Ông Cụ Milon- Father Milon

Ông Cụ Milon

Guy de Maupassant

Từ một tháng nay, mặt trời to lớn đổ xuống cánh đồng ánh nắng như thiêu như đốt. Cuộc sống rạng rỡ nở bừng dưới trận mưa lửa đó. Mặt đất là một mảng xanh mênh mông ngút ngàn. Bầu trời xanh thẳm tít tận đường chân trời. Các nông trại vùng Normandie rải rác trên cánh đồng nhìn từ xa trông như những cánh rừng nhỏ, vây quanh bởi hàng rào cây dẻ gai cao vút. Tới gần, khi mở tấm rào bị mọt ruỗng, tưởng chừng như nhìn thấy một khu vườn khổng lồ, vì tất cả những cây táo cổ thụ, cũng khẳng khiu như những nông dân, đều đua nhau trổ hoa. Những thân cây đen già cỗi, cong queo, vặn vẹo, chạy thẳng hàng dọc theo sân, bày ra dưới trời xanh vòm hoa rực rỡ, trắng hồng. Mùi hương dễ chịu của hoa nở quyện vào mùi gây gây của những chuồng bò mở ngỏ và quyện vào hơi đống phân đang dậy mùi, với bầy gà mái bên trên.
Bấy giờ là giữa trưa. Cả gia đình đang dùng bữa dưới bóng cây lê trồng trước cửa: ông bố, bà mẹ, bốn đứa con, hai chị giúp việc, ba người đầy tớ trai. Không ai nói gì với nhau. Mọi người ăn xúp, rồi mở nắp đĩa đựng món hầm đầy khoai tây nấu mỡ.
Thỉnh thoảng một chị giúp việc đứng dậy đi vào hầm rượu rót đầy hũ rượu táo.
Chủ nhân, một gã cao to trạc tứ tuần, ngắm nghía một cây nho trơ trụi, trồng sát nhà, và chạy vằn vèo như con rắn, dưới các cửa sổ, suốt dọc men tường. Cuối cùng, ông nói: ” Cây nho của cha năm nay ra lộc sớm. Chắc sẽ sai quả đấy! ”
Bà vợ cũng quay lại nhìn, không nói gì.
Cây nho này trồng đúng vào chỗ ông cụ đã bị bắn chết.

Chuyện xảy ra vào thời chiến tranh 1870 (1). Quân Phổ chiếm cả nước. Tướng Faidherbe, với binh đoàn phương Bắc, đương đầu với bọn chúng.
Bấy giờ, bộ tham mưu quân Phổ đóng ở nông trại này. Người nông dân chủ trại, cụ Pierre Milon, đã tiếp nhận chúng và cố thu dọn chỗ ở cho chúng.
Từ một tháng nay, đội tiền quân của Đức dò xét tình hình trong làng. Quân Pháp bất động ở cách đó 10 dặm (2), vậy mà đêm đêm vẫn có những kỵ binh xung kích mất tích.
Tất cả những trinh sát lẻ, bọn được phái đi tuần, mỗi lần đi nhóm hai hay ba tên thì chẳng bao giờ thấy trở về. Sáng ra, người ta nhặt được xác chúng trong cánh đồng, sát rìa sân hay dưới hào. Ngay những con ngựa của chúng cũng nằm phơi thây dọc đường cái, cổ họng bị chém đứt. Những cuộc sát hại này dường như do cùng một số người làm mà không sao phát hiện được.
Cả vùng bị khủng bố. Chúng đem bắn những nông dân qua lời tố cáo suông, chúng bắt giam các phụ nữ, chúng muốn hăm doạ trẻ em cho khiếp sợ mà nói ra. Nhưng chúng vẫn không khám phá được gì.
Thế rồi một buổi sáng, người ta tìm thấy ông cụ Milon nằm sóng sượt trong chuồng ngựa, mặt bị chém một vết dài.
Hai tên kỵ binh xung kích bị đâm thủng bụng được tìm thấy cách nông trại 3 km. Một trong hai tên còn cầm trong tay thanh gươm dính máu. Hắn đã chống cự.
Ngay lập tức một toà án quân sự được thành lập ở ngoài trời, trước nông trại, ông cụ bị dẫn tới.
Ông đã 68 tuổi. Người nhỏ bé, gầy gò, hơi vẹo, hai bàn tay to giống như hai càng cua. Tóc ông nhàn nhạt, thưa thớt và phất phơ như lông tơ vịt non, để lộ da thịt trên đầu. Nước da xám và nhăn ở cổ lộ ra những mạch máu lớn chạy ẩn vào dưới quai hàm rồi lại hiện ra ở thái dương. Trong làng ai cũng cho là ông hà tiện và tính toán trong làm ăn.
Chúng để ông đứng giữa bốn tên lính, trước cái bàn lấy từ trong bếp ra. Năm tên sĩ quan và tên đại tá ngồi trước mặt ông.
Tên đại tá cất giọng nói, bằng tiếng Pháp:
– Cụ Milon, từ khi chúng tôi đến nơi đây, chúng tôi luôn thấy hài lòng về cụ. Cụ lúc nào cũng tỏ ra hay giúp đỡ và rất chu đáo với chúng tôi. Nhưng hôm nay cụ bị cáo buộc một chuyện ghê gớm lắm và mọi việc cần phải sáng tỏ. Vết thương trên mặt cụ là do đâu vậy?
Người nông dân không trả lời.
– Sự im lặng là lời buộc tội cụ đấy, cụ Milon ạ! Nhưng tôi muốn cụ trả lời, cụ nghe rõ chưa? Cụ có biết ai đã giết hai người kỵ binh mà sáng nay người ta tìm thấy gần đồi Thánh giá không?
Ông lão trả lời rành rọt:
– Chính tôi!
Tên đại tá, sững sờ, nín thinh một giây, chăm chú nhìn người tù. Ông cụ Milon tỏ ra thản nhiên, vẻ ngây dại nhà quê, mắt cúi nhìn xuống như khi nói chuyện với cha xứ. Chỉ có một điều cho thấy sự bối rối bên trong là ông cứ nuốt nước bọt liên tiếp, với sự gắng sức thấy rõ, tuồng như cuống họng đang bị bóp nghẹt.
Gia đình ông cụ, Jean con trai, con dâu, hai đứa cháu nhỏ, đứng lùi sau mười bước, kinh hãi, rụng rời.
Tên đại tá lại nói:
– Cụ có biết ai đã giết tất cả các trinh sát của chúng tôi mà từ một tháng nay cứ sáng đến mới tìm thấy xác ngoài đồng không?
Ông cụ trả lời, vẫn với cái vẻ thản nhiên ngây dại:
– Tôi đấy!
– Cụ đã giết tất cả?
– Tất cả, phải, chính tôi.
– Một mình cụ?
– Một mình tôi.
– Cụ hãy nói cho tôi biết làm sao mà cụ giết được?
Lần này ông cụ tỏ ra xúc động, ông lúng túng vì cần phải nói dài. Ông ấp úng:
– Tôi biết sao được? Việc đến thế nào tôi cứ vậy mà làm thôi.
Tên đại tá lại nói:
– Tôi báo cho cụ biết là cụ phải kể hết cho tôi nghe. Tốt nhất là cụ quyết định ngay đi. Cụ bắt đầu thế nào?
Ông cụ đưa mắt ái ngại nhìn gia đình đang chăm chú nghe đằng sau. Ông do dự một lát rồi bất chợt quyết định:
– Một buối sáng tôi trở về nhà, lúc đó chừng đã mười giờ, sau hôm các ông đến đây. Ông, rồi binh lính của ông, đã lấy của tôi hơn năm mươi đồng cỏ khô với con bò cái và hai con cừu. Tôi tự nhủ: Chúng mày lấy của tao bao nhiêu lần hai mươi đồng, tao sẽ buộc chúng mày trả lại chừng ấy mạng cho mà xem! Và rồi tôi còn nhiều chuyện khác nữa, tôi sẽ nói cho ông nghe. Thế rồi tôi thấy một anh lính kỵ mã của các ông đang rít tẩu thuốc trên bờ hào, sau vựa cỏ của tôi. Tôi đi lấy cái lưỡi hái và rón rén trở lại phía sau, hắn chẳng nghe thấy gì. Và tôi chém đứt đầu hắn, chỉ một nhát thôi, như phát một bông lúa, hắn không kịp kêu được tiếng ” ối ” nào. Ông cứ tìm dưới ao, ông sẽ thấy xác hắn trong cái túi than, với một tảng đá lấy ở chỗ rào chắn.
Tôi đã có ý định trước. Tôi lấy hết tư trang của hắn , từ ủng đến mũ, đem giấu kín trong lò thạch cao nơi khu rừng Martin, đằng sau sân.
Ông già im tiếng. Những tên sĩ quan sững sờ nhìn nhau. Cuộc thẩm vấn lại tiếp tục, và đây là những gì chúng biết được:
Sau khi hạ sát tên lính xong, ông già sống với ý nghĩ: ” Giết bọn Phổ “. Ông căm thù chúng với lòng căm thù ngấm ngầm và mãnh liệt của người nông dân tham lam và yêu nước nữa. Ông đã có ý định của mình như ông nói. Ông chờ thêm vài ngày.
Ông được chúng cho tự do đi lại, vào ra tuỳ thích vì lâu nay vẫn tỏ ra nhún nhường đối với những kẻ thắng trận , phục tùng và hay chiều ý. Ông thấy cứ tối tối là những tên lính liên lạc ra đi, và một tối, ông cũng đi, sau khi nghe được tên cái làng nơi các kỵ binh sẽ tới, trong khi giao dịch với bọn lính ông đã học được một vài tiếng Đức cần dùng.
Ông ra khỏi làng, lẻn vào rừng, đến lò thạch cao, đi sâu vào con đường hầm và tìm lại bộ quần áo của tên lính chết, ông lấy mặc vào.
Thế rồi ông bắt đầu đi rình rập qua các cánh đồng, bò men theo bờ dốc để ẩn mình, lắng nghe những tiếng động nhỏ nhất, hồi hộp như người đi săn bắt trộm.
Khi ông cảm thấy đã đến giờ, ông tiến gần ra đường cái và nấp trong một bụi rậm. Ông chờ đợi. Cuối cùng, khoảng nửa đêm, có tiếng vó ngựa nện trên nền đất cứng. Ông áp tai xuống đất để biết chắc chỉ có một kỵ binh đang đi tới gần và ông chuẩn bị.
Tên kỵ binh xung kích đi lấy công văn về đang phi nước đại. Y đi tới, mắt trông chừng, tai nghe động tĩnh. Ngay khi y chỉ còn cách mười bước, ông cụ Milon lê ngay ra giữa đường và rên rỉ” Hilfe! Hilfe! Giúp tôi với! Giúp tôi với! ” Tên kỵ binh dừng lại, nhận ra một người Đức bị ngã ngựa, nghĩ là ông ta bị thương, nhảy xuống bước lại gần chẳng chút ngờ vực. Và ngay khi y cúi mình xuống người lạ mặt, y bị lưỡi kiếm dài đâm vào bụng. Y gục xuống, không kịp hấp hối, chỉ giẫy lên vài cái.
Lúc đó, ông già người Normandie, hớn hở một nỗi vui mừng kín đáo của người nông dân già, bèn đứng dậy, và để thoả ý thích, ông cắt cổ xác chết, lôi nó đến rảnh và đẩy xuống.
Con ngựa lặng lẽ đợi chủ. Ông cụ Milon nhảy lên yên và phóng nước đại qua cánh đồng.
Một giờ sau, ông cụ còn thấy hai tên kỵ binh xung kích đi hàng đôi trở về doanh trại. Ông tiến thẳng tới chúng, miệng lại kêu: ” Hilfe! Hilfe! ” . Bọn Phổ để ông tới gần, nhận ra bộ quân phục, chẳng ngờ vực gì. Và ông cụ, nhanh như viên đạn vút qua hai tên lính, hạ sát cả hai bằng gươm và súng.
Rồi ông cắt cổ những con ngựa, những con ngựa Đức. Ông lặng lẽ trở về lò thạch cao, giấu con ngựa ở cuối đường hầm tối tăm. Ông cởi bỏ quân phục, mặc lại bộ quần áo rách rưới rồi trở về giường đánh một giấc tới sáng.
Trong bốn hôm ông không ra khỏi nhà, chờ cho cuộc điều tra kết thúc, nhưng sang ngày thứ năm, ông lại đi và giết thêm hai tên lính nữa cũng bằng mưu kế ấy. Từ đó ông không dừng lại nữa. Đêm đêm ông rình rập, lang thang đây đó, hạ sát những tên Phổ chỗ này, chỗ kia, phóng nước đại qua những cánh đồng hoang, dưới ánh trăng, làm tên kỵ binh xung kích lạc lối, kẻ đi săn người. Rồi khi xong việc, bỏ lại đằng sau những xác chết nằm dọc đường, tay kỵ sĩ già trở về giấu kín con ngựa và bộ quân phục ở phía bên trong cùng lò thạch cao.
Khoảng giữa trưa, ông bình tĩnh đem lúa mạch và nước uống cho con ngựa ở trong đường hầm, ông nuôi nó tận tình vì cần nó làm việc nhiều.
Nhưng hôm qua, một trong những tên bị ông tấn công đã thủ thế và chém một nhát vào mặt ông. Tuy nhiên ông cũng đã giết được cả hai tên.
Ông lại trở về, giấu con ngựa và lấy lại bộ quần áo tồi tàn của mình, nhưng rồi trên đường về, ông bị đuối sức, cố lết về chuồng ngựa và không sao về đến nhà.
Người ta đã tìm thấy ông như thế, người bê bết máu, nằm trên đống rơm.
Kể xong chuyện, ông chợt ngẩng cao đầu kiêu hãnh nhìn đám sĩ qua Phổ.
Tên đại tá vuốt râu mép hỏi ông:
– Cụ không còn gì để nói nữa chứ?
– Không, chả còn gì, tính toán sòng phẳng rồi đấy, tôi giết cả thảy 16 tên, không hơn, không kém.
– Cụ có biết sắp phải chết không?
– Thì tôi có xin các ông tha đâu!
– Trước đây cụ có đi lính không?
– Có, hồi xưa, tôi có ra trận. Và rồi, chính các ông đã giết cha tôi là lính của Hoàng đế đệ nhất. Chưa kể là các ông đã giết François, con thứ của tôi, mới tháng trước đây, ở gần Eineux. Tôi đã mắc nợ các ông, nay tôi đã trả rồi. Thế là chúng ta thanh toán xong nợ nần.
Bọn sĩ quan nhìn nhau.
Ông già nói tiếp:
– Tám đứa cho cha tôi, tám đứa cho con tôi, thế là xong nợ. Tôi đây, tôi không đi tìm các ông để gây sự! Tôi không biết các ông là ai! Thế mà các ông đến ở nhà tôi, ra lệnh y như đang ở nhà các ông vậy. Tôi đã trả thù vào các đứa khác. Tôi không ân hận gì.
Và, ưỡn thẳng thân hình còn đau ê ẩm, ông già khoanh tay trong tư thế một người anh hùng bình dị.
Bọn Phổ nói nhỏ với nhau hồi lâu. Một tên đại uý mới mất con trai tháng trước bênh vực ông lão nghèo khổ cao cả ấy.
Tên đại tá đứng dậy, tiến gần đến cụ Milon, hạ giọng:
– Này, ông già, có lẽ chỉ còn một cách giúp ông thoát chết, đó là…
Nhưng ông cụ không thèm nghe, mắt nhìn thẳng tên sĩ quan thắng trận, trong khi gió phất phơ những sợi lông tơ trên đầu, ông nhăn mặt một cách ghê sợ khiến khuôn mặt gầy gò đang còn vết chém co rúm lại, và rồi, căng phồng ngực, ông lấy hơi nhổ thẳng vào mặt tên Phổ.
Tên đại tá kinh hoảng giơ tay lên và ông cụ lại nhổ vào mặt hắn lần thứ hai.
Tất cả bọn sĩ quan đứng hẳn dậy và đồng loạt ra lệnh.
Chưa tới một phút sau, ông cụ, vẫn bình thản, bị áp sát vào tường và bị bắn, trong khi vẫn mỉm cười với Jean, con trai đầu, với con dâu và hai đứa cháu nhỏ, tất cả đang đứng nhìn, kinh hoàng.

22 tháng 5 1883.

(1) Tức là Chiến tranh Pháp – Phổ ( 19 tháng 7 năm 1870 – 10 tháng 5 năm 1871 ). Ngày 19-7-1870 là ngày Pháp chính thức tuyên chiến với Phổ. Ngày 10-5-1871 là ngày ký Hiệp định Franfurt, kết thúc chiến tranh. Chế độ quân chủ Pháp cáo chung ( Đế chế II ), nền Đệ tam Cộng hoà ra đời.
Maupassant có tham gia cuộc chiến tranh Pháp – Phổ, sau đó có viết nhiều truyện ngắn về đề tài này ( Boule de suif, Mademoiselle Fifi, Deux amis … ), trong đó, ông lên án bọn xâm lược, đồng thời phê phán tầng lớp thượng lưu, quý tộc, chỉ biết quyền lợi riêng, không quan tâm đến số phận dân tộc.

(2) lieue, đơn vị chiều dài cũ, bằng 4.444 m.

THÂN TRỌNG SƠN dịch
nguyên tác : Le père Milon.

(English Version)

Father Milon

Guy De Maupassant

For a month the hot sun has been parching the fields. Nature is expanding beneath its rays; the fields are green as far as the eye can see. The big azure dome of the sky is unclouded. The farms of Normandy, scattered over the plains and surrounded by a belt of tall beeches, look, from a distance, like little woods. On closer view, after lowering the worm-eaten wooden bars, you imagine yourself in an immense garden, for all the ancient apple-trees, as gnarled as the peasants themselves, are in bloom. The sweet scent of their blossoms mingles with the heavy smell of the earth and the penetrating odor of the stables. It is noon. The family is eating under the shade of a pear tree planted in front of the door; father, mother, the four children, and the help–two women and three men are all there. All are silent. The soup is eaten and then a dish of potatoes fried with bacon is brought on.
From time to time one of the women gets up and takes a pitcher down to the cellar to fetch more cider.
The man, a big fellow about forty years old, is watching a grape vine, still bare, which is winding and twisting like a snake along the side of the house.
At last he says: “Father’s vine is budding early this year. Perhaps we may get something from it.”
The woman then turns round and looks, without saying a word.
This vine is planted on the spot where their father had been shot.
It was during the war of 1870. The Prussians were occupying the whole country. General Faidherbe, with the Northern Division of the army, was opposing them.
The Prussians had established their headquarters at this farm. The old farmer to whom it belonged, Father Pierre Milon, had received and quartered them to the best of his ability.
For a month the German vanguard had been in this village. The French remained motionless, ten leagues away; and yet, every night, some of the Uhlans disappeared.
Of all the isolated scouts, of all those who were sent to the outposts, in groups of not more than three, not one ever returned.
They were picked up the next morning in a field or in a ditch. Even their horses were found along the roads with their throats cut.
These murders seemed to be done by the same men, who could never be found.
The country was terrorized. Farmers were shot on suspicion, women were imprisoned; children were frightened in order to try and obtain information. Nothing could be ascertained.
But, one morning, Father Milon was found stretched out in the barn, with a sword gash across his face.
Two Uhlans were found dead about a mile and a half from the farm. One of them was still holding his bloody sword in his hand. He had fought, tried to defend himself. A court-martial was immediately held in the open air, in front of the farm. The old man was brought before it.
He was sixty-eight years old, small, thin, bent, with two big hands resembling the claws of a crab. His colorless hair was sparse and thin, like the down of a young duck, allowing patches of his scalp to be seen. The brown and wrinkled skin of his neck showed big veins which disappeared behind his jaws and came out again at the temples. He had the reputation of being miserly and hard to deal with.
They stood him up between four soldiers, in front of the kitchen table, which had been dragged outside. Five officers and the colonel seated themselves opposite him.
The colonel spoke in French:
“Father Milon, since we have been here we have only had praise for you. You have always been obliging and even attentive to us. But to-day a terrible accusation is hanging over you, and you must clear the matter up. How did you receive that wound on your face?”
The peasant answered nothing.
The colonel continued:
“Your silence accuses you, Father Milon. But I want you to answer me! Do you understand? Do you know who killed the two Uhlans who were found this morning near Calvaire?”
The old man answered clearly
“I did.”
The colonel, surprised, was silent for a minute, looking straight at the prisoner. Father Milon stood impassive, with the stupid look of the peasant, his eyes lowered as though he were talking to the priest. Just one thing betrayed an uneasy mind; he was continually swallowing his saliva, with a visible effort, as though his throat were terribly contracted.
The man’s family, his son Jean, his daughter-in-law and his two grandchildren were standing a few feet behind him, bewildered and affrighted.
The colonel went on:
“Do you also know who killed all the scouts who have been found dead, for a month, throughout the country, every morning?”
The old man answered with the same stupid look:
“I did.”
“You killed them all?”
“Uh huh! I did.”
“You alone? All alone?”
“Uh huh!”
“Tell me how you did it.”
This time the man seemed moved; the necessity for talking any length of time annoyed him visibly. He stammered:
“I dunno! I simply did it.”
The colonel continued:
“I warn you that you will have to tell me everything. You might as well make up your mind right away. How did you begin?”
The man cast a troubled look toward his family, standing close behind him. He hesitated a minute longer, and then suddenly made up his mind to obey the order.
“I was coming home one night at about ten o’clock, the night after you got here. You and your soldiers had taken more than fifty ecus worth of forage from me, as well as a cow and two sheep. I said to myself: ‘As much as they take from you; just so much will you make them pay back.’ And then I had other things on my mind which I will tell you. Just then I noticed one of your soldiers who was smoking his pipe by the ditch behind the barn. I went and got my scythe and crept up slowly behind him, so that he couldn’t hear me. And I cut his head off with one single blow, just as I would a blade of grass, before he could say ‘Booh!’ If you should look at the bottom of the pond, you will find him tied up in a potato-sack, with a stone fastened to it.
“I got an idea. I took all his clothes, from his boots to his cap, and hid them away in the little wood behind the yard.”
The old man stopped. The officers remained speechless, looking at each other. The questioning began again, and this is what they learned.
Once this murder committed, the man had lived with this one thought: “Kill the Prussians!” He hated them with the blind, fierce hate of the greedy yet patriotic peasant. He had his idea, as he said. He waited several days.
He was allowed to go and come as he pleased, because he had shown himself so humble, submissive and obliging to the invaders. Each night he saw the outposts leave. One night he followed them, having heard the name of the village to which the men were going, and having learned the few words of German which he needed for his plan through associating with the soldiers.
He left through the back yard, slipped into the woods, found the dead man’s clothes and put them on. Then he began to crawl through the fields, following along the hedges in order to keep out of sight, listening to the slightest noises, as wary as a poacher.
As soon as he thought the time ripe, he approached the road and hid behind a bush. He waited for a while. Finally, toward midnight, he heard the sound of a galloping horse. The man put his ear to the ground in order to make sure that only one horseman was approaching, then he got ready.
An Uhlan came galloping along, carrying des patches. As he went, he was all eyes and ears. When he was only a few feet away, Father Milon dragged himself across the road, moaning: “Hilfe! Hilfe!” ( Help! Help!) The horseman stopped, and recognizing a German, he thought he was wounded and dismounted, coming nearer without any suspicion, and just as he was leaning over the unknown man, he received, in the pit of his stomach, a heavy thrust from the long curved blade of the sabre. He dropped without suffering pain, quivering only in the final throes. Then the farmer, radiant with the silent joy of an old peasant, got up again, and, for his own pleasure, cut the dead man’s throat. He then dragged the body to the ditch and threw it in.
The horse quietly awaited its master. Father Milon mounted him and started galloping across the plains.
About an hour later he noticed two more Uhlans who were returning home, side by side. He rode straight for them, once more crying “Hilfe! Hilfe!”
The Prussians, recognizing the uniform, let him approach without distrust. The old man passed between them like a cannon-ball, felling them both, one with his sabre and the other with a revolver.
Then he killed the horses, German horses! After that he quickly returned to the woods and hid one of the horses. He left his uniform there and again put on his old clothes; then going back into bed, he slept until morning.
For four days he did not go out, waiting for the inquest to be terminated; but on the fifth day he went out again and killed two more soldiers by the same stratagem. From that time on he did not stop. Each night he wandered about in search of adventure, killing Prussians, sometimes here and sometimes there, galloping through deserted fields, in the moonlight, a lost Uhlan, a hunter of men. Then, his task accomplished, leaving behind him the bodies lying along the roads, the old farmer would return and hide his horse and uniform.
He went, toward noon, to carry oats and water quietly to his mount, and he fed it well as he required from it a great amount of work.
But one of those whom he had attacked the night before, in defending himself slashed the old peasant across the face with his sabre.
However, he had killed them both. He had come back and hidden the horse and put on his ordinary clothes again; but as he reached home he began to feel faint, and had dragged himself as far as the stable, being unable to reach the house.
They had found him there, bleeding, on the straw.
When he had finished his tale, he suddenly lifted up his head and looked proudly at the Prussian officers.
The colonel, who was gnawing at his mustache, asked:
“You have nothing else to say?”
“Nothing more; I have finished my task; I killed sixteen, not one more or less.”
“Do you know that you are going to die?”
“I haven’t asked for mercy.”
“Have you been a soldier?”
“Yes, I served my time. And then, you had killed my father, who was a soldier of the first Emperor. And last month you killed my youngest son, Francois, near Evreux. I owed you one for that; I paid. We are quits.”
The officers were looking at each other.
The old man continued:
“Eight for my father, eight for the boy–we are quits. I did not seek any quarrel with you. I don’t know you. I don’t even know where you come from. And here you are, ordering me about in my home as though it were your own. I took my revenge upon the others. I’m not sorry.”
And, straightening up his bent back, the old man folded his arms in the attitude of a modest hero.
The Prussians talked in a low tone for a long time. One of them, a captain, who had also lost his son the previous month, was defending the poor wretch. Then the colonel arose and, approaching Father Milon, said in a low voice:
“Listen, old man, there is perhaps a way of saving your life, it is to–”
But the man was not listening, and, his eyes fixed on the hated officer, while the wind played with the downy hair on his head, he distorted his slashed face, giving it a truly terrible expression, and, swelling out his chest, he spat, as hard as he could, right in the Prussian’s face.
The colonel, furious, raised his hand, and for the second time the man spat in his face.
All the officers had jumped up and were shrieking orders at the same time.
In less than a minute the old man, still impassive, was pushed up against the wall and shot, looking smilingly the while toward Jean, his eldest son, his daughter-in-law and his two grandchildren, who witnessed this scene in dumb terror.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: