Có phải đó là ông Benedict không?
Bà già hỏi lại một cách nghi ngờ:
– Sao ông biết tên nó?
Ông trả lời:
– Ông thợ rèn ở góc đường lớn bảo cho tôi.
Rồi cả hai cùng im thít, mắt đăm đăm nhìn vào cửa chuồng bò. Trên bức tường của chuồng bò có những lỗ tròn, từ ngoài nhìn vào thì không nhìn thấy gì hết nhưng người ta có thể nghe thấy tiếng đập đuôi của lũ súc vật, tiếng giậm chân, tiếng nhai cỏ nhóp nhép, tiếng chân bước trên cỏ khô lạo xạo.
Người đàn ông lại xuất hiện trên ngưỡng cửa, lau trán, bước về nhà bằng những bước chân dài, nặng nề.
Anh ta đi qua những người lạ mặt mà không hề có vẻ gì để ý đến họ, anh ta nói với vợ:
– Đi lấy cho tôi một hũ rượu táo đi, tôi khát khô cả cổ rồi đây.
Rồi anh ta đi vào nhà. Cô gái cũng bỏ vào hầm rượu, để hai người khách lại một mình.
Và bà Cadour, vội vàng lắp bắp:
– Chúng ta đi khỏi đây thôi, Henry, chúng ta đi khỏi đây thôi.
Ông D’Apreval đỡ lấy tay bà, nâng bà lên, và đỡ bà đi. Ông cảm thấy rất rõ ràng bà sắp ngã, ông kéo bà đi sau khi đã để lại năm frăng trên ghế.
Ngay khi họ vừa đi ra khỏi hàng rào, bà bật khóc nức nở, người rung bần bật đầy đau khổ và lắp bắp:
– Ôi! Ôi! Đó là đứa con mà chúng ta đã sinh ra đấy ư?…
Ông cũng trở nên nhợt nhạt, trả lời một cách khô khan:
– Tôi đã làm tất cả những gì có thể. Trang trại đó trị giá tám mươi nghìn frăng. Đó là một khoản thừa kế không phải đứa trẻ thị dân nào cũng có được.
Họ nhìn nhau đầy trìu mến, không nói thêm một lời nào nữa. Bà cứ khóc mãi không ngưng. Nước mắt lã chã rơi trên má bà thành hàng không ngừng.
Cuối cùng thì bà cũng kiềm được cơn nức nở. Họ đã về đến Fécamps.
Ông Cadour đang đợi họ để dùng bữa tối. Ông bật cười và cao giọng nói khi nhìn thấy họ từ đằng xa.
– Hay quá, vợ tôi đã cháy nắng rồi kìa. Tôi thấy hài lòng quá. Thật tình mà nói, bấy lâu nay tôi thấy bà ấy cứ trở chứng thế nào ấy, tôi tin là bà ấy điên thật đấy!
Cả hai đều không trả lời, vì thế, hai tay xoa vào nhau, ông chồng lại hỏi:
– Ít nhất thì hai người cũng đã có một chuyến đi dạo thú vị chứ?
– Rất thú vị, bạn thân mến ạ, rất thú vị. – Ông D’Apreval trả lời.

Vũ Yến Ly dịch

(English Version)

Abandoned

Guy De Maupassant

“I really think you must be mad, my dear, to go for a country walk in such weather as this. You have had some very strange notions for the last two months. You drag me to the seaside in spite of myself, when you have never once had such a whim during all the forty-four years that we have been married. You chose Fecamp, which is a very dull town, without consulting me in the matter, and now you are seized with such a rage for walking, you who hardly ever stir out on foot, that you want to take a country walk on the hottest day of the year. Ask d’Apreval to go with you, as he is ready to gratify all your whims. As for me, I am going back to have a nap.”
Madame de Cadour turned to her old friend and said:
“Will you come with me, Monsieur d’Apreval?”
He bowed with a smile, and with all the gallantry of former years:
“I will go wherever you go,” he replied.
“Very well, then, go and get a sunstroke,” Monsieur de Cadour said; and he went back to the Hotel des Bains to lie down for an hour or two.
As soon as they were alone, the old lady and her old companion set off, and she said to him in a low voice, squeezing his hand:
“At last! at last!”
“You are mad,” he said in a whisper. “I assure you that you are mad. Think of the risk you are running. If that man–”
She started.
“Oh! Henri, do not say that man, when you are speaking of him.”
“Very well,” he said abruptly, “if our son guesses anything, if he has any suspicions, he will have you, he will have us both in his power. You have got on without seeing him for the last forty years. What is the matter with you to-day?”
They had been going up the long street that leads from the sea to the town, and now they turned to the right, to go to Etretat. The white road stretched in front of him, then under a blaze of brilliant sunshine, so they went on slowly in the burning heat. She had taken her old friend’s arm, and was looking straight in front of her, with a fixed and haunted gaze, and at last she said:
“And so you have not seen him again, either?”
“No, never.”
“Is it possible?”
“My dear friend, do not let us begin that discussion again. I have a wife and children and you have a husband, so we both of us have much to fear from other people’s opinion.”
She did not reply; she was thinking of her long past youth and of many sad things that had occurred. How well she recalled all the details of their early friendship, his smiles, the way he used to linger, in order to watch her until she was indoors. What happy days they were, the only really delicious days she had ever enjoyed, and how quickly they were over!
And then–her discovery–of the penalty she paid! What anguish!
Of that journey to the South, that long journey, her sufferings, her constant terror, that secluded life in the small, solitary house on the shores of the Mediterranean, at the bottom of a garden, which she did not venture to leave. How well she remembered those long days which she spent lying under an orange tree, looking up at the round, red fruit, amid the green leaves. How she used to long to go out, as far as the sea, whose fresh breezes came to her over the wall, and whose small waves she could hear lapping on the beach. She dreamed of its immense blue expanse sparkling under the sun, with the white sails of the small vessels, and a mountain on the horizon. But she did not dare to go outside the gate. Suppose anybody had recognized her!
And those days of waiting, those last days of misery and expectation! The impending suffering, and then that terrible night! What misery she had endured, and what a night it was! How she had groaned and screamed! She could still see the pale face of her lover, who kissed her hand every moment, and the clean-shaven face of the doctor and the nurse’s white cap.
And what she felt when she heard the child’s feeble cries, that wail, that first effort of a human’s voice!
And the next day! the next day! the only day of her life on which she had seen and kissed her son; for, from that time, she had never even caught a glimpse of him.
And what a long, void existence hers had been since then, with the thought of that child always, always floating before her. She had never seen her son, that little creature that had been part of herself, even once since then; they had taken him from her, carried him awav, and had hidden him. All she knew was that he had been brought up by some peasants in Normandy, that he had become a peasant himself, had married well, and that his father, whose name he did not know, had settled a handsome sum of money on him.
How often during the last forty years had she wished to go and see him and to embrace him! She could not imagine to herself that he had grown! She always thought of that small human atom which she had held in her arms and pressed to her bosom for a day.
How often she had said to M. d’Apreval: “I cannot bear it any longer; I must go and see him.”
But he had always stopped her and kept her from going. She would be unable to restrain and to master herself; their son would guess it and take advantage of her, blackmail her; she would be lost.
“What is he like?” she said.
“I do not know. I have not seen him again, either.”
“Is it possible? To have a son and not to know him; to be afraid of him and to reject him as if he were a disgrace! It is horrible.”
They went along the dusty road, overcome by the scorching sun, and continually ascending that interminable hill.
“One might take it for a punishment,” she continued; “I have never had another child, and I could no longer resist the longing to see him, which has possessed me for forty years. You men cannot understand that. You must remember that I shall not live much longer, and suppose I should never see him, never have seen him! . . . Is it possible? How could I wait so long? I have thought about him every day since, and what a terrible existence mine has been! I have never awakened, never, do you understand, without my first thoughts being of him, of my child. How is he? Oh, how guilty I feel toward him! Ought one to fear what the world may say in a case like this? I ought to have left everything to go after him, to bring him up and to show my love for him. I should certainly have been much happier, but I did not dare, I was a coward. How I have suffered! Oh, how those poor, abandoned children must hate their mothers!”
She stopped suddenly, for she was choked by her sobs. The whole valley was deserted and silent in the dazzling light and the overwhelming heat, and only the grasshoppers uttered their shrill, continuous chirp among the sparse yellow grass on both sides of the road.
“Sit down a little,” he said.
She allowed herself to be led to the side of the ditch and sank down with her face in her hands. Her white hair, which hung in curls on both sides of her face, had become tangled. She wept, overcome by profound grief, while he stood facing her, uneasy and not knowing what to say, and he merely murmured: “Come, take courage.”
She got up.
“I will,” she said, and wiping her eyes, she began to walk again with the uncertain step of an elderly woman.
A little farther on the road passed beneath a clump of trees, which hid a few houses, and they could distinguish the vibrating and regular blows of a blacksmith’s hammer on the anvil; and presently they saw a wagon standing on the right side of the road in front of a low cottage, and two men shoeing a horse under a shed.
Monsieur d’ Apreval went up to them.
“Where is Pierre Benedict’s farm?” he asked.
“Take the road to the left, close to the inn, and then go straight on; it is the third house past Poret’s. There is a small spruce fir close to the gate; you cannot make a mistake.”
They turned to the left. She was walking very slowly now, her legs threatened to give way, and her heart was beating so violently that she felt as if she should suffocate, while at every step she murmured, as if in prayer:
“Oh! Heaven! Heaven!”
Monsieur d’Apreval, who was also nervous and rather pale, said to her somewhat gruffly:
“If you cannot manage to control your feelings, you will betray yourself at once. Do try and restrain yourself.”
“How can I?” she replied. “My child! When I think that I am going to see my child.”
They were going along one of those narrow country lanes between farmyards, that are concealed beneath a double row of beech trees at either side of the ditches, and suddenly they found themselves in front of a gate, beside which there was a young spruce fir.
“This is it,” he said.
She stopped suddenly and looked about her. The courtyard, which was planted with apple trees, was large and extended as far as the small thatched dwelling house. On the opposite side were the stable, the barn, the cow house and the poultry house, while the gig, the wagon and the manure cart were under a slated outhouse. Four calves were grazing under the shade of the trees and black hens were wandering all about the enclosure.
All was perfectly still; the house door was open, but nobody was to be seen, and so they went in, when immediately a large black dog came out of a barrel that was standing under a pear tree, and began to bark furiously.
There were four bee-hives on boards against the wall of the house.
Monsieur d’Apreval stood outside and called out:
“Is anybody at home?”
Then a child appeared, a little girl of about ten, dressed in a chemise and a linen, petticoat, with dirty, bare legs and a timid and cunning look. She remained standing in the doorway, as if to prevent any one going in.
“What do you want?” she asked.
“Is your father in?”
“No.”
“Where is he?”
“I don’t know.”
“And your mother?”
“Gone after the cows.”
“Will she be back soon?”
“I don’t know.”
Then suddenly the lady, as if she feared that her companion might force her to return, said quickly:
“I shall not go without having seen him.”
“We will wait for him, my dear friend.”
As they turned away, they saw a peasant woman coming toward the house, carrying two tin pails, which appeared to be heavy and which glistened brightly in the sunlight.
She limped with her right leg, and in her brown knitted jacket, that was faded by the sun and washed out by the rain, she looked like a poor, wretched, dirty servant.
“Here is mamma,” the child said.
When she got close to the house, she looked at the strangers angrily and suspiciously, and then she went in, as if she had not seen them. She looked old and had a hard, yellow, wrinkled face, one of those wooden faces that country people so often have.
Monsieur d’Apreval called her back.
“I beg your pardon, madame, but we came in to know whether you could sell us two glasses of milk.”
She was grumbling when she reappeared in the door, after putting down her pails.
“I don’t sell milk,” she replied.
“We are very thirsty,” he said, “and madame is very tired. Can we not get something to drink?”
The peasant woman gave them an uneasy and cunning glance and then she made up her mind.
“As you are here, I will give you some,” she said, going into the house, and almost immediately the child came out and brought two chairs, which she placed under an apple tree, and then the mother, in turn, brought out two bowls of foaming milk, which she gave to the visitors. She did not return to the house, however, but remained standing near them, as if to watch them and to find out for what purpose they had come there.
“You have come from Fecamp?” she said.
“Yes,” Monsieur d’Apreval replied, “we are staying at Fecamp for the summer.”
And then, after a short silence, he continued:
“Have you any fowls you could sell us every week?”
The woman hesitated for a moment and then replied:
“Yes, I think I have. I suppose you want young ones?”
“Yes, of course.”
“‘What do you pay for them in the market?”
D’Apreval, who had not the least idea, turned to his companion:
“What are you paying for poultry in Fecamp, my dear lady?”
“Four francs and four francs fifty centimes,” she said, her eyes full of tears, while the farmer’s wife, who was looking at her askance, asked in much surprise
“Is the lady ill, as she is crying?”
He did not know what to say, and replied with some hesitation:
“No–no–but she lost her watch as we came along, a very handsome watch, and that troubles her. If anybody should find it, please let us know.”
Mother Benedict did not reply, as she thought it a very equivocal sort of answer, but suddenly she exclaimed:
“Oh, here is my husband!”
She was the only one who had seen him, as she was facing the gate. D’Apreval started and Madame de Cadour nearly fell as she turned round suddenly on her chair.
A man bent nearly double, and out of breath, stood there, ten-yards from them, dragging a cow at the end of a rope. Without taking any notice of the visitors, he said:
“Confound it! What a brute!”
And he went past them and disappeared in the cow house.
Her tears had dried quickly as she sat there startled, without a word and with the one thought in her mind, that this was her son, and D’Apreval, whom the same thought had struck very unpleasantly, said in an agitated voice:
“Is this Monsieur Benedict?”
“Who told you his name?” the wife asked, still rather suspiciously.
“The blacksmith at the corner of the highroad,” he replied, and then they were all silent, with their eyes fixed on the door of the cow house, which formed a sort of black hole in the wall of the building. Nothing could be seen inside, but they heard a vague noise, movements and footsteps and the sound of hoofs, which were deadened by the straw on the floor, and soon the man reappeared in the door, wiping his forehead, and came toward the house with long, slow strides. He passed the strangers without seeming to notice them and said to his wife:
“Go and draw me a jug of cider; I am very thirsty.”
Then he went back into the house, while his wife went into the cellar and left the two Parisians alone.
“Let us go, let us go, Henri,” Madame de Cadour said, nearly distracted with grief, and so d’Apreval took her by the arm, helped her to rise, and sustaining her with all his strength, for he felt that she was nearly fainting, he led her out, after throwing five francs on one of the chairs.
As soon as they were outside the gate, she began to sob and said, shaking with grief:
“Oh! oh! is that what you have made of him?”
He was very pale and replied coldly:
“I did what I could. His farm is worth eighty thousand francs, and that is more than most of the sons of the middle classes have.”
They returned slowly, without speaking a word. She was still crying; the tears ran down her cheeks continually for a time, but by degrees they stopped, and they went back to Fecamp, where they found Monsieur de Cadour waiting dinner for them. As soon as he saw them, he began to laugh and exclaimed:
“So my wife has had a sunstroke, and I am very glad of it. I really think she has lost her head for some time past!”
Neither of them replied, and when the husband asked them, rubbing his hands:
“Well, I hope that, at least, you have had a pleasant walk?”
Monsieur d’Apreval replied:
“A delightful walk, I assure you; perfectly delightful.”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: